Soạn bài Tú Uyên gặp Giáng Kiều (trích Bích Câu kì ngộ) giúp em trả lời đầy đủ, ngắn gọn các câu hỏi trang 63 – 68 SGK Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo tập một, Bài 3 Khát khao đoàn tụ (Truyện thơ). Mỗi câu trả lời đều bám sát văn bản, có dẫn chứng và giải thích các điển tích khó để em dễ ghi vở, ôn tập.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm vài thông tin cơ bản về tác phẩm và đoạn trích.

- Tác phẩm: Bích Câu kì ngộ (Cuộc gặp gỡ lạ lùng ở Bích Câu) là truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát, kể mối tình giữa chàng thư sinh Trần Tú Uyên và nàng tiên Giáng Kiều ở đất Bích Câu, kinh thành Thăng Long.
- Tác giả: từ lâu tác phẩm được xem là khuyết danh; một số nhà nghiên cứu (như Trần Văn Giáp) cho rằng người viết là Vũ Quốc Trân, sống khoảng giữa thế kỉ XIX, và sách giáo khoa ghi theo ý kiến này.
- Nguồn gốc cốt truyện: câu chuyện vốn có bản chữ Hán, được chuyển thành truyện thơ Nôm; tên đất, tên người, đền chùa trong truyện đều là của Thăng Long xưa (chùa Ngọc Hồ, đình Quảng Văn, đền Bạch Mã, Cầu Đông).
- Vị trí đoạn trích: thuộc hồi thứ hai của truyện, kể từ lúc Tú Uyên mua được bức tranh tố nữ đem về treo cho đến khi Giáng Kiều hóa phép, tổ chức tiệc cưới.
- Thể loại: truyện thơ Nôm bác học, thể lục bát.
- Nội dung chính: nỗi tương tư của Tú Uyên, cuộc gặp gỡ kì lạ giữa chàng và người đẹp bước ra từ tranh, lời giãi bày về duyên tiền định cùng lời thề thủy chung của Giáng Kiều; qua đó thể hiện khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi.
Bố cục đoạn trích (có thể chia 3 phần):
- Phần 1 (từ đầu đến “Khách tiên chưa dễ qua vòng ái ân!”): nỗi tương tư của Tú Uyên bên bức tranh tố nữ.
- Phần 2 (tiếp theo đến hết lời Tú Uyên “Đã rằng: tác hợp duyên trời…”): Tú Uyên phát hiện người trong tranh, hai người gặp gỡ, Giáng Kiều cho biết tên tuổi và duyên tiền định.
- Phần 3 (còn lại): lời thề thủy chung của Giáng Kiều, cảnh nàng hóa phép và tiệc cưới linh đình.
Chuẩn bị đọc
Câu 1: Thế nào là “người đẹp trong tranh” hay “người đẹp như tranh”? (trang 63)
Theo bạn, thế nào là “người đẹp trong tranh” hay “người đẹp như tranh”? Hãy thử chia sẻ tưởng tượng của bạn về hình ảnh người đẹp bước ra từ một bức tranh.
Trả lời:
- “Người đẹp trong tranh” là hình ảnh người đẹp do họa sĩ vẽ ra, mang vẻ đẹp lí tưởng, hoàn hảo theo quan niệm thẩm mĩ của người xưa. Còn “người đẹp như tranh” là cách khen một người thật có dung nhan, dáng vẻ đẹp đến mức tưởng như bước ra từ bức họa.
- Tưởng tượng của em: trong căn phòng yên tĩnh, bức tranh bỗng sáng dịu lên, người thiếu nữ khẽ động hàng mi rồi nhẹ nhàng bước xuống. Nàng mặc áo lụa màu nhạt, tóc vấn gọn, dáng đi uyển chuyển, nụ cười e ấp. Nàng vừa có vẻ thanh cao, khác người thường, vừa gần gũi như đang muốn trò chuyện với người đã ngày đêm ngắm nhìn mình.
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu 1: Tình cảm của chàng Tú Uyên trong đoạn đầu (trang 64)
Suy luận: Bạn có nhận xét gì về tình cảm của chàng Tú Uyên thể hiện trong đoạn này?
Trả lời:
- Tú Uyên say mê, si tình đến mức coi bức tranh như người thật: “Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi”, bữa ăn thì “Mâm chung một, đũa thêm hai”, đêm trăng thì “Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa”.
- Nỗi nhớ thương kéo dài khiến chàng héo hon: “Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn”, “Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?”.
- Chàng sẵn sàng đánh đổi tất cả để được gặp người đẹp: “Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?”, thậm chí muốn “bẻ khoá cung trăng” để được thấy mặt “chị Hằng”.
⇒ Đó là một tình yêu say đắm, chân thành, pha chút ngây thơ và mộng tưởng của chàng thư sinh nghèo; tình cảm ấy mãnh liệt đến mức như làm lay động cả người trong tranh.
Câu 2: Khung cảnh trước và sau khi Giáng Kiều làm phép (trang 67)
Tưởng tượng: Hãy hình dung sự thay đổi của khung cảnh trước và sau khi nàng tiên Giáng Kiều làm phép.
Trả lời:
- Trước khi làm phép: đó là căn nhà nhỏ đơn sơ của chàng học trò nghèo – một “Thảo am” (am cỏ) vắng vẻ, chỉ có Tú Uyên với bức tranh treo trên vách, những bữa cơm đạm bạc và chuỗi ngày tương tư buồn bã.
- Sau khi làm phép: Giáng Kiều rút chiếc trâm cài đầu, lập tức có “đôi hầu theo ra”, tiệc hoa được bày biện với “Bình trầm đưa khói, chén hà đậm hương”. Mây kéo quanh nhà, “Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài”, ánh sáng điềm lành rực rỡ “sáng một góc trời”. Khách khứa áo mũ xiêm hài đông vui, người nói người cười, tiên nữ múa khúc Nghê thường thướt tha.
⇒ Khung cảnh chuyển từ nghèo nàn, lặng lẽ sang lộng lẫy, huyền ảo, rộn ràng như cõi tiên – một đám cưới trong mơ của chàng thư sinh.
Suy ngẫm và phản hồi
Câu 1: Cốt truyện Bích Câu kì ngộ được xây dựng theo mô hình nào? (trang 67)
Dựa vào nội dung tóm tắt, cho biết cốt truyện của Bích Câu kì ngộ được xây dựng theo mô hình nào.
Trả lời:
Cốt truyện được xây dựng theo mô hình quen thuộc của truyện thơ Nôm: gặp gỡ – chia li (tai biến) – đoàn tụ.
- Gặp gỡ: Tú Uyên gặp người đẹp ở hội chùa Ngọc Hồ, tương tư, mua được bức tranh tố nữ; người trong tranh hiện ra, xưng là tiên nữ Giáng Kiều và kết duyên cùng chàng.
- Chia li: sống hạnh phúc ít lâu, Tú Uyên sa vào rượu chè, Giáng Kiều khuyên can không được nên bỏ đi.
- Đoàn tụ: Tú Uyên hối hận, định quyên sinh thì Giáng Kiều trở về tha thứ; về sau hai vợ chồng cùng cưỡi hạc lên tiên.
Cái kết đôi lứa cùng về cõi tiên làm cho mô hình quen thuộc mang thêm màu sắc kì ảo, thoát tục.
Câu 2: Chi tiết có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản (trang 67)
Chỉ ra chi tiết có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Trả lời:
Chi tiết quan trọng nhất là người đẹp bước ra từ bức tranh: “Bỗng đâu thấy sự lạ đời / Trong tranh sao có bóng người vào ra?”.
- Đây là nút mở của câu chuyện: từ đây nỗi tương tư của Tú Uyên được đền đáp, cuộc gặp gỡ và mối lương duyên mới diễn ra.
- Chi tiết kì ảo này cho thấy tình yêu chân thành, bền bỉ có sức mạnh làm điều không thể thành có thể; đồng thời thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi và mơ ước đổi đời của người học trò nghèo.
- Bức tranh tố nữ còn gắn với tranh dân gian (tranh tố nữ bán ngày Tết), làm câu chuyện đậm màu sắc Thăng Long, gần gũi với người Việt.
Bên cạnh đó, chi tiết Giáng Kiều rút trâm hóa phép biến am cỏ thành lâu đài cũng có ý nghĩa: nó khẳng định nàng là tiên và biến ước mơ hạnh phúc thành hiện thực huy hoàng.
Câu 3: Đặc điểm của nhân vật Tú Uyên và Giáng Kiều (trang 67)
Phân tích đặc điểm của nhân vật Tú Uyên và Giáng Kiều thể hiện qua văn bản.
Trả lời:
| Nhân vật | Đặc điểm và dẫn chứng |
| Tú Uyên | – Thư sinh nghèo, chăm việc học (“Một khi ra việc trường văn”). – Si tình, lãng mạn, coi tranh như người thật; tương tư đến héo hon (“ruột héo, gan mòn”). – Tò mò, nhanh nhạy: thấy mâm cơm lạ thì “lòng nào chẳng nghi”, bèn giả đi rồi quay về rình xem. – Bộc trực, nồng nhiệt khi gặp người trong mộng: “Vội vàng đánh tiếng ra chào / Bên mừng bên lệ, xiết bao là tình!”; có lúc hơi vội vàng, suồng sã (“Giả say sinh mới toan đường lần khân”) nhưng biết chiều lòng người mình yêu. |
| Giáng Kiều | – Tiên nữ xinh đẹp: “Nhơn nhơn mày liễu mặt hoa”. – Đảm đang, dịu dàng: lặng lẽ dọn “bát trân” cho chàng. – Khiêm nhường, tế nhị: tự nhận “Bồ liễu phận thường”; nói về duyên “Ba sinh” một cách kín đáo. – Coi trọng lời thề, đức thủy chung, lo xa cho hạnh phúc lâu bền (“Tấm son thề với trên đầu xanh xanh”). – Đoan trang, có chừng mực: khéo léo khước từ khi chàng “lần khân”, hẹn “Chữ duyên này trở về sau còn dài”. |
⇒ Hai nhân vật tiêu biểu cho kiểu “tài tử – giai nhân” của truyện thơ Nôm, nhưng được miêu tả sinh động, có tâm lí riêng: chàng say mê, bộc trực; nàng dịu dàng, sâu sắc và biết giữ gìn.
Câu 4: Thái độ, tình cảm của Giáng Kiều qua lời thoại (trang 67)
Nhận xét về cách thể hiện thái độ, tình cảm của nhân vật Giáng Kiều qua lời thoại:
Thưa rằng: “Túc trái tiền nhân
Không dưng dễ xuống cõi trần làm chi
Song còn mấy bạn tương tri
Bấy lâu chưa có chút gì là đâu
Trước xin từ biệt cùng nhau
Chữ duyên này trở về sau còn dài”
Trả lời:
- Hoàn cảnh lời thoại: trong tiệc hoa, Tú Uyên giả say, có ý lân la gần gũi. Giáng Kiều cần từ chối mà không làm chàng phật ý.
- Cách nói khéo léo, tế nhị: trước hết nàng khẳng định tình cảm – mình xuống trần là vì “Túc trái tiền nhân” (nợ duyên từ kiếp trước), không phải chuyện vô cớ. Sau đó nàng mới nêu lí do chưa thể chiều chàng: còn mấy người bạn tri kỉ chưa kịp giã biệt. Cuối cùng là lời hẹn ước: duyên của hai người “trở về sau còn dài”.
- Thái độ, tình cảm: Giáng Kiều yêu Tú Uyên thật lòng nhưng đoan trang, giữ gìn, coi trọng lễ nghĩa; nàng muốn tình yêu được vun đắp đàng hoàng, bền lâu chứ không vội vàng. Giọng nói vừa mềm mỏng vừa dứt khoát khiến chàng “Nghe lời nói cũng êm tai” và vui vẻ chiều lòng.
Câu 5: Dấu hiệu cho thấy đây là truyện thơ Nôm bác học (trang 68)
Dấu hiệu nào trong văn bản cho thấy đây là truyện thơ Nôm bác học?
Trả lời:
- Thể thơ: văn bản viết bằng thể lục bát trau chuốt, vần nhịp chặt chẽ, dùng để kể chuyện.
- Ngôn ngữ: dày đặc từ Hán Việt, điển tích, thi liệu văn chương bác học: “sông Tương”, “bát trân”, “Bồ liễu”, “Ba sinh”, “Tơ trăng”, “chúa xuân”, “Gieo thoi”, “Mái Tây”, “quỳnh tương”, “Vũ y”, “Nghê thường”…
- Bút pháp: ước lệ, tượng trưng khi tả người đẹp (“mày liễu mặt hoa”, “miệng đào”); kết hợp kể chuyện với miêu tả nội tâm, tả cảnh ngụ tình (“Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng”).
- Nhân vật và đề tài: mô típ tài tử – giai nhân, tình yêu lứa đôi, người trần gặp tiên – đề tài quen thuộc của truyện Nôm do trí thức nho học sáng tác.
- Tác giả: là người có học (dù khuyết danh hay được xác định là Vũ Quốc Trân), khác với truyện thơ dân gian như Lời tiễn dặn vốn là sáng tác tập thể, lời thơ mộc mạc, giàu hình ảnh đời sống.
Câu 6: Thông điệp tác giả muốn gửi đến người đọc (trang 68)
Thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc là gì?
Trả lời:
- Tình yêu chân thành, bền bỉ có sức mạnh kì diệu, có thể xóa nhòa ranh giới giữa trần và tiên, giữa mộng và thực.
- Con người có quyền khát khao và theo đuổi hạnh phúc lứa đôi tự do, tự nguyện.
- Hạnh phúc cần được xây dựng trên sự thủy chung, tôn trọng và biết giữ gìn; lời lo xa của Giáng Kiều về cảnh “Một mai mưa gió bất tình” là lời nhắc: có được hạnh phúc đã khó, giữ được hạnh phúc còn khó hơn (điều sau này ứng nghiệm khi Tú Uyên sa vào rượu chè).
Câu 7: Bài tập sáng tạo – diễn xuôi đoạn trích (trang 68)
Hãy diễn xuôi đoạn trích này và nhận xét sự khác biệt giữa đoạn trích và đoạn diễn xuôi về hiệu quả thể hiện nội dung của tác phẩm.
Trả lời:
Đoạn diễn xuôi tham khảo:
Mua được bức tranh tố nữ, Tú Uyên đem về treo nơi thư phòng. Từ đó sớm tối chàng chỉ quanh quẩn bên tranh, bữa ăn bày thêm bát đũa, đêm trăng thì ngâm thơ, rót rượu mời người trong tranh. Mùa thu đến, sương sa lá rụng, nỗi nhớ càng da diết. Chàng thủ thỉ kể với tranh chuyện nhà, chuyện mình, than rằng từ ngày gặp nàng, chàng mơ tưởng đến héo hon, chỉ mong được thấy nàng cười. Lạ thay, người trong tranh như khẽ mấp máy môi, nét mặt tươi tắn hẳn lên.
Một hôm đi học về, Tú Uyên thấy mâm cơm thịnh soạn, thơm ngát đã bày sẵn. Chàng sinh nghi, sáng hôm sau giả vờ đi học rồi quay về rình xem. Chàng thấy người thiếu nữ trong tranh bước ra trang điểm, bèn khẽ đẩy cửa vào chào, vừa mừng vừa rơm rớm nước mắt. Nàng cho biết mình là tiên nữ Giáng Kiều, vì có duyên từ kiếp trước nên xuống trần kết nghĩa cùng chàng. Nàng thề giữ trọn thủy chung, chỉ mong chàng đừng phụ bạc. Nói xong, nàng rút trâm hóa phép: người hầu hiện ra, tiệc hoa bày biện, căn nhà tranh biến thành lâu đài rực rỡ, bạn bè tiên giới kéo đến chúc mừng đôi tân hôn.
Nhận xét:
- Đoạn diễn xuôi giúp người đọc nắm nhanh trình tự sự việc, dễ hiểu, dễ theo dõi.
- Đoạn thơ lục bát giàu nhạc điệu, cô đọng, gợi nhiều hơn tả; các điển tích, hình ảnh ước lệ và lời thoại trau chuốt thể hiện tinh tế tâm trạng nhân vật (nỗi tương tư, sự e ấp, lời thề nguyền), tạo không khí lãng mạn, huyền ảo mà văn xuôi khó chuyển tải hết. Thơ cũng dễ thuộc, dễ ngâm, phù hợp cách thưởng thức truyện Nôm của người xưa.
Giải thích một số từ ngữ, điển tích trong đoạn trích
- Song hồ: cửa sổ dán giấy; họa đồ: bức tranh.
- Phát phu: tóc và da – ý nói người trong tranh như có da có thịt, như người thật.
- Sông Tương: gợi tích hai bà Nga Hoàng, Nữ Anh khóc vua Thuấn bên sông Tương, chỉ nỗi nhớ thương da diết.
- Bát trân: tám món ăn quý, chỉ mâm cỗ sang trọng.
- Bồ liễu: cây bồ, cây liễu – thân phận mềm yếu của người con gái; tơ điều: sợi tơ đỏ, chỉ duyên vợ chồng.
- Ba sinh: ba kiếp; tơ trăng: tơ hồng của ông Tơ bà Nguyệt se duyên.
- Chúa Đông, chúa xuân: thần mùa xuân, ở đây chỉ người con trai mà cô gái trao duyên.
- Gieo cầu: tục ném quả cầu kén chồng; lửa hương: tình nghĩa vợ chồng gắn bó.
- Quỳnh tương: rượu quý; lần khân: lân la, dùng dằng có ý gạ gẫm.
- Túc trái tiền nhân: món nợ duyên từ kiếp trước; tương tri: bạn hiểu lòng nhau.
- Thảo am: am cỏ, nhà tranh; tường quang: ánh sáng điềm lành.
- Vũ y, Nghê thường: gợi khúc múa Nghê thường vũ y – điệu múa áo lông, xiêm cầu vồng nơi cung tiên.
Kết luận
Soạn bài Tú Uyên gặp Giáng Kiều giúp em hiểu vẻ đẹp của một đoạn truyện thơ Nôm bác học: câu chuyện tình kì ảo giữa chàng thư sinh và nàng tiên, lời thơ lục bát trau chuốt, nhân vật có tâm lí sinh động. Đằng sau màu sắc huyền thoại là khát vọng tình yêu tự do, hạnh phúc thủy chung – niềm khao khát rất đời của con người Thăng Long xưa.
Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều
- Truyện cổ tích Tú Uyên và Giáng Kiều – đọc trọn câu chuyện dân gian
- Soạn bài Lời tiễn dặn – văn bản đọc đầu tiên của Bài 3
- Soạn bài Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu
- Soạn văn 11 Chân trời sáng tạo