Ôn tập giữa học kì 1 là Bài 5 trong sách Tiếng Việt lớp 3 Cánh diều tập 1, trang 59–65, gồm 7 tiết. Bài giải dưới đây đi lần lượt từng tiết, có gợi ý trả lời mọi câu hỏi, bài tập và đoạn văn tham khảo cho các đề viết.

Tuần ôn tập giữa học kì 1 gồm những gì?
Sách in tên bài là “ÔN TẬP GIỮA HỌC KÌ I”. Tuần này giúp em tự kiểm tra những gì đã học ở chủ điểm Măng non (Bài 1 đến Bài 4):
- Tiết 1 đến tiết 5: mỗi tiết mở đầu bằng phần đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng; sau đó là một bài tập: xếp tên riêng theo bảng chữ cái (tiết 1), đọc bài thơ Ngày em vào Đội (tiết 2), viết đoạn văn (tiết 3), nghe – viết bài thơ Bà và xếp từ vào nhóm (tiết 4), nghe và kể chuyện Con yêu mẹ (tiết 5).
- Tiết 6 (bài luyện đọc hiểu): đọc truyện Ba anh em và làm bài tập.
- Tiết 7 (bài luyện viết): chọn 1 trong 2 đề để viết đoạn văn.
Kiến thức được ôn: thứ tự bảng chữ cái, từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm, từ có nghĩa giống nhau và trái ngược nhau, hình ảnh so sánh, cách viết đoạn văn kể chuyện.
Tiết 1 (trang 59)
Câu 1 (trang 59): Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng: Mỗi học sinh đọc một đoạn văn, đoạn thơ khoảng 60 – 65 tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn thơ (bài thơ) đã học.
Trả lời: Em chọn một đoạn trong các bài đọc từ Bài 1 đến Bài 4. Bài nào có liên kết là bài đã có lời giải chi tiết, em bấm vào để ôn lại:
| Bài | Bài đọc đã học |
| Bài 1. Chào năm học mới | Ngày khai trường, Lễ chào cờ đặc biệt, Bạn mới, Mùa thu của em |
| Bài 2. Em đã lớn | Nhớ lại buổi đầu đi học, Con đã lớn thật rồi, Giặt áo, Bài tập làm văn |
| Bài 3. Niềm vui của em | Con heo đất, Thả diều, Chú gấu Mi-sa, Hai bàn tay em |
| Bài 4. Mái ấm gia đình | Ngưỡng cửa, Cha sẽ luôn ở bên con, Quạt cho bà ngủ, Ba con búp bê |
Cách luyện đọc:
- Mỗi ngày đọc to 2 – 3 đoạn, mỗi đoạn khoảng 60 – 65 tiếng. Đọc rõ từng tiếng, nghỉ hơi ở dấu phẩy, dấu chấm.
- Với bài thơ, học thuộc từng khổ: đọc nhiều lần rồi che sách đọc lại.
- Đọc xong, tự hỏi mình một câu về nội dung đoạn đó, vì thầy cô thường hỏi thêm.
Câu 2 (trang 59): Sắp xếp các tên riêng sau đây theo thứ tự trong bảng chữ cái:
Nga, Cường, Nghĩa, Tùng, Kiên, Chiến, Nam, Thanh, Khánh, Trung.
Trả lời: Chiến – Cường – Khánh – Kiên – Nam – Nga – Nghĩa – Thanh – Trung – Tùng.
Cách làm: xếp theo chữ cái đầu (C, K, N, T). Tên nào cùng chữ cái đầu thì so tiếp chữ thứ hai, thứ ba:
- Chiến đứng trước Cường vì h đứng trước ư; Khánh đứng trước Kiên vì h đứng trước i.
- Nam đứng trước Nga (a trước g); Nga đứng trước Nghĩa (chữ thứ ba: a trước h).
- Thanh – Trung – Tùng: h trước r, r trước u.
Tiết 2: Đọc bài thơ Ngày em vào Đội (trang 59–60)
Câu 1 (trang 59): Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng.
Trả lời: Em tiếp tục đọc một đoạn văn hoặc đọc thuộc một khổ thơ trong bảng ở tiết 1, chú ý đọc đúng các tiếng khó và giữ giọng đều.
Câu 2 (trang 59–60): Đọc và trả lời câu hỏi: Ngày em vào Đội
Bài thơ của Xuân Quỳnh có 5 khổ, mỗi khổ 4 dòng, là lời người chị nói với em trong ngày em được kết nạp Đội. Câu hỏi:
1) Bài thơ là lời của ai nói với ai, nhân dịp gì?
2) Em hiểu 2 dòng thơ “Màu khăn đỏ dắt em / Bước qua thời thơ dại.” như thế nào? Chọn ý đúng:
a) Màu đỏ của chiếc khăn quàng sẽ giúp em khôn lớn.
b) Chiếc khăn quàng đỏ sẽ giúp em bước qua thời thơ dại.
c) Lễ kết nạp Đội đánh dấu bước trưởng thành của em.
3) Tìm những hình ảnh đẹp gợi tả tương lai ở các khổ thơ 3 và 4.
4) Em hiểu 2 dòng thơ cuối bài như thế nào? Chọn ý đúng:
a) Chị tin là em đang có những ước mơ đẹp.
b) Chị chúc em có những ước mơ đẹp.
c) Chị căn dặn em thực hiện những ước mơ đẹp.
5) Em thích hình ảnh so sánh nào trong bài thơ? Vì sao?
Trả lời:
- 1) Đó là lời của người chị (đã lớn, qua tuổi Đoàn) nói với em của mình, nhân ngày em được kết nạp vào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
- 2) Chọn c. Được đeo khăn quàng đỏ, trở thành đội viên là một mốc quan trọng: em đã lớn hơn, không còn bé bỏng như trước.
- 3) Khổ 3 có bầu trời xanh đang chờ em khi em mở cửa, cánh buồm, mặt biển, dòng sông như đang gọi em đi xa. Khổ 4 có nắng vườn trưa rộng mênh mông, bướm bay vui như lời hát và con tàu – đất nước – chở mọi người tới bến xa. Các hình ảnh ấy cho thấy tương lai của em rộng mở, tươi sáng.
- 4) Chọn a. Chị tin rằng từ ngày quàng khăn đỏ, trong em đã bắt đầu có những khao khát, ước mơ đẹp.
- 5) Em có thể chọn một trong các hình ảnh so sánh: màu khăn so với lời ru; cánh buồm so với tiếng gọi; bướm bay so với lời hát; con tàu so với đất nước. Ví dụ: Em thích hình ảnh màu khăn đỏ được so sánh với lời ru vì nó cho thấy chiếc khăn quàng gần gũi, thân thương, luôn ở bên em như tiếng ru của mẹ.
Tiết 3: Viết đoạn văn (trang 61)
Câu 1 (trang 61): Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng.
Trả lời: Em đọc một đoạn hoặc đọc thuộc một bài thơ chưa đọc ở hai tiết trước để ôn được nhiều bài hơn.
Câu 2 (trang 61): Chọn 1 trong 2 đề sau:
a) Viết đoạn văn kể về một tiết học em thích.
b) Viết đoạn văn kể lại một cuộc nói chuyện điện thoại của em.
Hình bàn tay trong sách nhắc 5 bước viết: 1. Viết về gì? – 2. Tìm ý – 3. Sắp xếp ý – 4. Viết – 5. Hoàn chỉnh.
Trả lời: Em chọn một đề, nghĩ xem kể việc gì, ghi nhanh các ý theo thứ tự trước – sau rồi mới viết thành đoạn khoảng 5 – 7 câu.
Đoạn văn tham khảo (đề a):
Em thích nhất tiết Tự nhiên và Xã hội hôm thứ Tư vừa rồi. Hôm ấy, cô cho cả lớp ra vườn trường để quan sát các loài cây. Nhóm em được giao tìm hiểu cây bàng ở góc sân. Chúng em đo thân cây bằng sợi dây, nhặt lá rụng và ghi lại màu sắc của lá. Bạn Minh còn phát hiện một tổ kiến nhỏ dưới gốc cây. Cuối giờ, các nhóm lên kể lại những gì mình thấy. Tiết học trôi qua thật nhanh và em đã biết thêm nhiều điều mới.
Đoạn văn tham khảo (đề b):
Tối chủ nhật, em gọi điện thoại cho bà nội ở quê. Em bấm số, chờ một lúc thì nghe giọng bà. Em chào bà rồi hỏi bà có khỏe không, vườn rau của bà ra sao. Bà cười, kể rằng mấy luống cải đã lên xanh mướt. Em khoe với bà là em vừa được cô giáo khen vì đọc bài to, rõ. Trước khi tắt máy, bà dặn em chăm ngoan, nghe lời bố mẹ. Em hứa với bà và chúc bà ngủ ngon. Nói chuyện với bà xong, em thấy rất vui.
Tiết 4: Nghe – viết bài thơ Bà, xếp từ vào nhóm (trang 61–62)
Câu 1 (trang 61): Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng.
Trả lời: Em đọc thêm một bài em còn đọc chậm, rồi nhờ người thân nghe và nhận xét.
Câu 2 (trang 61): Nghe – viết: Bà
Bài thơ Bà của Phan Quế có 10 dòng, viết theo thể lục bát (một dòng 6 tiếng, một dòng 8 tiếng). Bài kể chuyện bà ở quê ra thành phố, mang theo quà quê.
Trả lời: Em nghe thầy cô đọc rồi viết vào vở. Lưu ý:
- Dòng 6 tiếng viết lùi vào khoảng 2 ô, dòng 8 tiếng viết sát lề hơn. Chữ đầu mỗi dòng viết hoa.
- Chú ý các tiếng dễ viết sai: bưởi, xe cọ, lấm lưng, bồng, rộn, vườn.
- Viết đúng dấu phẩy và dấu ba chấm ở cuối dòng 8.
Câu 3 (trang 62): Xếp các từ ngữ dưới đây vào nhóm thích hợp:
Các quả bưởi trên cây ghi: bồng, rộn, núi, cầu, bưởi, đi, bế, cao, đón, xe, áo, lấm. Ba cái giỏ: Sự vật – Hoạt động – Đặc điểm.
Trả lời:
| Sự vật | Hoạt động | Đặc điểm |
| núi, cầu, bưởi, xe, áo | bồng, đi, bế, đón | rộn, cao, lấm |
Mẹo: từ chỉ sự vật trả lời câu hỏi cái gì, con gì, quả gì?; từ chỉ hoạt động là việc làm (bế em, đón khách); từ chỉ đặc điểm cho biết sự vật thế nào (nhà cao, áo lấm).
Câu 4 (trang 62): Đặt câu với một từ chỉ sự vật (hoặc chỉ hoạt động, đặc điểm) em vừa tìm được.
Trả lời: Ví dụ:
- Từ chỉ sự vật: Cây cầu bắc qua con sông trước làng em.
- Từ chỉ hoạt động: Cả nhà em ra ga đón ông bà lên chơi.
- Từ chỉ đặc điểm: Tòa nhà ở cuối phố rất cao.
Tiết 5: Nghe và kể chuyện Con yêu mẹ (trang 62–63)
Câu 1 (trang 62): Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng.
Trả lời: Đây là lượt đọc cuối của phần đánh giá. Em đọc bài em thích nhất cho thật trôi chảy, diễn cảm.
Câu 2 (trang 62): Nghe và kể lại câu chuyện: Con yêu mẹ
Truyện theo sách Hạt giống tâm hồn, không in trong SGK; thầy cô kể, em nghe. Tranh vẽ người mẹ đứng trước bức tường có hình trái tim viết chữ “Con yêu mẹ”, hai chị em đứng ở cửa nhìn mẹ. Gợi ý:
a) Cô con gái 8 tuổi lo lắng về điều gì?
b) Người mẹ trách con trai như thế nào?
c) Điều gì đã làm người mẹ cảm động và ân hận?
d) Người mẹ đã làm gì với tờ giấy dán tường có bức vẽ của con?
Trả lời: Em kể theo thứ tự 4 gợi ý. Bài kể tham khảo:
Một buổi chiều, người mẹ đi làm về rất mệt. Cô con gái 8 tuổi chạy ra, lo lắng báo với mẹ rằng cậu em trai đã lấy bút chì màu vẽ lên tờ giấy dán tường mới trong phòng làm việc của mẹ. Nghe vậy, người mẹ rất bực. Bà vào phòng cậu bé, mắng con một hồi lâu: giấy dán tường đắt tiền, phải tiết kiệm mãi mới mua được, con thật không biết quý đồ đạc. Cậu bé sợ hãi, không dám nói gì. Mắng xong, người mẹ sang phòng làm việc để xem bức tường. Bà sững lại: trên tường là một trái tim, bên trong có dòng chữ “Con yêu mẹ”. Người mẹ rưng rưng nước mắt, vừa cảm động vì tình yêu của con, vừa ân hận vì đã vội mắng con. Từ đó, bà giữ nguyên tờ giấy dán tường và làm một cái khung bao quanh bức vẽ ấy để luôn nhớ: trước khi trách ai, hãy tìm hiểu kĩ mọi chuyện.
Tiết 6: Bài luyện đọc hiểu – Ba anh em (trang 63–65)
Truyện dân gian Trung Quốc kể về ba anh em vốn sống hoà thuận, về sau tình cảm phai nhạt, đòi chia nhau cả cây cổ thụ trong vườn. Khi cây bỗng khô héo, người anh cả ôm cây khóc vì nghĩ đến tình anh em; hai người em hối hận, cả nhà lại sống êm ấm và cây xanh tươi trở lại. Từ ngữ: cổ thụ (cây to, lâu năm), xẻ (cưa gỗ thành tấm mỏng), ván (tấm gỗ phẳng, mỏng), hạ cây (chặt cây).
Câu 1 (trang 64–65): Chọn câu trả lời đúng:
a) Đoạn 1 câu chuyện cho biết ba anh em sống với nhau thế nào? (Trước kia hoà thuận, về sau không được như trước nữa. / Trước sau đều không hoà thuận với nhau. / Trước sau đều hoà thuận, không có gì thay đổi.)
b) Vì sao ba anh em định chặt cây cổ thụ để chia nhau? (Vì cây cổ thụ đã khô héo. / Vì cả ba anh em đều cần có gỗ. / Vì một người em nhất quyết đòi chia.)
c) Chuyện gì xảy ra khi mấy anh em chuẩn bị hạ cây cổ thụ? (Cây cổ thụ xum xuê khác thường. / Cây cổ thụ bỗng nhiên khô héo. / Cây cổ thụ xanh tươi hơn trước.)
d) Vì sao người anh cả ôm cây mà khóc? (Vì ông nhìn cây mà buồn về chuyện anh em không hoà thuận. / Vì ông không muốn chia cái cây cho hai người em. / Vì ông không muốn chia của cải cha mẹ để lại.)
e) Chi tiết cây cổ thụ xanh tươi trở lại thể hiện điều gì? (Cây cổ thụ vui vì nó đã khỏi bệnh. / Cây cổ thụ vui vì nó mọc cành lá xum xuê. / Cây cổ thụ vui vì ba anh em lại hoà thuận như xưa.)
Trả lời:
- a) Trước kia hoà thuận, về sau không được như trước nữa (từ khi mỗi người có gia đình riêng).
- b) Vì một người em nhất quyết đòi chia.
- c) Cây cổ thụ bỗng nhiên khô héo.
- d) Vì ông nhìn cây mà buồn về chuyện anh em không hoà thuận. Người anh nói cây cỏ sắp phải chia lìa còn biết buồn, huống chi anh em ruột thịt.
- e) Cây cổ thụ vui vì ba anh em lại hoà thuận như xưa.
Câu 2 (trang 65): Tìm trong bài đọc:
a) Một từ có nghĩa giống từ hoà thuận.
b) Một từ có nghĩa trái ngược với từ khô héo.
Trả lời:
- a) Từ có nghĩa giống hoà thuận: êm ấm (câu cuối truyện nói cả nhà lại sống êm ấm như xưa).
- b) Từ trái nghĩa với khô héo: xanh tươi (cũng có thể chọn xum xuê).
Câu 3 (trang 65): Đặt câu với một từ em vừa tìm được.
Trả lời: Ví dụ:
- Gia đình em luôn sống êm ấm, vui vẻ.
- Sau cơn mưa, vườn rau nhà bà xanh tươi hẳn lên.
Tiết 7: Bài luyện viết (trang 65)
Sách yêu cầu chọn 1 trong 2 đề. Hai bức tranh minh hoạ do học sinh vẽ: một sân chơi có xích đu, cầu trượt, các bạn nhảy dây; một gia đình quây quần trong phòng.
Câu 1 (trang 65): Viết đoạn văn kể về một sự việc (hoặc hoạt động) mà em được chứng kiến hoặc tham gia ở trường.
Trả lời: Gợi ý ý chính: Đó là việc gì, diễn ra khi nào, ở đâu? Có những ai? Việc diễn ra thế nào (trước – sau)? Em cảm thấy thế nào?
Đoạn văn tham khảo: Sáng thứ Hai tuần trước, trường em tổ chức lễ phát động phong trào trồng cây. Sau giờ chào cờ, thầy hiệu trưởng nói về lợi ích của cây xanh. Mỗi lớp được nhận hai cây sao non để trồng dọc hàng rào. Lớp em chia thành từng nhóm: nhóm đào hố, nhóm khiêng cây, nhóm tưới nước. Em và Lan cẩn thận đặt cây xuống hố, vun đất quanh gốc rồi tưới thật đều. Nhìn hàng cây non đứng thẳng trong nắng sớm, em rất vui vì đã góp một phần làm trường thêm xanh.
Câu 2 (trang 65): Viết đoạn văn kể về một kỉ niệm đáng nhớ của em với một người thân trong gia đình.
Trả lời: Gợi ý ý chính: Kỉ niệm với ai, xảy ra lúc nào? Chuyện diễn ra thế nào? Vì sao em nhớ mãi?
Đoạn văn tham khảo: Em nhớ mãi lần bố dạy em đi xe đạp vào mùa hè năm lớp 2. Chiều nào bố cũng đưa em ra sân nhà văn hoá. Lúc đầu, bố giữ chặt yên xe, chạy theo sau em. Em ngã mấy lần, đầu gối trầy xước, có lúc muốn bỏ cuộc. Bố xoa đầu em và bảo cứ nhìn thẳng phía trước, đạp đều chân. Đến ngày thứ năm, em đạp được một vòng sân mới biết bố đã buông tay từ lúc nào. Em reo lên sung sướng. Mỗi lần đạp xe đi học, em lại nhớ nụ cười của bố hôm ấy.