Tóm tắt Dục Thúy sơn (Núi Dục Thúy) giúp em nắm nhanh nội dung bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, rút từ Ức Trai thi tập. Bài thơ là văn bản đọc trong Ngữ văn 10 Kết nối tri thức (tập hai, Bài 6) và là văn bản đọc mở rộng trong Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo (tập hai, Bài 7). Với thơ trữ tình, bản tóm tắt tập trung vào vẻ đẹp của núi Dục Thúy và nỗi niềm của nhà thơ theo bố cục bài.
Phần phiên âm của bài thơ:
Hải khẩu hữu tiên san,
Tiền niên lũ vãng hoàn.
Liên hoa phù thuỷ thượng,
Tiên cảnh truỵ trần gian.
Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thuý hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
Bi khắc tiển hoa ban.
Câu 4 có bản chép nhân gian thay cho trần gian, nghĩa không đổi. Sách giáo khoa dùng bản dịch thơ của Khương Hữu Dụng; bản dịch còn trong thời hạn bảo hộ nên bài viết chỉ trích bốn câu đầu:
Cửa biển có non tiên
Từng qua lại mấy phen
Cảnh tiên rơi cõi tục
Mặt nước nổi hoa sen
Ý nghĩa bốn câu sau (diễn xuôi): bóng tháp trên núi soi xuống nước như chiếc trâm ngọc xanh; ánh sóng lấp lánh như tấm gương soi mái tóc biếc; nhà thơ chạnh nhớ ông Trương Thiếu Bảo (Trương Hán Siêu), tấm bia khắc thơ văn của ông nay đã lốm đốm rêu. Toàn văn bản dịch và phần trả lời câu hỏi em xem trong bài soạn bài Dục Thúy sơn.
Sơ đồ tư duy tóm tắt Dục Thúy sơn
Sơ đồ tóm lược xuất xứ, thể thơ, bố cục và nội dung chính của bài thơ.


Tóm tắt Dục Thúy sơn ngắn nhất – mẫu 1
Bài thơ ca ngợi núi Dục Thúy ở cửa biển như một cảnh tiên giữa trần gian: dáng núi như đóa sen nổi trên mặt nước, bóng tháp như trâm ngọc, ánh sóng như gương soi mái tóc biếc. Khép lại, Nguyễn Trãi bồi hồi nhớ Trương Hán Siêu khi thấy tấm bia khắc thơ của ông đã phủ rêu.
Tóm tắt nội dung bài thơ Dục Thúy sơn trong một đoạn – mẫu 2
Nguyễn Trãi kể rằng ở nơi cửa biển có một ngọn núi đẹp như núi tiên, nơi ông đã nhiều lần qua lại trong những năm trước. Nhìn từ xa, núi tựa đóa hoa sen nổi giữa mặt nước, như cõi tiên rơi xuống chốn trần. Nhìn gần hơn, ngọn tháp trên núi in bóng xuống dòng nước như cây trâm cài bằng ngọc xanh, còn ánh sáng trên sóng phản chiếu bóng núi như tấm gương soi mái tóc biếc của người con gái. Ngắm cảnh đẹp ấy, nhà thơ chạnh lòng nhớ tới Trương Thiếu Bảo – danh sĩ đời Trần từng đặt tên và gắn bó với ngọn núi – khi thấy tấm bia khắc thơ văn của ông nay đã lốm đốm rêu phong. Bài thơ vừa là bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp, vừa là nỗi hoài cổ, tấm lòng tri ân người xưa của Nguyễn Trãi.
Tóm tắt Dục Thúy sơn theo bố cục 3 phần – mẫu 3
- Hai câu đầu – giới thiệu núi Dục Thúy: ngọn núi tiên ở cửa biển, nơi nhà thơ đã nhiều lần qua lại.
- Bốn câu giữa – vẻ đẹp của núi: toàn cảnh như đóa sen nổi trên nước, như cảnh tiên giữa cõi người; cận cảnh bóng tháp như trâm ngọc xanh, ánh sóng như gương soi tóc biếc.
- Hai câu cuối – nỗi niềm của nhà thơ: nhớ Trương Hán Siêu, xót xa khi tấm bia khắc thơ ông đã phủ rêu.
Tóm tắt Dục Thúy sơn theo từng cặp câu – mẫu 4
- Câu 1–2: cửa biển có ngọn núi tiên, những năm trước nhà thơ từng nhiều lần qua lại – núi đã thành người quen.
- Câu 3–4: núi như đóa sen nổi trên mặt nước, như cảnh tiên rơi xuống cõi trần – so sánh vừa tả đúng hình dáng núi giữa sông nước, vừa gợi vẻ thanh cao.
- Câu 5–6: bóng tháp như trâm ngọc xanh, ánh sóng như gương soi tóc biếc – núi hiện lên như một người con gái đẹp đang soi mình bên dòng nước.
- Câu 7–8: nhớ Trương Thiếu Bảo, bia khắc đã lốm đốm rêu – thiên nhiên còn mãi, người xưa đã khuất, gợi nỗi cảm hoài về thời gian.
Tóm tắt Dục Thúy sơn kèm xuất xứ, hoàn cảnh – mẫu 5
Núi Dục Thúy nay là núi Non Nước ở Ninh Bình, nằm nơi sông Vân đổ vào sông Đáy; xưa kia vùng này còn là cửa biển. Theo nguyên chú của bài thơ, núi vốn có tên Thủy sơn (núi Nước), Trương Hán Siêu đổi gọi là Dục Thúy và cuối đời về ở đây, từng khắc thơ vào vách đá. Nguyễn Trãi viết bài thơ bằng chữ Hán theo thể ngũ ngôn bát cú, in trong Ức Trai thi tập.
Mở đầu, nhà thơ giới thiệu ngọn núi ở cửa biển như một ngọn núi tiên và cho biết mình đã nhiều lần đến đây, nên lần trở lại này là dịp ngắm kĩ một cảnh đã quen mà vẫn còn mới. Từ xa, núi hiện ra như đóa sen khổng lồ nổi giữa mặt nước; cả vùng sông núi như cảnh tiên lạc xuống trần gian. Hình ảnh hoa sen vừa đúng với dáng núi giữa dòng, vừa gợi vẻ thanh khiết, cao quý.
Đến gần, nhà thơ chú ý đến ngọn tháp trên núi: bóng tháp in xuống nước như cây trâm ngọc xanh. Ánh sáng lấp lánh trên sóng lại như tấm gương soi mái tóc xanh biếc. Trâm, gương, tóc gợi dáng một người thiếu nữ, cho thấy cái nhìn tươi trẻ, đầy chất nghệ sĩ của Ức Trai khi đứng trước thiên nhiên.
Hai câu cuối, cảm xúc chuyển sang hoài niệm. Nhà thơ nhớ tới Trương Thiếu Bảo, tức Trương Hán Siêu – danh sĩ đời Trần gắn bó với núi Dục Thúy. Tấm bia khắc thơ văn của ông giờ đã loang lổ rêu. Cảnh cũ còn đó, người xưa đã xa, để lại nỗi bùi ngùi về dòng thời gian và lòng trân trọng những bậc tiền nhân đã làm đẹp cho non sông.
Tóm tắt Dục Thúy sơn bằng lời nhà thơ – mẫu 6
Nơi cửa biển có một ngọn núi đẹp như núi tiên. Những năm trước, ta đã bao lần qua lại chốn này. Hôm nay nhìn lại, ta vẫn thấy núi như một đóa sen nổi trên mặt nước, như cảnh tiên lạc xuống cõi người.
Ngọn tháp trên núi in bóng xuống dòng, trông như cây trâm ngọc xanh; ánh sóng lấp lánh như tấm gương soi mái tóc biếc. Đứng giữa cảnh ấy, ta bỗng nhớ ông Trương Thiếu Bảo, người từng yêu và gắn bó với ngọn núi này. Tấm bia khắc thơ văn của ông nay đã lốm đốm rêu phong, lòng ta không khỏi bồi hồi.
Kết luận
Khi tóm tắt Dục Thúy sơn, em cần nêu đủ hai ý chính: vẻ đẹp kì thú của núi Dục Thúy (qua các hình ảnh sen, trâm ngọc, gương soi tóc biếc) và nỗi nhớ Trương Hán Siêu ở hai câu kết. Nên chú ý bản dịch thơ đã đảo vị trí câu 3 và câu 4 so với nguyên tác để hiệp vần, vì vậy khi tóm tắt theo từng câu, em hãy bám vào phần phiên âm và dịch nghĩa.
Xem thêm: