Cả đời làm thơ, ông chỉ để lại chừng năm mươi bài, in trong ba tập, và tập đầu tiên ra đời mười tám năm sau bài thơ làm nên tên tuổi. Chính Hữu (1926 – 2007), tên thật Trần Đình Đắc, là nhà thơ quân đội, tác giả Đồng chí, Đầu súng trăng treo, Giá từng thước đất, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000. Thơ ông hầu như chỉ viết về người lính trong hai cuộc kháng chiến.
Trần Đình Đắc, cậu tú tài ban triết

| Tên thật | Trần Đình Đắc |
| Bút danh | Chính Hữu |
| Năm sinh – năm mất | 15/12/1926 – 27/11/2007 |
| Quê quán, nơi sinh | Sinh ở thành phố Vinh, Nghệ An; quê gốc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh |
| Thể loại | Thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | Đồng chí (1948), Giá từng thước đất (1954), Ngọn đèn đứng gác; các tập Đầu súng trăng treo (1966), Thơ Chính Hữu (1997), Tuyển tập Chính Hữu (1998) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, đợt II (2000) |
| Trong SGK | Đồng chí (Ngữ văn 8 Kết nối tri thức; trước đó là Ngữ văn 9 bộ cũ) |
Phần lớn tư liệu, từ VnExpress, Thanh Niên đến báo Công an Nhân dân, ghi ông sinh ở Vinh; hồ sơ của Bảo tàng Văn học ghi sinh tại Can Lộc. Quê gốc Can Lộc thì các nguồn thống nhất. Trước Cách mạng tháng Tám, ông học tú tài ban triết ở Hà Nội. Đầu năm 1945, ông về Vinh tham gia Việt Minh, dự khởi nghĩa và làm Bí thư Thanh niên Cứu quốc thành phố.
Tháng 12/1946, Trung đoàn Thủ đô
Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chàng trai hai mươi tuổi gia nhập Trung đoàn Thủ đô, chiến đấu ở Hà Nội trong những tháng đầu cuộc chiến, rồi theo đơn vị rút lên Việt Bắc. Đến chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, ông là chính trị viên đại đội. Theo bà Nguyễn Thị Xuân Lịch, vợ ông, nhật ký chiến đấu của Chính Hữu thời ấy từng giúp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tìm hiểu thực tế Trung đoàn Thủ đô khi viết Sống mãi với Thủ đô.
Bài thơ đầu tiên gây tiếng vang của ông là Ngày về (1947), được nhạc sĩ Lương Ngọc Trác phổ nhạc ngay trong năm. Về sau ông không bao giờ cho in lại bài này trong các tập thơ của mình: theo báo Công an Nhân dân, ông thấy giọng thơ quá to tát, không hợp với mình, những chữ như “giày vạn dặm”, “bụi trường chinh” còn từng bị phê là tiểu tư sản.
Đồng chí, đầu năm 1948
Bài Đồng chí được viết sau chiến dịch Việt Bắc và in tháng 2/1948. Khác hẳn Ngày về, bài thơ không có một chữ hô hào. Nó bắt đầu từ hai người lính xa lạ, kể quê mình bằng giọng mộc như nói chuyện:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
và khép lại bằng một hình ảnh mà sau này ông lấy làm tên tập thơ đầu:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Nhiều tài liệu giảng dạy kể bài thơ ra đời khi ông ốm và được một đồng đội chăm sóc; chi tiết này chưa thấy trong lời kể có nguồn của chính tác giả. Năm 1949, nhạc sĩ Minh Quốc, cũng là một chính trị viên đại đội, đọc bài thơ trên tờ báo mượn của một giao liên ở vùng núi Tà Dôn và phổ nhạc ngay trong đêm; bài hát quen được gọi là Tình đồng chí. Theo nhà văn Ngô Vĩnh Bình, khi làm tuyển tập năm 1998, Chính Hữu từng muốn đổi tên bài thành Đầu súng trăng treo, tranh luận mãi mới chịu giữ tên cũ.
Viết cùng năm 1948, cũng về người lính, nhưng Tây Tiến của Quang Dũng lãng mạn, hào hoa, còn Đồng chí mộc mạc, dồn nén; hai bài thường được đặt cạnh nhau trong các đề văn so sánh.
Chính trị viên ở Điện Biên Phủ và Giá từng thước đất
Từ 1949 đến 1952, ông làm Phó trưởng Ban Văn nghệ Quân đội. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là chính trị viên tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 308. Bài Giá từng thước đất ra mắt năm 1954, viết về những người nằm lại ở chiến trường ấy; theo Bảo tàng Văn học, bài thơ lúc đầu có tên Đồng đội.
Thời chống Mỹ, ông đi nhiều chiến trường. Bảo tàng Văn học đang giữ “cuốn sổ dự trữ thơ” ông dùng từ tháng 1/1968, vừa ghi tứ thơ vừa ghi nhật ký hành quân. Trong đó có dòng chép tối 2/6/1968: xe ông bị máy bay đánh gần Mường Noong, ông bị thương ở chân và lưng, hai người đi cùng hy sinh. Cũng cuốn sổ ấy ghi hai câu ông viết ở lễ mừng công của Đoàn 559 ngày 26/6/1968:
Xe ta thêm một vòng quay
Miền Nam bớt được một ngày thương đau
Ông ghi cả ngày Bác Hồ mất, 3/9/1969, vào những trang sau. Bài Ngọn đèn đứng gác, sau được Hoàng Hiệp phổ nhạc, thuộc những năm này, chứ không phải năm 1951 như vài tài liệu ghi.
Từ 1970 đến 1983, ông là Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957), Phó Tổng thư ký Hội khóa III và Ủy viên Ban Chấp hành khóa IV.
Ba tập thơ, chừng năm mươi bài
| Năm | Tập thơ | Nhà xuất bản |
|---|---|---|
| 1966 | Đầu súng trăng treo | Văn học |
| 1997 | Thơ Chính Hữu | Hội Nhà văn |
| 1998 | Tuyển tập Chính Hữu | Văn học |
Hai mốc 1997 và 1998 theo Bảo tàng Văn học và báo Công an Nhân dân; một số trang ghi nhầm thành 1977 và 1988. Bảo tàng Văn học ghi cả đời ông khoảng năm mươi bài, VnExpress ghi chừng năm mươi đến sáu mươi.
Viết ít vì ông viết rất kỹ. Ngô Vĩnh Bình kể có bài ông sửa vài chục năm, có đêm khuya ông lên tận phòng biên tập chỉ để sửa một chữ; bà Xuân Lịch cũng nói ông không bao giờ vội công bố. Trong Tự bạch, ông muốn làm một người thơ nghiệp dư, tài tử để được tự do viết điều mình thôi thúc, và “tự do hủy bỏ những cái viết ra nhưng không vừa ý”. Ông cũng nói mình thích những câu thơ hàm súc, nói ít mà gợi nhiều. Quan niệm ấy được phân tích kỹ ở bài phong cách sáng tác của Chính Hữu; các bài thơ khác có trong tuyển tập thơ Chính Hữu.
Tập Đầu súng trăng treo in năm 1966, mười tám năm sau bài thơ mang cùng hình ảnh ấy, gom những bài viết qua hai cuộc kháng chiến. Thơ ông gần như không có gì ngoài người lính: lúc ra trận, lúc đứng gác, lúc nằm lại. Nhà văn Hồ Phương, trong bài viết trên báo Công an Nhân dân khi ông mất, nhận xét ông sáng tác ít mà tinh, và trong thơ có chiều sâu triết lý mà không phải nhà thơ nào cũng có; Ngô Vĩnh Bình thì nhắc đến những cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ chắt lọc.
Nhiều bài của ông thành bài hát: Đồng chí (Minh Quốc), Ngọn đèn đứng gác (Hoàng Hiệp), Bắc cầu (Quốc Anh), Có những ngày vui sao (Huy Du). Một bài thơ cuối đời mang tên Người bộ hành lặng lẽ, gửi nhà tư tưởng Pháp J.J. Rousseau; có trang đã nhầm đó là biệt danh của ông.
Bài Đồng chí trong sách giáo khoa, từ lớp 9 đến lớp 8
Nhiều thế hệ học sinh học Đồng chí ở lớp 9: trong bộ sách cũ, bài thơ nằm ở Bài 10 sách Ngữ văn 9 tập một, cạnh Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Ở chương trình 2018, bài thơ chuyển xuống lớp 8.
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Đồng chí | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 7 (Tin yêu và ước vọng) | Soạn bài Đồng chí · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt |
| Đồng chí | Ngữ văn 9 tập một, Bài 10 (sách cũ) | Phân tích bài thơ Đồng chí · Mở bài · Kết bài |
Năm 2000 và những năm cuối đời
Năm 2000, ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II. Ông mất ngày 27/11/2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội, khi gần tròn tám mươi mốt tuổi.
Những người làm báo quân đội nhớ ông là một thủ trưởng ít lời. Ngô Vĩnh Bình kể, khi một bài thơ của Anh Ngọc bị phòng duyệt chặn, ông chỉ hỏi người biên tập đã đọc chưa, thấy thế nào, rồi bảo vậy thì cứ đăng. Cách ông làm thơ cũng vậy: ít chữ, ít bài, và không in lại những gì mình không còn tin.