Và tôi vẫn muốn mẹ… là văn bản kí trích từ cuốn Những nhân chứng cuối cùng của Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích – nhà văn, nhà báo Bê-la-rút đoạt giải Nobel Văn học năm 2015. Văn bản được học ở Bài 7 (Ghi chép và tưởng tượng trong kí) sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập hai. Bài viết dưới đây tổng hợp những gì em cần nắm: nội dung văn bản, tiểu sử và phong cách tác giả, xuất xứ, thể loại, ngôi kể, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề, sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt ngắn.
Nội dung văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
Văn bản là lời kể của Din-na Cô-si-ắc (Zina Kosyak): khi chiến tranh nổ ra bà mới tám tuổi, lúc trò chuyện với tác giả bà đang làm thợ cắt tóc. Bản dịch tiếng Việt của Phan Xuân Loan (NXB Phụ nữ, 2017) vẫn còn được bảo hộ bản quyền, nên ở đây Văn VN chỉ lược thuật theo trình tự lời kể và trích vài câu ngắn; toàn văn em đọc trong SGK, còn lời giải câu hỏi em xem ở bài soạn bài Và tôi vẫn muốn mẹ….

Chuyến đi trại hè biến thành cuộc sơ tán. Tháng Năm năm 1941, cô bé Din-na học xong lớp Một và được ba mẹ tiễn đi trại hè đội viên gần Min-xcơ. Mới được vài ngày thì chiến tranh ập đến. Bọn trẻ được đưa lên tàu, thấy máy bay Đức bay qua đầu còn hò reo vì chưa hiểu gì, cho đến khi bom rơi xuống: “Khi đó tất cả màu sắc đều biến mất.” Từ lúc ấy, chữ “chết chóc” xuất hiện trong đời những đứa trẻ, còn ba mẹ thì không ở bên.
Những ngày trên tàu. Mỗi đứa trẻ được nhét vào áo gối một ít ngũ cốc hoặc đường để ăn dè sẻn dọc đường, nhưng gặp thương binh rên la trên tàu, chúng chỉ muốn đem cho hết. Tin Min-xcơ bị đốt cháy, quân Đức chiếm đóng khiến đoàn tàu phải chạy suốt cả tháng; hễ gần tới thành phố nào thì quân Đức lại áp sát, và cuối cùng bọn trẻ dừng chân ở Mô-đô-vi-a.
Đói khát và nỗi nhớ mẹ ở trại trẻ mồ côi. Không có giường, lũ trẻ ngủ trên rơm; mùa đông, bốn đứa phải dùng chung một đôi ủng. Trại có hai trăm năm mươi đứa trẻ, có bữa trưa không còn gì để ăn. Người lớn đành giết con ngựa già Mai-ca vẫn dùng để chở nước và giấu bọn trẻ rất lâu. Sang xuân, chúng ăn chồi non, tước vỏ cây, ăn cỏ, khoét túi áo để đựng cỏ nhai dần. Khoảng bốn mươi đứa nhỏ nhất được cho ở riêng, đêm nào cũng khóc gọi ba mẹ; người lớn phải tránh nhắc đến chữ mẹ, chỉ chọn những cuốn sách không có từ ấy.
Trốn trại đi tìm mẹ. Lên lớp Ba, Din-na bỏ trại ra đi tìm mẹ, kiệt sức trong rừng và được ông lão Bôn-sa-cốp mang về nhà. Cô sống cùng hai ông bà, làm cỏ, đào khoai, ăn thứ bánh mì độn đủ thứ rau cỏ, đắng ngắt. Cô vẫn nhớ một bé gái đói đến mức ngồi canh hang chuột, nhớ những nồi nước tầm ma mỗi nhà để sẵn cho người tản cư, và lần nào gặp họ cô cũng hỏi có ai gặp mẹ mình không.
Chiến tranh kết thúc, mẹ không trở về. Chờ suốt hai tuần không ai đến đón, cô bé trốn dưới gầm ghế một con tàu, tin rằng tàu nào cũng về Min-xcơ, nơi mẹ đang đợi. Nhưng ba mẹ cô đã mất tích trong một trận bom; hàng xóm kể lại rằng hai người từng chạy ra ga tìm con. Lời kể khép lại bằng hai câu ngắn: “Tôi đã năm mươi mốt tuổi, tôi có hai con. Và tôi vẫn còn muốn mẹ.”
Thông tin tác giả Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích
Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích (Svetlana Alexievich) sinh ngày 31 tháng 5 năm 1948 tại Xta-ni-xláp (nay là I-va-nô Phran-kip-xcơ, U-crai-na), cha là người Bê-la-rút, mẹ là người U-crai-na, cả hai đều làm nghề dạy học. Bà lớn lên ở Bê-la-rút, tốt nghiệp ngành báo chí tại Đại học Quốc gia Bê-la-rút năm 1972, làm phóng viên cho báo địa phương rồi cộng tác lâu năm với một tạp chí văn học ở Min-xcơ.
Sự nghiệp văn chương của bà gắn với những biến cố lớn của Liên Xô và thời hậu Xô viết. Các tác phẩm tiêu biểu gồm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (1985), Những nhân chứng cuối cùng (1985), Những chàng trai kẽm (1989, về cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan), Lời nguyện cầu Chéc-nô-bưn (1997) và Thời second-hand (2013).
Năm 2015, A-lếch-xi-ê-vích nhận giải Nobel Văn học. Viện Hàn lâm Thụy Điển đánh giá cao những trang viết đa thanh của bà, coi đó là tượng đài cho nỗi khổ đau và lòng can đảm của con người thời đại. Bà là nhà văn Bê-la-rút đầu tiên nhận giải thưởng này.
Phong cách của bà thường được gọi là văn học tư liệu hay tiểu thuyết của những giọng nói: tác giả phỏng vấn hàng trăm nhân chứng, lược bớt lời bình của mình, để chính người trong cuộc kể lại, rồi sắp đặt các lời kể thành một bản hợp xướng nhiều bè. Nhờ vậy, lịch sử hiện lên qua số phận của những con người bình thường, chân thực và day dứt.
Thông tin tác phẩm Và tôi vẫn muốn mẹ…
Xuất xứ văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
Văn bản trích từ cuốn Những nhân chứng cuối cùng – Solo cho giọng trẻ em, bản dịch của Phan Xuân Loan, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2017 (tr. 21 – 24). Cuốn sách ra đời lần đầu năm 1985, tập hợp lời kể của những người khi Chiến tranh thế giới thứ hai lan tới Liên Xô mới chỉ là những đứa trẻ. Trong SGK, văn bản đứng sau Ai đã đặt tên cho dòng sông? và trước Cà Mau quê xứ.
Hoàn cảnh sáng tác
Sau cuốn sách về những người phụ nữ ra trận, A-lếch-xi-ê-vích tìm gặp những người từng trải qua chiến tranh khi còn thơ ấu. Họ kể lại những gì mình đã thấy bằng trí nhớ của đứa trẻ năm xưa, dù lúc trò chuyện đã là người lớn. Din-na Cô-si-ắc bắt đầu cuộc sơ tán năm 1941 khi mới tám tuổi; câu kết cho biết lúc kể lại, bà đã năm mươi mốt tuổi. Khoảng cách mấy chục năm ấy làm cho lời kể vừa chính xác trong từng chi tiết, vừa thấm nỗi đau chưa nguôi.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: kí (truyện kí, văn xuôi tư liệu dựa trên lời kể của nhân chứng).
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự, kết hợp miêu tả và biểu cảm.
Ngôi kể và vai trò của tác giả
Câu chuyện được kể ở ngôi thứ nhất: người xưng “tôi” là chính nhân chứng. Tác giả đứng ở vai người lắng nghe và ghi chép, gần như không xen lời bình. Tuy vậy, bà vẫn hiện diện qua việc chọn nhân chứng, giữ lại những chi tiết đắt giá và sắp xếp chúng theo mạch hồi ức. Thái độ của tác giả là tôn trọng sự thật, lặng lẽ đồng cảm với nỗi mất mát của những đứa trẻ thời chiến.
Bố cục – Và tôi vẫn muốn mẹ… có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến đoạn đoàn tàu đưa bọn trẻ về hậu phương): chiến tranh bùng nổ, chuyến đi trại hè thành cuộc sơ tán.
- Phần 2 (tiếp theo đến chi tiết những nồi nước tầm ma): cuộc sống đói khát, thiếu vắng mẹ ở trại trẻ mồ côi và những ngày ở nhờ nhà ông lão Bôn-sa-cốp.
- Phần 3 (còn lại): chiến tranh kết thúc, cuộc chờ đợi vô vọng và nỗi khát khao mẹ kéo dài đến tuổi năm mươi mốt.
Giá trị nội dung
Văn bản tái hiện chiến tranh qua đôi mắt một đứa trẻ: không có trận đánh, không có chiến công, chỉ có đói, rét, sợ hãi và nỗi nhớ mẹ. Qua đó, tác phẩm tố cáo sự tàn khốc của chiến tranh – thứ đã cướp đi tuổi thơ và gia đình của hàng triệu đứa trẻ, để lại vết thương không lành ngay cả khi các em đã thành người lớn. Đồng thời, văn bản khẳng định sức mạnh của tình mẫu tử và nhắc người đọc biết trân quý hòa bình.
Giá trị nghệ thuật
- Lời kể ngôi thứ nhất của nhân chứng, giọng kể giản dị, nhiều câu ngắn, giàu cảm xúc nén.
- Các yếu tố xác thực rõ ràng: mốc thời gian, địa danh, tên người, con số cụ thể.
- Chi tiết chọn lọc, đắt giá (con ngựa Mai-ca, đôi ủng dùng chung, nồi nước tầm ma, bé gái canh hang chuột).
- Kết hợp điểm nhìn đứa trẻ năm xưa với điểm nhìn người trưởng thành khi hồi tưởng; kết thúc ngắn gọn mà ám ảnh.
Ý nghĩa nhan đề Và tôi vẫn muốn mẹ…
Nhan đề lấy từ chính câu kết của lời kể. Chữ “vẫn” cho thấy nỗi khát khao mẹ không hề phai theo thời gian: người kể đã năm mươi mốt tuổi, đã làm mẹ của hai đứa con, nhưng trong lòng vẫn là đứa trẻ tám tuổi chờ mẹ ở sân ga. Dấu ba chấm để lại khoảng lặng, gợi nỗi đau chưa nói hết – và cũng là lời tố cáo lặng lẽ nhất đối với chiến tranh.
Sơ đồ tư duy Và tôi vẫn muốn mẹ…
Sơ đồ dưới đây gom sáu nhóm kiến thức chính để em ôn nhanh trước giờ kiểm tra.

Tóm tắt Và tôi vẫn muốn mẹ…
Mẫu 1 – Tóm tắt Và tôi vẫn muốn mẹ… ngắn nhất
Năm 1941, Din-na tám tuổi đang ở trại hè thì chiến tranh nổ ra và bị đưa đi sơ tán tới Mô-đô-vi-a. Những năm ở trại trẻ mồ côi, cô bé chịu đói rét và đêm nào cũng khóc nhớ mẹ; lên lớp Ba, cô trốn đi tìm mẹ và được một ông lão cưu mang. Chiến tranh kết thúc, ba mẹ cô đã mất tích trong một trận bom, còn nỗi mong mẹ thì theo cô đến năm năm mươi mốt tuổi.
Mẫu 2 – Tóm tắt Và tôi vẫn muốn mẹ… đầy đủ
Tháng Năm năm 1941, học xong lớp Một, Din-na được ba mẹ tiễn đi trại hè gần Min-xcơ. Chiến tranh ập đến, bọn trẻ bị đưa lên tàu chạy suốt một tháng, vì quân Đức áp sát khắp nơi, cuối cùng dừng lại ở Mô-đô-vi-a. Ở trại trẻ mồ côi, chúng ngủ trên rơm, bốn đứa chung một đôi ủng, phải ăn cả chồi cây, vỏ cây, cỏ dại; con ngựa già Mai-ca bị giết để lấy thịt. Những đứa nhỏ nhất khóc gọi ba mẹ hằng đêm đến mức người lớn phải tránh nói chữ mẹ. Lên lớp Ba, Din-na bỏ trại đi tìm mẹ, được ông lão Bôn-sa-cốp đưa về nuôi. Khi hòa bình trở lại, chờ mãi không ai đến đón, cô bé lẻn lên tàu về Min-xcơ với niềm tin mẹ đang đợi. Nhưng ba mẹ cô đã không còn, mất tích sau một trận ném bom. Đã năm mươi mốt tuổi, có hai con, bà vẫn khát khao được gặp mẹ.
Lời kết
Và tôi vẫn muốn mẹ… chỉ vài trang nhưng đủ để người đọc hiểu vì sao lời kể của trẻ em lại là những lời buộc tội chiến tranh mạnh mẽ nhất. Khi ôn tập, em cần nhớ: tác giả A-lếch-xi-ê-vích (Nobel 2015), xuất xứ từ Những nhân chứng cuối cùng, thể loại kí dựa trên lời nhân chứng, ngôi kể thứ nhất, bố cục 3 phần và ý nghĩa của câu kết làm nên nhan đề.
Xem thêm:
- Soạn bài Và tôi vẫn muốn mẹ… (Kết nối tri thức 11)
- Soạn bài Cà Mau quê xứ (Trần Tuấn)
- Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Cây diêm cuối cùng: tác giả, tác phẩm