Trống đồng Đông Sơn là loại trống đúc bằng hợp kim đồng của cư dân văn hóa Đông Sơn, nền văn hóa thời kim khí ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam, xuất hiện cách đây hơn hai nghìn năm. Sách khảo cổ còn gọi nó là trống Heger loại I. Người ta hỏi “trống đồng là gì” thường cũng là hỏi về loại trống này, vì đây là chiếc trống đồng cổ nhất và đẹp nhất.
| Nghĩa | Trống đồng cổ thuộc văn hóa Đông Sơn, còn gọi trống Heger I |
| Tên gọi | Lấy theo làng Đông Sơn bên sông Mã (Thanh Hóa), nơi tìm thấy di vật năm 1924 |
| Niên đại | Từ khoảng thế kỷ VII–VI trước Công nguyên đến vài thế kỷ đầu Công nguyên |
| Chiếc tiêu biểu | Trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ (bảo vật quốc gia, công nhận năm 2012) |

Vì sao gọi là trống đồng Đông Sơn?
Đông Sơn vốn là tên một làng nhỏ ven sông Mã, nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Năm 1924, một người dân trong làng nhặt được nhiều đồ đồng lộ ra bên bờ sông. Tin ấy đến tai một viên chức người Pháp mê khảo cổ là L. Pajot, và ông đứng ra đào bới khu đất này. Đồ đồng, đồ gốm, vũ khí, trống đồng lần lượt hiện ra. Giới nghiên cứu lấy tên làng đặt cho cả một nền văn hóa, rồi loại trống tiêu biểu của nền văn hóa ấy cũng mang tên theo.
Vậy nên trong cụm từ này, mỗi chữ làm một việc. Trống nói công dụng, đồng nói chất liệu, Đông Sơn nói thời đại và nền văn hóa sinh ra nó. Một chiếc trống đồng đúc ở thế kỷ XVIII không phải trống Đông Sơn, dù nó cũng làm bằng đồng.
Cái tên thứ hai, trống Heger I, đến từ Franz Heger, một nhà nghiên cứu người Áo. Năm 1902 ông in cuốn sách về các trống kim loại cổ vùng Đông Nam Á, chia chúng làm bốn loại theo thứ tự từ cổ đến muộn. Loại I, cổ nhất, chính là trống Đông Sơn. Cách chia này đến nay vẫn được dùng rộng rãi.
Một chiếc trống của cư dân trồng lúa
Người Đông Sơn sống dọc các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Họ làm ruộng nước, đánh cá, đi thuyền và đã đúc đồng rất thạo. Hình người cầm cày, cảnh giã gạo, nhà sàn mái cong khắc trên trống cho thấy một xã hội nông nghiệp đã khá phát triển.
Chiếc lớn cao chừng sáu mươi phân, nặng xấp xỉ một tạ. Đúc được một khối đồng như thế, lại chạm hoa văn mảnh như sợi chỉ, là việc rất khó với kỹ thuật thời ấy. Đến nay đã tìm được hàng trăm chiếc trống loại này, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở Lào, Thái Lan, miền nam Trung Quốc, Malaysia, Indonesia. Nhiều nhà nghiên cứu xem đó là dấu vết của những con đường trao đổi rất xa từ thời cổ.
Nổi tiếng nhất là trống Ngọc Lũ, tìm thấy ở Hà Nam vào cuối thế kỷ XIX. Mặt trống có nhiều vành hoa văn kín đặc: người múa đội mũ lông chim, người giã gạo, người đánh trống, đàn chim bay, hươu nai. Năm 2012, trống Ngọc Lũ cùng trống Hoàng Hạ được công nhận là bảo vật quốc gia trong đợt đầu tiên và đang được lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Người xưa đánh trống đồng vào dịp nào?
Trước hết, trống đồng là một nhạc cụ. Hình khắc trên chính các mặt trống cho thấy người ta đặt trống trên giá, có khi mấy chiếc thành một dàn, người đánh cầm chày dài nện xuống. Tiếng trống vang lên trong những dịp quan trọng của cộng đồng:
- lễ hội cầu mưa, cầu được mùa của cư dân trồng lúa;
- đám cưới, đám tang và những nghi lễ tế thần;
- hiệu lệnh tập hợp, thúc quân khi có chiến trận.
Ngoài tiếng trống, bản thân chiếc trống còn là một thứ của quý. Có trống được chôn theo người chết trong các mộ táng ở Đông Sơn. Có trống là vật thể hiện quyền thế của thủ lĩnh, ai giữ được nhiều trống thì uy càng lớn. Sau này, có nơi đào được trống cổ lại đem vào đền để thờ.
Cách trang trí cũng theo một trật tự rõ. Giữa mặt trống luôn là ngôi sao nhiều cánh, nhiều người hiểu đó là hình mặt trời. Từ ngôi sao tỏa ra các vòng tròn đồng tâm, xen giữa là hoa văn hình học và các vành người, chim, thú. Thân trống thường khắc những con thuyền dài chở người cầm vũ khí. Một mặt trống, đọc kỹ, gần như một bức tranh về đời sống của người Việt cổ.
Trống đồng, trống Đông Sơn và văn hóa Đông Sơn
| Từ | Chỉ cái gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Trống đồng | Mọi loại trống đúc bằng đồng, thuộc nhiều thời kỳ và nhiều dân tộc | Bốn loại Heger I–IV |
| Trống đồng Đông Sơn | Riêng loại trống Heger I của cư dân văn hóa Đông Sơn | Trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ |
| Văn hóa Đông Sơn | Cả một nền văn hóa cổ, gồm nhiều loại hiện vật | Thạp đồng, rìu, dao găm, đồ trang sức |
Nhầm thường gặp nhất là gọi mọi chiếc trống đồng là trống Đông Sơn. Một nhầm khác là coi trống và thạp như nhau: thạp đồng là đồ đựng hình ống, có nắp, cũng được trang trí rất đẹp, nhưng không dùng để đánh. Muốn hiểu vì sao các hiện vật này được xếp vào kho báu chung của dân tộc, có thể đọc thêm bài giải nghĩa khái niệm di sản văn hóa.
Trống đồng trong trang sách Tiếng Việt
Học sinh lớp 4 gặp chiếc trống này qua bài đọc Trống đồng Đông Sơn của Nguyễn Văn Huyện. Bài văn ngắn đi từ ngôi sao giữa mặt trống ra dần các vành hoa văn, rồi dừng lại ở hình ảnh con người lao động, đánh trống, nhảy múa giữa cánh cò, chim Lạc. Câu hỏi và gợi ý trả lời có ở bài soạn Trống đồng Đông Sơn, Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo.
Văn hóa Đông Sơn trùng với thời kỳ mà sử sách và truyền thuyết gọi là thời các vua Hùng. Đặt bài đọc ấy cạnh truyện Con Rồng cháu Tiên, học trò sẽ có hai cách nhìn về buổi đầu của người Việt: một bên là hiện vật đào lên từ đất, một bên là lời kể truyền miệng.
Một lưu ý nhỏ khi viết: “Đông Sơn” là tên riêng nên viết hoa cả hai chữ, còn “trống đồng” viết thường. Viết “Trống Đồng Đông Sơn” hay “trống đồng đông sơn” đều chưa đúng quy tắc.
Năm điều học trò hay đem ra đố nhau
Trống đồng Đông Sơn có từ bao giờ?
Những chiếc sớm nhất xuất hiện khoảng thế kỷ VII–VI trước Công nguyên, và trống loại này còn được đúc đến vài thế kỷ đầu Công nguyên. Tức là cách nay khoảng hai nghìn đến hai nghìn sáu trăm năm.
Trống đồng Đông Sơn được tìm thấy ở đâu?
Nhiều nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, dọc sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Ngoài Việt Nam, trống cùng loại còn được tìm thấy ở nhiều nước Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc.
Ý nghĩa trống đồng Đông Sơn là gì?
Trống cho biết người Việt cổ đã đúc đồng rất giỏi, sống bằng nghề lúa nước và có đời sống lễ hội phong phú. Hoa văn trên trống là nguồn tư liệu quý để hiểu nhà ở, trang phục, thuyền bè, vũ khí thời ấy.
Hoa văn trống đồng Đông Sơn gồm những gì?
Ở giữa là ngôi sao nhiều cánh, quanh đó là các vòng tròn đồng tâm với hoa văn hình học, rồi đến các vành người múa, giã gạo, đánh trống, chim bay, hươu nai. Thân trống thường khắc thuyền và người cầm vũ khí.
Trống đồng Đông Sơn đẹp nhất là chiếc nào?
Thường được nhắc là trống Ngọc Lũ, vì to, cổ và có hoa văn dày đặc, sắc nét nhất. Trống này được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2012.