Bài 65: Ôn tập và kể chuyện ở trang 142–143 sách Tiếng Việt lớp 1 Kết nối tri thức tập 1 giúp con ôn mười ba vần đã học ở Bài 61–64: nhóm vần có ng cuối như ong, ưng và nhóm vần bắt đầu bằng iê, yê như iêp, yêu. Bài có 3 hoạt động: đọc, viết và kể chuyện Lửa, mưa và con hổ hung hăng.

Bài 65: Ôn tập và kể chuyện học những gì?
- Đọc các tiếng có vần đã học trong bảng và nói tiếng đó có vần gì.
- Đọc các từ trên những hộp quà và đoạn văn ngắn về trái đất.
- Viết một câu về cánh diều.
- Kể chuyện Lửa, mưa và con hổ hung hăng theo 4 tranh.
Đọc và viết (trang 142–143)
Câu 1 (trang 142): Đọc
Bảng tiếng, hàng 1: trong, trông, khung, vùng; hàng 2: việc, chiên, tiếp, tiếng, nhiệm, yến; hàng 3: biết, diều, yếu. Các hộp quà dưới cây thông ghi từ: xung phong, hiểu biết, xanh biếc, trùng điệp, khu rừng, yêu mến, yên tĩnh, khiêm tốn, tiếng trống, rong biển. Đoạn đọc ngắn trong khung hồng ở cuối trang.
Trả lời:
Con đọc từng tiếng và nói tiếng đó có vần gì:
| Hàng 1 | trong (ong) | trông (ông) | khung (ung) | vùng (ung) | ||
| Hàng 2 | việc (iêc) | chiên (iên) | tiếp (iêp) | tiếng (iêng) | nhiệm (iêm) | yến (yên) |
| Hàng 3 | biết (iêt) | diều (iêu) | yếu (yêu) |
Đọc từ trên các hộp quà. Một số từ cần hiểu: xung phong là tự mình nhận làm trước; hiểu biết là biết nhiều điều; trùng điệp là nhiều lớp nối tiếp nhau (núi, đồi, đảo); yên tĩnh là không ồn ào; khiêm tốn là không khoe khoang; rong biển là loài cây mọc dưới biển.
Đoạn đọc có bảy câu nói về trái đất rộng lớn: có rừng núi, đồng ruộng, bầu trời, biển cả và muôn loài đang sống. Mỗi người cần yêu quý và chung tay bảo vệ trái đất. Tiếng có vần đã ôn: cùng (ung), rừng, ngừng (ưng), trùng (ung), điệp (iêp), mông, sống, không (ông), biết (iêt), yêu (yêu).
Câu 2 (trang 143): Viết
Câu cần viết: Cánh diều chao liệng trên bầu trời.
Trả lời: Con chép câu trên vào vở, viết đều nét, cách đều các tiếng.
- Chữ C đầu câu viết hoa. Cuối câu có dấu chấm.
- Tiếng diều có vần iêu, dấu huyền trên ê; tiếng liệng có vần iêng, dấu nặng dưới ê.
- Tiếng cánh có vần anh (Bài 57), tiếng bầu có vần âu.
Kể chuyện: Lửa, mưa và con hổ hung hăng (trang 143)
Câu 3 (trang 143): Kể chuyện
Lửa, mưa và con hổ hung hăng, bốn tranh kèm câu hỏi: (1) Gặp “con vật lạ”, hổ làm gì? (2) Vì sao hổ bị sém lông? (3) Hổ tưởng mưa làm gì? (4) Thoát nạn, hổ thế nào?
Trả lời: Truyện theo tác giả Nguyễn Thị Quỳnh, lời kể in trong sách giáo viên.
- Tranh 1: Trong rừng có một con hổ rất dữ. Một hôm, hổ gặp đống lửa đỏ đang nhảy múa, tưởng là con vật lạ dám không chào mình nên quát nạt.
- Tranh 2: Lửa cười đáp mình là lửa. Hổ tức giận lao vào, bị lửa đốt bỏng rát, phải chạy thục mạng rồi nhảy xuống suối. Từ đó, bộ lông vàng của hổ có những vệt cháy sém.
- Tranh 3: Đang nằm, hổ thấy lưng bị gõ lộp độp, tưởng có ai ném sỏi vào mình nên gầm gừ. Mưa bảo mình là nước trời rơi xuống và chê hổ khờ.
- Tranh 4: Vừa lúc ấy có hai người thợ săn tới. Mưa liền đổ xuống thật to khiến họ phải quay về. Được cứu, hổ thấy xấu hổ và bỏ hẳn tính hung hăng.
Bài học: không nên hung hăng, bắt nạt người khác. Biết nhận ra lỗi của mình và sửa chữa thì sẽ được mọi người quý mến.
Ghi nhớ sau Bài 65
Vần có ng cuối: ong, ông, ung, ưng, iêng. Vần bắt đầu bằng iê: iêc, iên, iêp, iêm, iêt, iêu; viết yên, yêu khi không có âm đầu. Bài tiếp theo là Bài 66: uôi, uôm.