Soạn bài Trao duyên (trích Truyện Kiều, Nguyễn Du) dưới đây trả lời đầy đủ câu hỏi của hai bộ sách Ngữ văn 11 tập hai: Kết nối tri thức (Bài 6, trang 14–16) và Chân trời sáng tạo (Bài 7, trang 37–41). Câu hỏi hai bộ khác nhau nên mỗi bộ được soạn thành một phần riêng; em học bộ nào thì xem phần tương ứng.
Học bộ Cánh diều? Xem Soạn bài Trao duyên (Nguyễn Du) – Ngữ văn 11 Cánh diều (trang 44–47)
Tìm hiểu chung về đoạn trích Trao duyên
Phần này tóm tắt những thông tin dùng chung cho cả hai bộ sách, giúp em trả lời nhanh các câu hỏi về bố cục, lời kể và lời nhân vật.

- Vị trí: đoạn trích nằm ở phần “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền cứu cha và em, đêm trước ngày theo hắn ra đi, Kiều thức trắng, rồi nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng.
- Phạm vi văn bản trong SGK: cả hai bộ đều in từ câu “Nỗi riêng riêng những bàn hoàn” (câu 711) đến câu “Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng” (câu 758), gồm 48 dòng lục bát. Phần quen thuộc nhất là 34 câu từ “Cậy em em có chịu lời” đến “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” (câu 723–756).
- Nhân vật: Thúy Kiều, Thúy Vân; Kim Trọng không có mặt nhưng là người Kiều luôn hướng tới.
- Thể thơ: lục bát; lời kể ở ngôi thứ ba xen lời đối thoại, độc thoại của nhân vật.
Bố cục (theo mạch văn bản 48 câu):
- 12 câu đầu (711–722): Kiều thao thức một mình; Thúy Vân thức dậy hỏi han; Kiều ngập ngừng mở lời.
- 12 câu tiếp (723–734): Kiều nhờ cậy và thuyết phục Thúy Vân nhận lời trao duyên.
- 14 câu tiếp (735–748): Kiều trao kỉ vật và dặn dò em.
- 10 câu cuối (749–758): Kiều đau đớn hướng về Kim Trọng rồi ngất đi.
Soạn bài Trao duyên – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức
Trong sách Kết nối tri thức, Trao duyên là văn bản đọc thứ hai của Bài 6 “Nguyễn Du – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, học ngay sau văn bản Tác gia Nguyễn Du.
Trước khi đọc (trang 14)
Câu 1: Đọc một đoạn thơ về tình yêu Kim – Kiều (trang 14)
Đề bài: Mối tình Kim – Kiều được Nguyễn Du miêu tả như một “thiên tình sử” tuyệt đẹp. Bạn hãy đọc một đoạn thơ trong Truyện Kiều hoặc một bài thơ của tác giả khác nói về tình yêu của họ.
Trả lời:
Em chọn đoạn Kim – Kiều gặp gỡ trong buổi du xuân, khi hai người vừa gặp đã cảm mến nhau:
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Bốn câu thơ cho thấy một mối tình đẹp ngay từ phút đầu: trai tài gái sắc xứng đôi, tình cảm chân thành nhưng vẫn kín đáo, e ấp. Chính vì mối tình ấy đẹp như vậy nên cảnh Kiều phải trao duyên cho em sau này càng trở nên đau đớn.
Đọc văn bản (trang 14–16)
Câu 1: Hình dung bối cảnh của cuộc trao duyên (trang 14)
Trả lời:
- Thời gian: đêm khuya, Kiều ngồi bên ngọn đèn đến mức “Dầu chong trắng đĩa” – dầu cạn, đêm sắp tàn.
- Không gian: trong nhà, dưới ánh đèn, chỉ có hai chị em; không gian riêng tư, tĩnh lặng.
- Hoàn cảnh: việc bán mình chuộc cha đã xong, hôm sau Kiều phải theo Mã Giám Sinh; mối tình với Kim Trọng (đang về Liêu Dương chịu tang chú) bỗng dang dở.
Câu 2: Chú ý nội dung lời “hỏi han” của Thúy Vân (trang 14)
Trả lời:
Thúy Vân thương chị phải một mình gánh nỗi oan của cả nhà, thấy chị ngồi thức đến tàn canh thì đoán chị còn vướng một mối tình riêng: “Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?”. Lời hỏi han ân cần ấy cho thấy tình chị em gắn bó và mở đường để Kiều nói ra điều khó nói.
Câu 3: Theo dõi cảm xúc, suy nghĩ của Thúy Kiều khi nhờ cậy và khi trao kỉ vật (trang 14)
Trả lời:
- Khi nói lời nhờ cậy: Kiều ngập ngừng, khó xử (“Hở môi ra cũng thẹn thùng, / Để lòng thì phụ tấm lòng với ai”), rồi trịnh trọng, khẩn thiết nhờ em; trong lòng đau đớn vì “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
- Khi trao kỉ vật: lí trí bảo phải trao, nhưng tình cảm níu lại. Kiều vừa trao vừa tiếc, gọi kỉ vật là “của chung”, nhắc “ngày xưa”, và nghĩ đến cái chết của chính mình.
Câu 4: Chú ý lời Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân khi trao kỉ vật (trang 15)
Trả lời:
Kiều dặn em giữ chiếc vành, bức tờ mây làm kỉ vật; mai sau nếu thành vợ chồng với chàng Kim thì vẫn nhớ đến người chị “mệnh bạc”; khi đốt lò hương, gảy phím đàn, thấy “hiu hiu gió” thì biết là hồn chị trở về; xin em rảy cho “chén nước” để tưởng nhớ người “thác oan”. Lời dặn dò chuyển dần từ việc trao vật sang những hình dung về cái chết, cho thấy nỗi đau đang lấn át lí trí.
Câu 5: Mười dòng thơ cuối là lời Thúy Kiều nói với ai? (trang 16)
Trả lời:
Tám câu từ “Bây giờ trâm gãy gương tan” đến “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” không còn là lời nói với Thúy Vân nữa: Kiều như quên em đang ngồi trước mặt, hướng về Kim Trọng vắng mặt và tự nói với chính mình (độc thoại). Hai câu cuối là lời người kể chuyện thuật lại cảnh Kiều ngất đi.
Sau khi đọc (trang 16)
Câu 1: Bố cục; lời người kể chuyện, lời đối thoại, lời độc thoại (trang 16)
Trả lời:
- Bố cục: xem phần Tìm hiểu chung ở trên (4 đoạn: Kiều thao thức – Vân hỏi han; lời nhờ cậy, thuyết phục; trao kỉ vật, dặn dò; Kiều hướng về Kim Trọng và ngất đi). Có thể gộp đoạn đầu và đoạn hai thành một phần nếu cô giáo yêu cầu chia ba.
- Lời người kể chuyện: câu 711–714 (Kiều thao thức, Vân thức dậy hỏi han), chữ “Rằng” ở câu 719 và hai câu cuối 757–758.
- Lời đối thoại: lời Thúy Vân (câu 715–718) và lời Thúy Kiều nói với em (từ “Lòng đương thổn thức đầy” đến “Rảy xin chén nước cho người thác oan”, câu 719–748).
- Lời độc thoại: câu 749–756, Kiều như nói với Kim Trọng và với chính mình.
Câu 2: Kiều nảy sinh ý định trao duyên vào thời điểm nào? (trang 16)
Trả lời:
Ý định trao duyên nảy sinh khi mọi việc bán mình đã thu xếp xong, trong đêm cuối cùng Kiều còn ở nhà, trước lúc theo Mã Giám Sinh ra đi. Đêm ấy Kiều thức trắng, nghĩ đến lời thề với Kim Trọng mà mình không thể giữ; khi Thúy Vân tỉnh giấc hỏi han, nàng mới nói ra lời nhờ cậy. Thời điểm này cho thấy Kiều đã chọn chữ hiếu, nhưng không thể dứt bỏ chữ tình.
Câu 3: Đọc đoạn thơ từ câu 719 đến 748 (trang 16)
Đề bài gồm bốn ý: a) thái độ khi nhờ cậy và giá trị từ ngữ; b) lí lẽ thuyết phục Thúy Vân; c) lời dặn dò khi trao kỉ vật có nhất quán với lời nhờ cậy không; d) diễn biến tâm lí của Kiều.
Trả lời:
a. Thái độ khi nhờ cậy: trân trọng, khẩn khoản, hạ mình. Kiều dùng “cậy” (nhờ với lòng tin tuyệt đối, khác với “nhờ”), “chịu lời” (nhận lời, có ý ép em phải nhận), “lạy”, “thưa” – những từ người dưới dùng với người trên. Chị lạy em vì việc nhờ là hệ trọng: em phải lấy người yêu của chị. Cách nói ấy vừa trang trọng, vừa khiến Vân khó lòng từ chối.
b. Lí lẽ thuyết phục:
- Tình yêu của chị đã “đứt gánh” giữa đường, chỉ còn “mối tơ thừa” nhờ em chắp nối.
- Kể vắn tắt mối tình với Kim Trọng (“Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề”) để em hiểu đó là lời thề thiêng liêng.
- Nói rõ hoàn cảnh: “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
- Viện đến tuổi trẻ của em (“Ngày xuân em hãy còn dài”) và tình máu mủ.
- Hứa rằng dù chết, chị cũng “Ngậm cười chín suối” vì được em trả nghĩa giúp.
Lí lẽ chặt chẽ, vừa có lí vừa có tình, cho thấy Kiều sáng suốt, thấu đáo.
c. Lời dặn dò khi trao kỉ vật: Kiều dặn em giữ kỉ vật, nhớ đến mình, thắp hương và rảy nước cho mình khi mình mất. Lời dặn không hoàn toàn nhất quán với lời nhờ cậy:
- Nhất quán: vẫn trao vật cho em, vẫn mong em nên duyên với chàng Kim (“Dù em nên vợ nên chồng”).
- Không nhất quán: “Duyên này thì giữ vật này của chung” – duyên đã trao cho em mà vật lại là “của chung”; “Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” – chữ “ngày xưa” níu kéo kỉ niệm; Kiều còn muốn em nhớ “người mệnh bạc”, muốn hồn mình trở về bên cuộc tình ấy.
d. Diễn biến tâm lí: từ tỉnh táo, lí trí khi nhờ cậy và thuyết phục, Kiều chuyển sang níu kéo, xót xa khi trao kỉ vật, rồi rơi vào hình dung về cái chết, hồn ma, oan khuất. Lí giải: lúc mở lời, Kiều nghĩ đã tìm được cách vẹn cả tình lẫn hiếu; nhưng khi cầm từng kỉ vật, kỉ niệm sống dậy, trái tim lên tiếng át lí trí, nàng ý thức mình vừa mất tất cả.
Câu 4: Diễn biến tâm trạng trong mười dòng thơ cuối (trang 16)
Trả lời:
- Đối tượng tâm tình thay đổi: từ Thúy Vân chuyển sang Kim Trọng (“Trăm nghìn gửi lạy tình quân”), rồi sang chính mình (“Phận sao phận bạc như vôi?”), cuối cùng lại gọi Kim Trọng.
- Giọng điệu thay đổi: từ trầm, nghẹn (“trâm gãy gương tan”, tình đã vỡ) sang than thở, oán trách số phận, rồi thành tiếng kêu thảng thốt “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!” – các thán từ, điệp ngữ, nhịp thơ đứt quãng như tiếng nấc.
- Đỉnh điểm: “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” – Kiều tự nhận lỗi về mình dù nàng là nạn nhân. Nỗi đau dồn nén đến mức hai câu kể cuối cho biết nàng ngất lịm.
Mười câu thơ cho thấy tình yêu sâu nặng, đức hi sinh và nhân cách cao đẹp của Kiều.
Câu 5: Nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du (trang 16)
Trả lời:
Nguyễn Du dùng từ chính xác, giàu sắc thái; phối hợp tự nhiên lớp từ Hán Việt, điển cố (keo loan, tình quân, dạ đài, trâm gãy gương tan) với thành ngữ, lời ăn tiếng nói dân gian (thịt nát xương mòn, bạc như vôi, nước chảy hoa trôi). Mỗi từ đều gắn với tâm trạng nhân vật.
Ví dụ tâm đắc: từ “cậy” trong “Cậy em em có chịu lời”. “Cậy” không đơn thuần là nhờ mà là gửi gắm bằng tất cả niềm tin, như thể Thúy Vân là chỗ dựa cuối cùng. Đặt cạnh “lạy”, “thưa”, chữ “cậy” làm hiện lên một Kiều vừa khẩn thiết vừa tự hạ mình, khiến lời nhờ trở thành một nghi thức trang nghiêm.
Kết nối đọc – viết (trang 16)
Đề bài: Truyện Kiều là tiếng nói hiểu đời, thương đời của Nguyễn Du. Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) chỉ ra biểu hiện của sự “hiểu” và “thương” ấy trong đoạn trích Trao duyên.
Đoạn văn tham khảo:
Trong Trao duyên, Nguyễn Du “hiểu” con người đến từng biến động nhỏ nhất của tâm hồn. Ông hiểu vì sao Kiều phải “lạy” em: điều nàng nhờ quá lớn, quá khó nói. Ông hiểu cả sự mâu thuẫn rất thật trong lòng người con gái: miệng trao duyên mà tay giữ lại, gọi kỉ vật là “của chung”. Ông cũng hiểu sức nặng của lễ giáo và đồng tiền đã buộc Kiều phải chọn chữ hiếu. Từ cái hiểu ấy mà có cái “thương”: thương Kiều phải tự tay cắt mối tình đầu, thương nàng tự nhận lỗi “thiếp đã phụ chàng” trong khi nàng là người chịu thiệt nhiều nhất. Mỗi câu thơ như được viết bằng nước mắt của chính nhà thơ, vì vậy nỗi đau của Kiều mới chạm được đến người đọc hôm nay.
Soạn bài Trao duyên – Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo
Trong sách Chân trời sáng tạo, Trao duyên mở đầu Bài 7 “Những điều trông thấy (Truyện thơ Nôm và Nguyễn Du)”, học trước Độc “Tiểu Thanh kí” và Kính gửi cụ Nguyễn Du.
Chuẩn bị đọc (trang 38)
Câu 1: Chia sẻ một điều khó nói nhưng vẫn phải nói ra (trang 38)
Đề bài: Trong cuộc sống, đôi khi có những điều rất khó nói, nhưng vẫn phải tìm cách nói ra để nhận được sự cảm thông, chia sẻ của một người nào đó. Đã bao giờ bạn gặp một tình huống như vậy chưa? Hãy chia sẻ với các bạn hoặc lắng nghe chia sẻ của bạn về trải nghiệm đó.
Trả lời:
Năm lớp 9, em lỡ làm hỏng chiếc máy ảnh cũ mà bố giữ gìn như kỉ vật của ông nội. Em giấu gần một tuần, ngày nào cũng thấy nặng lòng. Cuối cùng em chọn một buổi tối bố rảnh, kể lại đầu đuôi và xin lỗi. Bố im lặng khá lâu rồi nói điều bố buồn nhất không phải chiếc máy mà là việc em đã giấu. Từ đó em hiểu: điều khó nói càng cần nói sớm, nói thật và chọn đúng lúc.
Trải nghiệm cùng văn bản (trang 39–40)
Câu 1: Phân biệt lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn đầu (trang 39)
Trả lời:
- Lời người kể chuyện: bốn câu đầu, từ “Nỗi riêng riêng những bàn hoàn” đến “Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han”, và chữ “Rằng” dẫn lời Kiều.
- Lời nhân vật: bốn câu của Thúy Vân (từ “Cơ trời dâu bể đa đoan” đến “Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?”) và lời Kiều bắt đầu từ “Lòng đương thổn thức đầy”. Dấu hiệu nhận biết là dấu hai chấm, dấu gạch đầu dòng và cách xưng hô “chị – em”.
Câu 2: Cách mở đầu câu chuyện của Kiều có gì khác thường? (trang 39)
Trả lời:
Khác thường ở chỗ người chị lại nói với em bằng lời lẽ của bề dưới với bề trên: “cậy”, “chịu lời”, “lạy”, “thưa”. Kiều mời em “ngồi lên” để mình lạy rồi mới nói. Cách mở đầu trang trọng ấy báo hiệu một việc hệ trọng, đồng thời cho thấy Kiều hiểu điều mình sắp nhờ là một sự hi sinh lớn của em.
Câu 3: Hình dung dáng vẻ, tâm trạng, giọng nói của Kiều từ dòng 741 đến 756 (trang 40)
Trả lời:
Em hình dung Kiều ngồi lặng bên ngọn đèn sắp cạn, tay vẫn cầm kỉ vật, mắt nhìn vào khoảng không như không còn thấy em gái trước mặt. Giọng nàng lúc đầu nhỏ, nghẹn, rồi run rẩy khi nói về hồn mình theo gió trở về, về “người thác oan”; đến lúc gọi “Kim Lang” thì vỡ ra thành tiếng nấc. Tâm trạng đi từ xót xa, tuyệt vọng đến kiệt sức – và nàng ngất đi ngay sau đó.
Suy ngẫm và phản hồi (trang 41)
Câu 1: Câu chuyện được thuật lại theo ngôi kể nào? Dấu hiệu nhận biết (trang 41)
Trả lời:
Câu chuyện được thuật lại theo ngôi thứ ba. Dấu hiệu: người kể không xưng “tôi”, không tham gia câu chuyện; gọi nhân vật bằng tên (“Thúy Vân”); có những câu kể, tả tách khỏi lời nhân vật (bốn câu đầu, chữ “Rằng”, hai câu cuối); lời nhân vật được dẫn trực tiếp sau dấu hai chấm với cách xưng hô riêng của họ.
Câu 2: Số dòng thơ biểu đạt lời mỗi nhân vật và lí do khác biệt (trang 41)
Trả lời:
| Nhân vật | Số dòng thơ | Vị trí |
| Thúy Vân | 4 dòng | Câu 715–718 |
| Thúy Kiều | 38 dòng (tính cả nửa dòng sau chữ “Rằng”) | Câu 719–756 |
Lời Kiều dài gấp gần mười lần lời Vân vì Kiều là người có chuyện cần nói, cần nhờ, cần thuyết phục, cần trút nỗi lòng; còn Vân chỉ hỏi han rồi lặng lẽ lắng nghe. Sự chênh lệch ấy cũng cho thấy đoạn trích tập trung khắc họa tâm trạng Thúy Kiều.
Câu 3: Vai trò lời thoại của Thúy Vân (trang 41)
Trả lời:
Lời thoại ngắn nhưng quan trọng: nó thể hiện sự quan tâm, sẻ chia của người em; tạo tình huống tự nhiên để Kiều mở lời về điều khó nói; và sau đó Vân im lặng lắng nghe, để lời trao duyên được nói trọn vẹn. Không có lời hỏi han ấy, cuộc trao duyên khó có thể bắt đầu.
Câu 4: Lời thoại của Kiều – tự sự hay biểu cảm; đoạn 741–756 hướng đến ai (trang 41)
Trả lời:
a. Lời thoại của Kiều kết hợp tự sự với biểu cảm: nàng kể lại mối tình, kể việc trao kỉ vật, nhưng mỗi lời kể đều thấm cảm xúc yêu thương, xót xa, tuyệt vọng.
b. Từ dòng 741 đến 756, lời Kiều dần rời khỏi Thúy Vân: lúc đầu vẫn là lời dặn em, sau đó hướng về Kim Trọng vắng mặt (“tình quân”, “Kim Lang”) và về chính mình (“Phận sao phận bạc như vôi?”). Vì vậy đây là lời độc thoại – thậm chí là độc thoại nội tâm được nói thành lời, dù bề ngoài vẫn diễn ra trong cuộc đối thoại với em.
Câu 5: Tâm trạng của Kiều trước, trong và sau khi trao kỉ vật (trang 41)
Trả lời:
- Trước: thao thức, dằn vặt (“Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn”), ngại ngùng khó nói, rồi tỉnh táo, khẩn thiết thuyết phục em.
- Trong: giằng xé giữa lí trí và tình cảm; trao mà vẫn muốn giữ (“của chung”, “ngày xưa”); bắt đầu nghĩ đến cái chết và hồn mình theo gió trở về.
- Sau: nhận ra tình yêu đã tan vỡ (“trâm gãy gương tan”), than cho phận bạc, gọi tên Kim Trọng trong tuyệt vọng, tự nhận mình đã “phụ chàng” rồi ngất đi.
Câu 6: Chủ đề của văn bản và vai trò đối với chủ đề Truyện Kiều (trang 41)
Trả lời:
Chủ đề: bi kịch tình yêu của Thúy Kiều trong đêm trao duyên – người con gái phải hi sinh tình riêng vì chữ hiếu, qua đó thấy được tình yêu sâu nặng và nhân cách cao đẹp của nàng.
Vai trò: Truyện Kiều là tiếng kêu thương cho số phận con người, nhất là người phụ nữ tài sắc bị vùi dập trong xã hội phong kiến. Trao duyên là nỗi đau đầu tiên, đánh dấu lúc Kiều mất tình yêu và bước vào mười lăm năm lưu lạc; nó mở ra chuỗi bi kịch tiếp theo và thể hiện rõ tấm lòng thương người của Nguyễn Du.
Bài tập sáng tạo (trang 41)
Đề bài: Vẽ một bức tranh hay dựng một hoạt cảnh sân khấu hóa về cuộc trao duyên.
Gợi ý: Nếu dựng hoạt cảnh, có thể chia ba cảnh: (1) Kiều ngồi một mình bên ngọn đèn, Vân tỉnh dậy hỏi han; (2) Kiều mời em ngồi lên, cúi lạy, kể chuyện và trao chiếc vành, tờ mây, phím đàn, mảnh hương; (3) ánh sáng tối dần, Kiều quay mặt ra ngoài gọi “Kim Lang”, ngã xuống. Lời thoại dùng nguyên văn thơ, có nhạc nền đàn bầu hoặc sáo trúc. Nếu vẽ tranh, nên lấy ánh đèn dầu làm nguồn sáng duy nhất, tập trung vào gương mặt Kiều và các kỉ vật trên bàn.
Kết luận
Bài soạn Trao duyên trên đây giúp các em trả lời câu hỏi của cả Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo, đồng thời nắm được bố cục, các dạng lời trong đoạn trích và diễn biến tâm trạng Thúy Kiều. Khi làm bài, các em nên thuộc những câu then chốt như “Cậy em em có chịu lời”, “Duyên này thì giữ vật này của chung”, “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”.
Khi chuyển sang phần Viết, bài văn mẫu thuyết minh về một tác phẩm văn học có dàn ý và nhiều bài làm để em học cách triển khai.
Muốn biết bài học này đứng ở đâu trong chương trình cả kì, em có thể nhìn vào bảng hệ thống văn bản của bài ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo.
Xem thêm: