Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là văn bản đọc có mặt ở cả ba bộ sách: Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (Bài 9 “Lựa chọn và hành động”), Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo và Ngữ văn 12 Cánh diều. Bài viết tổng hợp kiến thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy để các em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Bài văn tế viết bằng chữ Nôm theo lối biền ngẫu, gồm khoảng ba mươi câu (mỗi câu thường hai vế đối nhau). Dưới đây là mạch nội dung theo từng phần kèm những câu tiêu biểu; toàn văn và lời giải chi tiết có trong bài soạn ở cuối trang.

Phần mở đầu là tiếng than “Hỡi ôi!” rồi hai vế đối khái quát cả thời cuộc: súng giặc rền vang mặt đất, nhưng lòng dân sáng tỏ như trời. Tác giả khẳng định người nông dân chỉ đánh một trận mà để lại tiếng thơm lâu dài.
Phần hồi tưởng kể về người nghĩa sĩ: vốn là nông dân nghèo, “Cui cút làm ăn”, quen việc ruộng đồng, chưa từng biết binh đao. Khi giặc đến, họ căm ghét giặc “như nhà nông ghét cỏ”, tự nguyện đứng lên “Nào đợi ai đòi ai bắt”. Vào trận, họ chỉ có “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, “dao phay” mà vẫn “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, đốt nhà dạy đạo, chém đầu quan hai.
Phần than tiếc bày tỏ nỗi đau trước sự hi sinh: cỏ cây sông Cần Giuộc “mấy dặm sầu giăng”, người già trẻ ở chợ Trường Bình rơi lệ; mẹ già khóc con, vợ yếu tìm chồng. Tác giả khẳng định lựa chọn của nghĩa sĩ: thà chết mà giữ khí phách còn hơn sống theo giặc.
Phần kết ca ngợi linh hồn bất tử của nghĩa sĩ – “Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ” – và khép lại bằng lời mời linh hồn về hưởng lễ: “Hỡi ôi, thương thay! Có linh xin hưởng.”
Thông tin tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi mù lấy hiệu Hối Trai; nhân dân quen gọi là cụ Đồ Chiểu. Ông sinh ở làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), quê cha ở Thừa Thiên.
Năm 1843, ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 1849, khi đang ở Huế chuẩn bị thi tiếp thì được tin mẹ mất, ông bỏ thi về Nam chịu tang; dọc đường bị đau mắt nặng rồi mù cả hai mắt. Không gục ngã, ông về Gia Định mở lớp dạy chữ, làm thuốc cứu người và sáng tác thơ văn. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kì, ông tích cực liên hệ với các thủ lĩnh nghĩa quân, bàn việc đánh giặc; khi giặc chiếm ba tỉnh miền Đông, ông về sống ở Ba Tri (Bến Tre), một mực khước từ mọi sự mua chuộc của kẻ thù cho đến lúc mất.
Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có hai giai đoạn. Trước khi Pháp xâm lược, ông viết truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, đề cao đạo lí nhân nghĩa. Sau khi Pháp đến, thơ văn ông trở thành vũ khí chống giặc: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Ngư Tiều y thuật vấn đáp…
Về nghệ thuật, thơ văn ông giàu tính trữ tình đạo đức, nghiêng về lối kể chuyện, rất hợp để đọc, ngâm, kể trước đông người, và đậm đà sắc thái Nam Bộ trong ngôn ngữ, hình ảnh. Ông được coi là ngôi sao sáng của văn học yêu nước nửa sau thế kỉ XIX.
Thông tin tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp khi học và ôn tập văn bản.
Hoàn cảnh sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Tháng 12 năm 1861 (các tài liệu ghi đêm 14 hoặc 16), nghĩa quân – phần lớn là nông dân – tập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc (nay thuộc Long An), giết được một số lính Pháp và lính đánh thuê, nhưng khoảng hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh. Tuần phủ Gia Định Đỗ Quang cho làm lễ tế những người đã khuất; Nguyễn Đình Chiểu được nhờ soạn bài văn tế. Tác phẩm vì thế ra đời ngay trong năm 1861, giữa những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Nam Kì, và nhanh chóng được truyền tụng rộng rãi.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thuộc thể loại gì?
Tác phẩm thuộc thể văn tế – loại văn gắn với phong tục tang lễ, dùng để đọc khi tế người đã mất, bày tỏ lòng tiếc thương và ngợi ca công đức người chết. Bài viết theo lối biền ngẫu (câu văn hai vế đối nhau, có vần, có nhịp), viết bằng chữ Nôm.
Phương thức biểu đạt
Phương thức chính là biểu cảm, kết hợp tự sự (kể cuộc đời, trận đánh của nghĩa sĩ) và miêu tả.
Bố cục Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có mấy phần?
Bài văn tế có 4 phần theo kết cấu quen thuộc của thể văn tế:
- Lung khởi (từ đầu đến “tiếng vang như mõ”): khái quát bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết của người nông dân nghĩa sĩ.
- Thích thực (từ “Nhớ linh xưa” đến “tàu đồng súng nổ”): hồi tưởng cuộc đời, phẩm chất và chiến công của nghĩa sĩ.
- Ai vãn (từ “Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng” đến “dật dờ trước ngõ”): niềm thương tiếc của tác giả, gia đình và nhân dân.
- Kết (phần còn lại): ca ngợi linh hồn bất tử của nghĩa sĩ, lời mời về hưởng lễ.
Giá trị nội dung
- Dựng nên bức tượng đài nghệ thuật về người nông dân nghĩa sĩ: xuất thân bình dị, giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, dũng cảm xả thân vì nghĩa.
- Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân đứng ở vị trí trung tâm của tác phẩm với tư cách người anh hùng cứu nước.
- Là tiếng khóc lớn cho một thời kì lịch sử đau thương mà vĩ đại; khẳng định lẽ sống “chết vinh còn hơn sống nhục”, tiếp thêm ý chí cho những người còn sống tiếp tục đánh giặc.
Giá trị nghệ thuật
- Vận dụng thành công thể văn tế biền ngẫu, câu văn đối chỉnh mà vẫn tự nhiên.
- Kết hợp chất trữ tình sâu lắng với chất hiện thực và âm hưởng sử thi, tạo giọng điệu bi tráng.
- Nghệ thuật tương phản (nông dân – giặc chuyên nghiệp, vũ khí thô sơ – súng tàu hiện đại), liệt kê, hệ thống động từ mạnh.
- Ngôn ngữ vừa trang trọng (từ Hán Việt, điển cố) vừa mộc mạc, đậm chất Nam Bộ (“cui cút”, “tầm vông”, “rơm con cúi”, “dao phay”).
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề nêu rõ thể loại (văn tế), đối tượng được tế (những nghĩa sĩ) và địa danh gắn với trận đánh (Cần Giuộc). Gọi những người nông dân là “nghĩa sĩ” – người hi sinh vì việc nghĩa – đã là sự tôn vinh lớn của tác giả dành cho họ.
Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Sơ đồ dưới đây tóm tắt sáu nhóm kiến thức chính để các em ghi nhớ.

Lời kết
Bài tổng hợp tác giả, tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc giúp các em nắm chắc cuộc đời cụ Đồ Chiểu, hoàn cảnh ra đời, bố cục bốn phần và giá trị của bài văn tế bất hủ này. Khi học, các em nên kết hợp với bài soạn để đọc toàn văn và trả lời câu hỏi theo bộ sách của mình.
Đến tuần ôn tập, em có thể mở bài ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Kết nối tri thức để làm lại các câu hỏi cuối kì trong sách.
Xem thêm: