Phân tích Tú Uyên gặp Giáng Kiều là đề văn thường gặp khi học Bài 3 Khát khao đoàn tụ, SGK Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo. Đoạn trích thuộc truyện thơ Nôm Bích Câu kì ngộ, kể cuộc gặp gỡ kì lạ giữa chàng thư sinh Tú Uyên và nàng tiên Giáng Kiều bước ra từ bức tranh tố nữ.
Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu với các góc nhìn khác nhau: phân tích ngắn gọn, phân tích đầy đủ, phân tích nhân vật Tú Uyên, nhân vật Giáng Kiều và nghệ thuật của đoạn trích. Trước khi đọc, em nên xem lại tác giả – tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều để nắm bố cục và hoàn cảnh ra đời.

Dàn ý phân tích Tú Uyên gặp Giáng Kiều
1. Mở bài
– Giới thiệu Bích Câu kì ngộ: truyện thơ Nôm lục bát kể mối tình người trần – tiên nữ ở đất Thăng Long; từ lâu được xem là khuyết danh, sách giáo khoa ghi tác giả Vũ Quốc Trân.
– Giới thiệu đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều: cuộc hội ngộ kì lạ giữa chàng thư sinh và người đẹp trong tranh, thể hiện khát vọng tình yêu, hạnh phúc.
2. Thân bài
a. Nỗi tương tư của Tú Uyên bên bức tranh tố nữ
+ Coi tranh như người thật: “Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi”, “Mâm chung một, đũa thêm hai”.
+ Cảnh thu gợi nỗi nhớ: “Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng” – tả cảnh ngụ tình.
+ Lời giãi bày tha thiết, ước muốn táo bạo: “Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?”, “Rày xin bẻ khoá cung trăng”.
⇒ Tình yêu si mê, chân thành đến mức làm lay động người trong tranh.
b. Cuộc gặp gỡ kì lạ
+ Mâm cơm “bát trân” bày sẵn, Tú Uyên sinh nghi, giả đi để rình xem.
+ Chi tiết kì ảo: “Trong tranh sao có bóng người vào ra?”.
+ Tâm trạng Tú Uyên khi gặp: “Bên mừng bên lệ, xiết bao là tình!”.
⇒ Tình cảm chân thành được đền đáp; ranh giới trần – tiên bị xóa nhòa.
c. Lời tự giới thiệu và lời thề của Giáng Kiều
+ Khiêm nhường: “Bồ liễu phận thường”; khẳng định duyên tiền định: “Ba sinh đã nặng vì duyên”.
+ Lời thề son sắt: “Tấm son thề với trên đầu xanh xanh”; không học “thói yến oanh”.
+ Nỗi lo xa: “Một mai mưa gió bất tình” – sợ bị phụ bạc khi nhan sắc tàn phai.
+ Khéo léo, đoan trang khi khước từ: “Chữ duyên này trở về sau còn dài”.
⇒ Giai nhân dịu dàng, sâu sắc, coi trọng thủy chung.
d. Phép màu và tiệc cưới
+ “Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài”, ánh sáng điềm lành, khách tiên đông vui.
⇒ Giấc mơ hạnh phúc, đổi đời của chàng thư sinh nghèo trở thành hiện thực.
e. Đặc sắc nghệ thuật
+ Thể lục bát nhuần nhị; ngôn ngữ bác học, nhiều điển tích; bút pháp ước lệ kết hợp miêu tả tâm lí.
+ Yếu tố kì ảo đan xen hiện thực; màu sắc Thăng Long đậm nét.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị đoạn trích: câu chuyện tình đẹp, khát vọng hạnh phúc lứa đôi tự do.
– Liên hệ: bài học về trân trọng và giữ gìn tình yêu.
Phân tích Tú Uyên gặp Giáng Kiều ngắn gọn – mẫu 1
Văn học trung đại Việt Nam có nhiều câu chuyện tình đẹp, nhưng hiếm có mối tình nào lãng mạn như chuyện chàng thư sinh Tú Uyên và nàng tiên Giáng Kiều trong truyện thơ Nôm Bích Câu kì ngộ. Đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều đã kể lại cuộc hội ngộ kì lạ ấy bằng những vần lục bát trau chuốt, qua đó gửi gắm khát vọng tình yêu và hạnh phúc của con người.
Mở đầu đoạn trích là nỗi tương tư của Tú Uyên. Mua được bức tranh tố nữ giống người đẹp đã gặp, chàng đem về treo và đối xử với tranh như với người thật: “Mâm chung một, đũa thêm hai / Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa”. Nỗi nhớ ngày một sâu khiến chàng tiều tụy, thốt lên: “Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?”. Tình yêu ấy ngây thơ mà chân thành, đến mức người trong tranh cũng như động lòng.
Rồi phép màu xảy ra. Thấy mâm cơm ngon bày sẵn, Tú Uyên giả vờ đi học để rình xem, và chàng đã thấy “Trong tranh sao có bóng người vào ra?”. Khoảnh khắc gặp gỡ vỡ òa trong niềm vui lẫn nước mắt: “Bên mừng bên lệ, xiết bao là tình!”. Người đẹp cho biết mình là Giáng Kiều, tiên nữ có duyên ba sinh với chàng. Lời thề “Tấm son thề với trên đầu xanh xanh” cùng nỗi lo bị phụ bạc cho thấy nàng không chỉ đẹp mà còn sâu sắc, coi trọng tình nghĩa thủy chung.
Đoạn trích khép lại bằng cảnh Giáng Kiều hóa phép, biến am cỏ thành lâu đài, tiệc cưới linh đình. Đó là giấc mơ hạnh phúc trọn vẹn của chàng học trò nghèo và cũng là mơ ước của bao người đương thời.
Với thể lục bát nhuần nhị, ngôn ngữ giàu điển tích, yếu tố kì ảo hấp dẫn, Tú Uyên gặp Giáng Kiều là bài ca đẹp về tình yêu tự do, chân thành – thứ tình yêu có sức mạnh xóa nhòa khoảng cách giữa cõi trần và cõi tiên.
Phân tích Tú Uyên gặp Giáng Kiều đầy đủ – mẫu 2
Thăng Long nghìn năm văn hiến không chỉ lưu dấu trong sử sách mà còn sống trong những câu chuyện truyền kì. Bích Câu kì ngộ – “cuộc gặp gỡ lạ lùng ở Bích Câu” – là một truyện thơ Nôm như thế. Tác phẩm từ lâu được xem là khuyết danh, gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho là của Vũ Quốc Trân. Đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều là phần đẹp nhất của truyện: chàng thư sinh nghèo gặp nàng tiên bước ra từ bức tranh, mở đầu một mối lương duyên kì diệu.
Trước hết, đoạn trích khắc họa nỗi tương tư da diết của Tú Uyên. Bức tranh tố nữ mua được ở Cầu Đông trở thành cả thế giới của chàng:
Mưa hoa khép cánh song hồ
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
Chàng đóng cửa sổ, sớm khuya chỉ có bức họa làm bạn. Chi tiết “đũa thêm hai” vừa ngộ nghĩnh vừa cảm động: chàng bày bữa cho hai người, coi người trong tranh là bạn đời. Những đêm trăng, chàng ngâm thơ, mời rượu như có tri âm ngồi bên. Nỗi tương tư đẩy chàng tới chỗ lẫn lộn thực – mộng: “Có khi hình ảnh cũng là phát phu” – bức hình như có da có tóc, như người thật. Cảnh thu hiện lên nhuốm màu tâm trạng: “Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng / Chiều thu như gợi tấm thương”. Sương bạc, lá vàng là cảnh đẹp mà buồn, làm nỗi nhớ càng thấm thía. Tú Uyên ngồi “Kề bên năn nỉ bày tình”, kể “Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa”, than rằng từ ngày gặp mặt chỉ “ngày tưởng đêm mơ đã chồn”. Câu hỏi tu từ “Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?” vừa trách móc vừa nũng nịu. Rồi chàng ước ao “Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?”, thậm chí muốn “bẻ khoá cung trăng” để được thấy mặt “chị Hằng”. Đó là tình yêu say mê, chân thành, có phần ngây dại của một tâm hồn lãng mạn.
Tấm lòng ấy đã làm động lòng người trong tranh. Tác giả khéo tạo một chi tiết chuyển tiếp tinh tế: “Chợt trông mấp máy miệng đào / Mặt hoa hớn hở dường chào chúa Đông”. Bức tranh tĩnh bỗng sống động; người đẹp như đã đáp lại tình chàng. Lời bình “Cho hay tình cũng là chung / Khách tiên chưa dễ qua vòng ái ân!” cho thấy quan niệm nhân văn: tình yêu là điều chung của mọi kiếp, đến tiên cũng không thoát khỏi vòng ái ân.
Cuộc gặp gỡ diễn ra đầy bất ngờ. Một hôm đi học về, Tú Uyên thấy “bát trân sẵn sàng”, “Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào”. Câu hỏi “Bếp trời sẵn đó hay sao?” thể hiện sự ngạc nhiên và nghi hoặc. Chàng bày mưu giả đi rồi quay về, và chứng kiến cảnh “Trong tranh sao có bóng người vào ra?”. Người con gái “Nhơn nhơn mày liễu mặt hoa” chính là người chàng mong nhớ. Chàng rón rén bước vào, “Vội vàng đánh tiếng ra chào / Bên mừng bên lệ, xiết bao là tình!”. Nước mắt ấy là nước mắt hạnh phúc sau bao ngày chờ đợi.
Lời tự giới thiệu của Giáng Kiều cho thấy vẻ đẹp tâm hồn nàng. Nàng khiêm nhường: “Bồ liễu phận thường / Vì mang má phấn nên vương tơ điều”, rồi mới cho biết mình là khách cõi tiên, “Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên”. Nàng khẳng định mối duyên ba sinh đã định, nay “Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân”. Đáng quý hơn là lời thề của nàng: “Xin quyết gieo cầu / Tấm son thề với trên đầu xanh xanh”. Nàng không học thói lả lơi, “Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương”, mà muốn một tình yêu bền chặt. Nhưng nàng cũng lo xa: “Một mai mưa gió bất tình / Vóc tàn nên để yến oanh hững hờ”. Nỗi lo ấy rất đời, rất con người – nàng tiên lại mang tâm lí của người phụ nữ sợ bị phụ bạc. Khi Tú Uyên “Giả say sinh mới toan đường lần khân”, nàng khéo léo từ chối, viện lẽ còn phải từ biệt bạn bè, hẹn “Chữ duyên này trở về sau còn dài”. Giáng Kiều vì thế vừa là tiên nữ vừa là hình mẫu người con gái đoan trang, tế nhị.
Đoạn trích kết thúc bằng phép màu huy hoàng: “Bóng mây bỗng kéo quanh nhà / Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài”. Ánh sáng điềm lành chiếu “sáng một góc trời”, khách khứa “Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai”, người nói người cười, múa hát thướt tha. Căn nhà tranh nghèo nàn biến thành cung điện – đó là giấc mơ đổi đời, giấc mơ hạnh phúc của chàng thư sinh và của biết bao người nghèo đương thời.
Về nghệ thuật, đoạn trích tiêu biểu cho truyện thơ Nôm bác học: thể lục bát uyển chuyển, ngôn ngữ giàu điển tích (sông Tương, tơ trăng, chúa xuân, Mái Tây, Nghê thường), bút pháp ước lệ khi tả người đẹp. Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn kể chuyện với miêu tả tâm lí, cảnh với tình. Yếu tố kì ảo không làm câu chuyện xa rời đời thực mà trái lại, được đặt giữa những địa danh Thăng Long quen thuộc, khiến câu chuyện vừa huyền ảo vừa gần gũi.
Tú Uyên gặp Giáng Kiều là một đoạn thơ đẹp về tình yêu. Qua câu chuyện người trần gặp tiên, tác giả ca ngợi tình yêu chân thành, khát vọng hạnh phúc tự do và gửi gắm lời nhắc nhở về sự thủy chung. Đọc đoạn trích, ta càng hiểu vì sao câu chuyện Tú Uyên – Giáng Kiều đã sống mãi trong lòng người Hà Nội qua bao thế hệ.
Phân tích nhân vật Tú Uyên trong Tú Uyên gặp Giáng Kiều – mẫu 3
Trong truyện thơ Nôm, người thư sinh nghèo mà đa tình là kiểu nhân vật quen thuộc. Tú Uyên trong Bích Câu kì ngộ thuộc kiểu nhân vật ấy, song qua đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều, chàng hiện lên với những nét riêng rất sinh động: si tình, lãng mạn, bộc trực và đáng mến.
Tú Uyên trước hết là một chàng trai si tình. Chỉ gặp người đẹp một lần, chàng đã tương tư đến ốm. Khi mua được bức tranh giống nàng, chàng dồn hết tình cảm vào tranh: “Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi”. Chàng bày thêm đũa trong bữa ăn, mời rượu dưới trăng, đến mức thấy bức họa như có da có thịt: “Có khi hình ảnh cũng là phát phu”. Người đọc có thể mỉm cười trước sự “ngây” ấy, nhưng cũng cảm động vì một tấm lòng hết mực chân thành.
Chàng còn là người lãng mạn, giàu cảm xúc. Cảnh thu với “Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng” khơi dậy trong chàng nỗi nhớ; chàng “Kề bên năn nỉ bày tình”, tâm sự với người trong tranh cả chuyện nhà lẫn chuyện mình. Lời than “Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?” và câu hỏi “Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?” cho thấy chàng sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để có được nụ cười người đẹp. Ước muốn “Rày xin bẻ khoá cung trăng” táo bạo mà thi vị, đúng chất một chàng thư sinh mơ mộng.
Không chỉ mơ mộng, Tú Uyên cũng tinh ý, nhanh nhạy. Thấy mâm “bát trân” lạ lùng, chàng không vội tin là “Bếp trời” mà sinh nghi, bày cách giả đi rồi quay về rình xem. Nhờ vậy chàng khám phá được bí mật của bức tranh. Khi gặp người trong mộng, chàng không giấu cảm xúc: “Vội vàng đánh tiếng ra chào / Bên mừng bên lệ, xiết bao là tình!”. Chàng mừng đến rơi nước mắt – một phản ứng bộc trực, hồn nhiên. Chàng thẳng thắn kể nỗi sầu “Nhắp sầu gối muộn có ngày nào nguôi” và tin tưởng rằng đây là “tác hợp duyên trời”.
Tuy nhiên, Tú Uyên cũng có lúc nông nổi. Trong tiệc hoa, chàng “Giả say” để lân la gần gũi người đẹp. Chi tiết ấy vừa thật vừa có chút hóm hỉnh, cho thấy chàng là con người trần thế với những ham muốn rất đời thường. Nhưng khi Giáng Kiều khéo léo từ chối, chàng biết “Chiều lòng chi nỡ ép nài mưa mây” – biết tôn trọng người mình yêu.
Qua nhân vật Tú Uyên, tác giả khắc họa hình ảnh người học trò nghèo với khát vọng tình yêu mãnh liệt, dám mơ ước và dám theo đuổi hạnh phúc. Chàng không hoàn hảo, nhưng chính những nét tính cách sống động ấy khiến Tú Uyên trở thành một nhân vật gần gũi, đáng yêu trong văn học trung đại.
Phân tích nhân vật Giáng Kiều trong Tú Uyên gặp Giáng Kiều – mẫu 4
Nếu Tú Uyên là linh hồn của nỗi tương tư thì Giáng Kiều là linh hồn của phép màu trong đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều. Nàng là tiên nữ bước ra từ bức tranh, nhưng qua ngòi bút của tác giả, nàng lại mang vẻ đẹp tâm hồn của một người phụ nữ Việt: dịu dàng, đảm đang, đoan trang và thủy chung.
Giáng Kiều xuất hiện trước hết bằng những việc làm lặng lẽ. Trước khi lộ diện, nàng đã dọn cho Tú Uyên mâm cơm “bát trân”, “Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào”. Hành động âm thầm chăm lo ấy cho thấy nàng đã cảm tấm lòng chàng và đáp lại bằng sự chu đáo của người vợ hiền. Khi Tú Uyên bắt gặp, nàng hiện lên với vẻ đẹp ước lệ: “Nhơn nhơn mày liễu mặt hoa”.
Lời tự giới thiệu của Giáng Kiều bộc lộ sự khiêm nhường, tế nhị. Là tiên nữ, nàng vẫn tự nhận “Bồ liễu phận thường”, coi mình là phận nữ nhi mỏng manh. Nàng không kể lể nhiều mà nói gọn: “Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu / Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên”. Nàng giải thích cuộc gặp gỡ bằng mối duyên tiền định: “Ba sinh đã nặng vì duyên”, “Nhân duyên đã định từ xưa”. Trong quan niệm của nàng, tình yêu này là thiêng liêng, là sự sắp đặt của trời đất.
Vẻ đẹp nổi bật nhất ở Giáng Kiều là lòng thủy chung. Nàng thề: “Xin quyết gieo cầu / Tấm son thề với trên đầu xanh xanh”. Nàng khẳng định không theo thói lẳng lơ, “Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương”. Nhưng lời thề ấy đi kèm một nỗi lo rất người: “Một mai mưa gió bất tình / Vóc tàn nên để yến oanh hững hờ”. Nàng sợ khi nhan sắc phai tàn sẽ bị hờ hững. Nàng tiên mà mang nỗi lo của người phụ nữ trần gian – chi tiết ấy khiến nhân vật trở nên chân thực và gợi nhiều suy ngẫm về thân phận người phụ nữ xưa.
Giáng Kiều còn là người đoan trang, biết giữ mình. Khi Tú Uyên giả say lân la, nàng từ chối một cách khéo léo: nàng khẳng định “Túc trái tiền nhân” – tình duyên đã có từ kiếp trước, nhưng còn bạn bè chưa kịp từ biệt, và “Chữ duyên này trở về sau còn dài”. Lời lẽ mềm mỏng mà dứt khoát khiến chàng “Nghe lời nói cũng êm tai”. Nàng muốn tình yêu được vun đắp đàng hoàng, trọn vẹn.
Cuối cùng, Giáng Kiều là người mang phép màu hạnh phúc. Chỉ bằng một động tác “rút chiếc trâm đầu”, nàng khiến “Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài”, tiệc cưới linh đình với khách tiên áo mũ xiêm hài. Nàng biến giấc mơ của chàng thư sinh nghèo thành hiện thực.
Giáng Kiều là hình tượng giai nhân đẹp cả dung nhan lẫn tâm hồn. Qua nàng, tác giả gửi gắm quan niệm về người phụ nữ lí tưởng và khát vọng về một tình yêu thủy chung, bền vững.
Phân tích nghệ thuật đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều – mẫu 5
Sức hấp dẫn của đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều không chỉ nằm ở câu chuyện tình kì lạ mà còn ở nghệ thuật kể chuyện bằng thơ đặc sắc – nghệ thuật tiêu biểu của truyện thơ Nôm bác học.
Trước hết là thể lục bát nhuần nhị. Những cặp câu sáu – tám nối nhau đều đặn, vần nhịp uyển chuyển, rất hợp để vừa kể vừa ngâm. Các câu thơ như “Mâm chung một, đũa thêm hai / Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa” có nhịp cân đối, phép đối chỉnh (trao – mời, nguyệt – hoa) tạo âm hưởng êm ái, tình tứ.
Thứ hai là ngôn ngữ bác học, giàu điển tích. Để diễn tả nỗi nhớ, tác giả mượn hình ảnh “sông Tương”; để nói duyên vợ chồng có “tơ điều”, “Tơ trăng”, “Ba sinh”; để nói người yêu có “chúa Đông”, “chúa xuân”; để thề nguyền có “gieo cầu”, “Gieo thoi”, “Mái Tây”; cảnh tiệc tiên có “quỳnh tương”, “Vũ y”, “Nghê thường”. Những thi liệu này làm lời thơ trang trọng, hàm súc, thể hiện vốn học vấn của tác giả và mang đậm phong vị văn chương trung đại.
Thứ ba là bút pháp ước lệ kết hợp miêu tả tâm lí. Người đẹp được tả bằng “mày liễu mặt hoa”, “miệng đào” – những hình ảnh ước lệ quen thuộc. Nhưng tâm lí nhân vật lại được khắc họa tinh tế: nỗi si mê của Tú Uyên qua những hành động cụ thể, niềm vui vỡ òa “Bên mừng bên lệ”, nỗi lo xa của Giáng Kiều qua lời thề. Cảnh cũng được dùng để nói tình: “Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng” là cảnh thu mà cũng là nỗi buồn tương tư.
Thứ tư là yếu tố kì ảo đan xen hiện thực. Người bước ra từ tranh, mâm cơm tự bày, trâm cài hóa phép, am cỏ thành lâu đài – những chi tiết ấy tạo nên không khí huyền ảo, lôi cuốn. Nhưng câu chuyện lại diễn ra giữa Thăng Long với những địa danh có thật, nhân vật có sinh hoạt rất đời thường (đi học, ăn cơm, giả say). Sự đan cài ấy khiến câu chuyện vừa là giấc mơ vừa gần gũi, như có thể xảy ra ở ngay phố phường.
Cuối cùng là cách kể chuyện hấp dẫn với những tình tiết bất ngờ: từ nghi hoặc đến phát hiện, từ gặp gỡ đến thề nguyền rồi phép màu. Lời thoại của nhân vật được xây dựng khéo, mỗi người một giọng: Tú Uyên nồng nhiệt, Giáng Kiều khiêm nhường mà sâu sắc.
Nhờ những thành công nghệ thuật ấy, đoạn trích không chỉ kể một câu chuyện tình mà còn đem lại cho người đọc niềm say mê với vẻ đẹp của thơ Nôm – thứ ngôn ngữ vừa bác học vừa đậm hồn dân tộc.
Kết luận
Các bài văn mẫu phân tích Tú Uyên gặp Giáng Kiều trên đây giúp em nhìn đoạn trích từ nhiều phía: nỗi tương tư của Tú Uyên, vẻ đẹp tâm hồn Giáng Kiều, phép màu hạnh phúc và nghệ thuật truyện thơ Nôm. Khi viết bài, em nên bám vào dàn ý, chọn dẫn chứng tiêu biểu và nêu cảm nhận riêng của mình về khát vọng tình yêu mà đoạn trích gửi gắm.
Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều
- Truyện cổ tích Tú Uyên và Giáng Kiều
- Phân tích Lời tiễn dặn – truyện thơ dân gian cùng Bài 3
- Phân tích Trao duyên (Nguyễn Du) – một đỉnh cao của truyện thơ Nôm