Ca dao tục ngữ về Tết là những câu hát, câu nói dân gian ghi lại không khí đón Tết Nguyên đán, các tục lệ ngày đầu năm và lịch làm ăn của nhà nông quanh tháng Giêng. Bài này chọn 11 câu tiêu biểu, mỗi câu đều đã đối chiếu với ít nhất hai nguồn như Wikipedia, Wikiquote, VietJack và các trang tổng hợp. Các câu chia thành ba nhóm: sắm sửa đón Tết, phong tục ngày Tết, tháng Giêng và thời vụ đầu năm.

Ca dao về không khí sắm sửa đón Tết
Với người Việt, Tết bắt đầu từ trước giao thừa nhiều ngày: dựng cây nêu, gói bánh chưng, đi chợ Tết. Những câu dưới đây giữ lại đúng cái háo hức và cả nỗi lo của mùa cuối năm.
- Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Giải nghĩa: Wikipedia xếp câu này vào loại câu đối dân gian về Tết. Chỉ mười bốn chữ mà kể đủ mâm cỗ (thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng) và cách trang hoàng (câu đối đỏ, cây nêu, tràng pháo). Theo Wikipedia, cây nêu là cây tre cao năm, sáu mét dựng trước nhà, đến mồng 7 tháng Giêng mới hạ trong lễ Khai hạ. Pháo nay đã bị cấm đốt, nhưng câu đối vẫn được nhắc như biểu tượng của “Tết xưa”. - Cu kêu ba tiếng cu kêu
Cho mau đến Tết dựng nêu ăn chè
Giải nghĩa: “cu” là chim cu gáy. Tiếng chim gáy cuối đông như giục Tết đến nhanh hơn để được “dựng nêu”, “ăn chè”. Câu ca dao mang giọng trẻ con mong Tết, hồn nhiên và rất thật. Cu kêu ba tiếng cu kêu
Mong cho Tết đến dựng nêu ăn chè Cu kêu ba tiếng cu kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè - Anh Hai anh tính đi mô
Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều
Giải nghĩa: “mô” là “đâu” trong giọng miền Trung. Khô cá thiều là cá thiều phơi hoặc tẩm gia vị, món nhắm quen thuộc của dân miền biển. Câu hỏi đáp ngắn gọn cho thấy cảnh nhà nhà đi chợ Tết sắm đồ ăn để dành. - Số cô chẳng giàu thì nghèo
Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà
Giải nghĩa: đây là lời “phán” của một ông thầy bói. Nói số cô “chẳng giàu thì nghèo” là nói như không, còn ngày ba mươi Tết thì nhà nào chẳng có miếng thịt treo. Câu ca dao mượn chuyện Tết để chế giễu kiểu bói toán nói nước đôi. Bài này từng được dạy trong sách Ngữ văn 7 chương trình cũ, phần những câu hát châm biếm. - Bánh chưng Cầu Hậu, cháo đậu Quán Lào
Giải nghĩa: câu tục ngữ theo lối “món ăn + địa danh”, khen bánh chưng ở Cầu Hậu và cháo đậu ở Quán Lào. Hai địa danh này các tài liệu phổ thông không ghi rõ vị trí, nhưng câu nói cho thấy bánh chưng không chỉ là món của ngày Tết mà còn trở thành đặc sản riêng của từng vùng.
Ca dao, tục ngữ về phong tục ngày Tết
Ba ngày Tết có trật tự riêng: thăm ai trước, kiêng gì, mua gì. Tục ngữ ghi lại trật tự đó gọn đến mức trẻ con cũng thuộc.
- Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy
Giải nghĩa: ngày mồng một dành cho bên nội, mồng hai sang bên ngoại, mồng ba học trò đến chúc Tết thầy. Thứ tự này đặt chữ hiếu lên trước, rồi đến lòng biết ơn người dạy dỗ. Dân gian còn có câu lục bát nói cùng ý theo phía người đàn ông đã có vợ: Mùng Một thì ở nhà cha
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy - Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi
Giải nghĩa: muối mặn, gợi tình cảm “mặn mà”, gắn bó, nên người xưa thích mua vào đầu năm; nhiều nơi còn rắc muối để trừ điều xấu. Vôi thì để cuối năm: quét vôi, rắc vôi dọn nhà, còn đầu năm thường kiêng mua vôi. Câu tục ngữ cho thấy cách người Việt gửi mong ước vào cả những món đồ bình thường.

Ca dao, tục ngữ về tháng Giêng và thời vụ đầu năm
Tết rơi vào lúc nông nhàn, giữa vụ gặt cuối năm và vụ cấy mới. Vì vậy ca dao về Tết thường đi liền với lịch làm ăn: vui thì vui, nhưng qua tháng Giêng là phải ra đồng.
- Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Giải nghĩa: tháng Giêng có Tết, có hội làng, nên được nghỉ ngơi “ăn chơi”. Sang tháng hai thì bắt tay trồng màu: đậu, khoai, cà. Câu ca dao là đoạn mở đầu của một bài ca dao kể việc đồng áng theo từng tháng. Ngày nay câu “tháng Giêng là tháng ăn chơi” hay bị trích riêng để phê phán thói kéo dài kỳ nghỉ, trong khi bản đầy đủ lại nhắc chuyện làm ăn ngay sau đó. - Tháng giêng ăn tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè
Giải nghĩa: một bài kể tháng khác lại giọng hóm hỉnh, kể chuyện chơi suốt ba tháng đầu năm. Đặt cạnh câu trên, ta thấy dân gian vừa ghi lại thói ham vui sau Tết, vừa ngầm chê người lười làm. - Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng
Giải nghĩa: “giêng” là tháng Giêng, “rằm” là ngày mười lăm. Qua tháng Giêng thì cảm giác năm đã trôi đi, qua ngày rằm thì tháng đã gần hết. Câu tục ngữ nói về tốc độ của thời gian và nhắc người ta đừng mải chơi đầu năm. - Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc
Giải nghĩa: câu tục ngữ thời tiết của đồng bằng Bắc Bộ. Tháng Giêng còn rét lúc cây đang ra nụ, đài hoa; sang tháng hai rét nhẹ hơn, đúng lúc cây đâm chồi nảy lộc. Nhà nông dựa vào đó để biết khi nào gieo trồng.
Những câu hay bị nhầm là ca dao về Tết
Mỗi dịp Tết, nhiều bài viết gộp thơ có tác giả với ca dao. Một vài trường hợp nên lưu ý:
- Đoạn lục bát “Tết về, nhớ bánh chưng xanh / Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà…” rất giống ca dao, nhưng Wikipedia bài Tết Nguyên Đán ghi là của nhà thơ Bàng Bá Lân, trích bài “Tết xưa”.
- Bài “Ông đồ” (“Mỗi năm hoa đào nở / Lại thấy ông đồ già”) là thơ của Vũ Đình Liên, không phải ca dao. Xem thêm bài soạn bài Ông đồ.
- Nhiều câu như “Ba ngày Tết, bảy ngày xuân” hay “Dửng dưng như bánh chưng ngày Tết” rất quen miệng, nhưng chúng tôi mới chỉ thấy ở các trang tổng hợp nên chưa đưa vào danh sách chính.
Ý nghĩa và giá trị của ca dao, tục ngữ về Tết
Ghi lại phong tục đón năm mới
Cây nêu, câu đối, bánh chưng, thứ tự chúc Tết nội, ngoại, thầy… đều được ca dao, tục ngữ giữ lại bằng những câu ngắn dễ nhớ. Nhờ vậy, nhiều tục lệ đã mai một ở thành phố vẫn còn sống trong lời nói.
Gắn Tết với nhịp làm ăn của nhà nông
Ca dao về Tết không tách khỏi ruộng đồng. Ngay sau những ngày vui là lời nhắc trồng đậu, trồng khoai, lo vụ mới. Đó là cách nhìn rất thực tế của người làm nông.
Giọng điệu vui mà sâu
Có câu hồn nhiên như tiếng trẻ mong Tết, có câu châm biếm thầy bói, có câu nhắc khéo người ham chơi. Cái vui ngày Tết trong ca dao luôn đi kèm một bài học nhỏ về cách sống.
Ca dao về Tết trong sách giáo khoa
- Ngữ văn 7 chương trình cũ: bài ca dao châm biếm thầy bói “Số cô chẳng giàu thì nghèo…”.
- Các bài học về Tết ở tiểu học thường đi kèm truyện cổ tích như Sự tích cây nêu ngày Tết, rất hợp để đọc cùng câu “Cu kêu ba tiếng cu kêu”.
Câu hỏi thường gặp
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ” là ca dao hay câu đối?
Về hình thức, đây là một câu đối hai vế bảy chữ, Wikipedia gọi là câu đối dân gian. Vì không có tác giả và được truyền miệng rộng rãi, câu này thường được xếp chung với ca dao, tục ngữ về Tết.
Vì sao nói “tháng Giêng là tháng ăn chơi”?
Vì tháng Giêng là lúc nông nhàn, có Tết và nhiều lễ hội. Câu đầy đủ còn nối “tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà”, tức là chơi xong phải bắt tay làm ngay.
Mồng một Tết nên đi chúc Tết ai trước?
Theo câu tục ngữ “Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy”, ngày đầu năm dành cho bên nội, rồi đến bên ngoại và thầy cô. Ngày nay nhiều gia đình linh hoạt hơn, nhưng thứ tự này vẫn được nhắc như một nếp nhà.
Có bài thơ nào về Tết để đọc thêm không?
Bạn có thể đọc tuyển tập thơ về Tết hoặc tìm hiểu nguồn gốc ngày lễ trong bài Tết Nguyên Đán là gì.
Lời kết
Mười một câu ca dao tục ngữ về Tết ở trên vừa ghi lại mâm cỗ, cây nêu, chợ Tết, vừa nhắc nhịp làm ăn ngay sau những ngày vui. Bạn có thể đọc thêm ca dao theo các chủ đề khác trong chuyên mục ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam.