Bài soạn Một thứ quà của lúa non: Cốm (Thạch Lam) dưới đây trả lời 6 câu Đọc – hiểu ở trang 162 – 163 và phần Luyện tập của sách Ngữ văn 7 tập một chương trình cũ, Bài 14. Lưu ý: văn bản này khác với bài Cốm Vòng của Vũ Bằng trong sách Chân trời sáng tạo mới. Các bài học khác của khối 7 có tại chuyên mục Ngữ văn lớp 7.
Tìm hiểu chung về tùy bút Một thứ quà của lúa non: Cốm
Trước khi soạn, em nên nắm sơ lược về tác giả, xuất xứ và bố cục của bài tùy bút.

Tác giả Thạch Lam
Thạch Lam (1910 – 1942), tên khai sinh Nguyễn Tường Vinh, sinh ở Hà Nội, là thành viên nhóm Tự lực văn đoàn. Ông được nhớ đến qua nhiều truyện ngắn trữ tình như Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan và những trang tùy bút tinh tế về Hà Nội. Ông viết chủ yếu bằng cảm giác, nhẹ nhàng mà lắng sâu. Xem thêm bài Tác giả Thạch Lam: cuộc đời và sự nghiệp.
Xuất xứ, thể loại
- Xuất xứ: bài viết rút từ tập Hà Nội băm sáu phố phường (in năm 1943), tập tùy bút ghi lại cảnh sắc và những thức quà, phong vị của Hà Nội.
- Thể loại: tùy bút.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm là chủ yếu, kết hợp miêu tả, thuyết minh và bình luận.
Bố cục 3 đoạn
- Đoạn 1 (từ đầu đến hình ảnh chiếc đòn gánh của cô hàng cốm làng Vòng): từ hương lúa non, tác giả nhắc tới cốm và nơi cốm ra đời.
- Đoạn 2 (tiếp theo đến câu hỏi về vẻ cao quý “kín đáo và nhũn nhặn”): giá trị của cốm, tục dùng hồng và cốm làm đồ sêu tết.
- Đoạn 3 (phần cuối): nên thưởng thức cốm ra sao.
Hướng dẫn soạn bài Một thứ quà của lúa non: Cốm
Phần Đọc – hiểu có 6 câu, mỗi câu dưới đây chép lại đề rồi đến phần trả lời.
Câu 1: Bài tùy bút nói về cái gì, dùng phương thức biểu đạt nào? (trang 162)
Bài tuỳ bút nói về cái gì? Để nói về đối tượng ấy, tác giả đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào (miêu tả, thuyết minh, bình luận)? Phương thức biểu đạt nào là chủ yếu? Bài văn có mấy đoạn? Nội dung chính của mỗi đoạn là gì?
Trả lời:
- Đối tượng: cốm, thức quà làm từ lúa non, đặc sản của đất Hà Nội (làng Vòng).
- Phương thức biểu đạt: miêu tả (hương lúa, màu cốm), thuyết minh (cách làm cốm, nguồn gốc), bình luận (về tục sêu tết, cách thưởng thức) và biểu cảm. Biểu cảm là chủ yếu: mọi chi tiết đều thấm cảm xúc yêu mến, trân trọng của tác giả.
- Bố cục: 3 đoạn như đã chia ở trên: nguồn gốc của cốm; giá trị của cốm và tục lệ hồng – cốm; cách thưởng thức cốm.
Câu 2: Đoạn mở đầu bài viết về cốm (trang 162)
Đọc đoạn văn từ đầu đến “trong sạch của Trời” và cho biết: Tác giả đã mở đầu bài viết về cốm bằng những hình ảnh, chi tiết nào? Những cảm giác, ấn tượng nào của tác giả đã tạo nên tính biểu cảm của đoạn văn?
Trả lời:
- Hình ảnh mở đầu: làn gió mùa hạ thổi qua hồ sen mang theo hương lá; mùi thơm từ những ruộng lúa non; hạt lúa còn ngậm sữa. Tác giả viết: “Cơn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá”, rồi liên tưởng tới hạt lúa: “Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ”.
- Cảm giác, ấn tượng: chủ yếu là khứu giác (hương sen, hương lúa, hương sữa), kèm thị giác (màu xanh của lúa, của lá), xúc giác (làn gió). Tất cả hòa quyện thành một cảm nhận tinh khiết, trong trẻo. Giọng văn nhẹ, chậm, giàu nhịp điệu khiến đoạn văn như một khúc thơ văn xuôi.
Câu 3: Tục dùng hồng, cốm làm đồ sêu tết (trang 162)
Tác giả nhận xét như thế nào về tục lệ dùng hồng, cốm làm đồ sêu tết của nhân dân ta? Sự hòa hợp, tương xứng của hai thứ ấy đã được phân tích trên những phương diện nào?
Trả lời:
- Nhận xét: tác giả cho đây là một tục lệ rất đẹp, hợp lẽ tự nhiên và giàu ý nghĩa; hồng và cốm là “tốt đôi”, tượng trưng cho sự gắn bó lâu bền của đôi lứa.
- Về màu sắc: cốm xanh tươi “như ngọc thạch quý”, hồng đỏ thắm như ngọc lựu già; hai màu một tươi một đậm làm nổi bật nhau.
- Về hương vị: “Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được lâu”. Sự bổ sung ấy được tác giả ví với sự hòa hợp trong hôn nhân.
Câu 4: Cảm nhận về nhận xét “Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước” (trang 163)
“Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam”. Em cảm nhận như thế nào về nhận xét ấy của tác giả?
Trả lời:
Nhận xét ấy vừa đúng vừa sâu sắc. Cốm làm từ hạt lúa non, kết tinh từ cánh đồng, từ bàn tay khéo léo của người làng Vòng, nên mang trọn hương vị quê hương: mộc mạc mà thanh khiết. Gọi cốm là “thức dâng” của đồng lúa, tác giả coi nó như món quà mà đất trời và người nông dân trao tặng, đáng được nâng niu. Cụm từ “riêng biệt của đất nước” khẳng định cốm là nét văn hóa ẩm thực độc đáo của người Việt. Qua đó, em cảm nhận được tình yêu quê hương và niềm tự hào dân tộc trong từng câu chữ của Thạch Lam.
Câu 5: Bàn về sự thưởng thức cốm (trang 163)
Đoạn văn sau của bài văn (từ “Cốm không phải thức quà của người vội” đến hết) bàn về sự thưởng thức cốm. Sự tinh tế và thái độ trân trọng của tác giả đối với việc thưởng thức một món quà bình dị đã được thể hiện như thế nào trong bài?
Trả lời:
- Cách thưởng thức tinh tế: ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ để cảm hết cái thơm của lúa non, cái mát của lá, cái ngọt dịu của hạt.
- Thái độ trân trọng: theo tác giả, mua cốm cũng phải nhẹ nhàng, nâng niu, không nên thọc tay hay mân mê làm hỏng hạt cốm. Ông khuyên người thưởng thức hãy kính trọng lộc của trời, sự khéo léo của người làm cốm và công sức nhẫn nại của cây lúa; có như vậy sự thưởng thức mới trang nhã, đẹp đẽ.
- Đó là thái độ của một người hiểu rằng thưởng thức một món ăn cũng là thưởng thức văn hóa, là biết trân trọng những giá trị giản dị của dân tộc.
Câu 6: Nét đặc sắc của ngòi bút Thạch Lam (trang 163)
Bài văn thể hiện nét đặc sắc của ngòi bút Thạch Lam là thiên về cảm giác tinh tế, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Em hãy tìm và phân tích một số ví dụ cụ thể trong bài văn để chứng minh nhận xét đó.
Trả lời:
- Cảm giác về hương: chỉ một làn gió qua hồ sen cũng gợi cho tác giả mùa cốm sắp về; ông cảm được cả hương thơm trong hạt lúa còn ngậm sữa.
- Cảm giác về màu: màu xanh của cốm được so với ngọc thạch, màu đỏ của hồng với ngọc lựu; hai màu đặt cạnh nhau như một bức tranh hài hòa.
- Cảm giác về vị: ông phân biệt vị thanh đạm của cốm và vị ngọt sắc của hồng, thấy hai vị “nâng đỡ nhau”.
- Cảm giác trong cách thưởng thức: nhận ra cái dịu dàng của cốm chỉ khi ăn chậm, ăn ít, ngẫm nghĩ.
Những cảm giác ấy được diễn đạt bằng giọng văn chậm rãi, nhẹ nhàng nhưng lắng đọng, cho thấy tâm hồn nhạy cảm và tình yêu tha thiết của Thạch Lam với những nét đẹp bình dị của Hà Nội.
Luyện tập
Phần Luyện tập yêu cầu em sưu tầm những câu thơ, câu văn, ca dao có nhắc tới cốm.
Câu 1: Sưu tầm thơ, ca dao nói về cốm
Sưu tầm một số câu thơ, ca dao có nói đến cốm.
Trả lời: (gợi ý)
- Thành ngữ dân gian “Hồng cốm tốt đôi” nói về sự xứng hợp trong hôn nhân, gắn với tục sêu tết bằng hồng và cốm.
- Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi mở đầu bằng hình ảnh gió mùa thu mang hương cốm mới, gợi nhớ những ngày thu Hà Nội.
- Tùy bút Cốm Vòng (trong Miếng ngon Hà Nội) của Vũ Bằng cũng dành nhiều trang thương nhớ cho thức quà này.
- Nhiều bài hát về Hà Nội nhắc tới mùa thu với hương cốm, hoa sữa; em có thể ghi lại vài câu mình yêu thích.
Kết luận
Soạn bài Một thứ quà của lúa non: Cốm, em cần nắm bố cục ba đoạn, các phương thức biểu đạt, cách tác giả đánh giá cốm và tục lệ hồng – cốm, cách thưởng thức tinh tế cùng nét đặc sắc của ngòi bút Thạch Lam: nghiêng về cảm giác, nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Xem thêm: