Dân gian Thăng Long xưa gọi ông là “thánh Quát”, xếp ngang với “thần Siêu” Nguyễn Văn Siêu. Cao Bá Quát (1808 – 1855) là nhà thơ lớn nửa đầu thế kỷ XIX, tác giả Sa hành đoản ca và Dương phụ hành, người từng bị án tử vì sửa bài thi cho sĩ tử, rồi chết trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương chống triều Tự Đức. Ông để lại hơn 1.300 bài thơ dù sau khi ông mất, thơ văn bị đốt và cấm lưu hành.
Chu Thần, Cúc Đường, Mẫn Hiên: tên gọi và năm sinh còn bàn

| Tên tự, hiệu | Tự Chu Thần; hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên (có tài liệu, theo gia phả họ Cao, ghi Mẫn Hiên là tên tự) |
| Năm sinh – năm mất | 1808 (có tài liệu ghi 1809) – tháng Chạp năm Giáp Dần, tức đầu năm 1855 dương lịch |
| Quê | Làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội); sinh và lớn lên ở khu Đình Ngang, phía nam thành Thăng Long |
| Khoa cử | Cử nhân khoa Tân Mão 1831 (có tài liệu ghi 1832), thi Hội nhiều lần không đỗ |
| Chức vụ | Hành tẩu bộ Lễ, làm việc ở Viện Hàn lâm, Giáo thụ phủ Quốc Oai; Quốc sư khởi nghĩa Mỹ Lương |
| Tác phẩm | 1.353 bài thơ (chủ yếu chữ Hán, một số thơ Nôm, hát nói) và 21 bài văn xuôi; Sa hành đoản ca, Dương phụ hành, Tài tử đa cùng phú |
| Trong SGK | Dương phụ hành (Ngữ văn 11 KNTT), Vịnh Tản Viên sơn (Ngữ văn 12 CTST), Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Ngữ văn 11 chương trình 2006) |
Năm sinh của ông có hai thuyết. Báo Nhân Dân và hội thảo của Viện Văn học năm 2008 kỷ niệm 200 năm sinh, tức lấy năm 1808; nhiều tài liệu khác, trong đó có sách giáo khoa cũ, ghi 1809 kèm dấu hỏi. Năm mất cũng thường bị ghi lệch: ông mất vào tháng Chạp năm Giáp Dần, nên có người ghi 1854, nhưng theo dương lịch đã sang tháng Một năm 1855.
Ông có người anh song sinh là Cao Bá Đạt, làm tri huyện Nông Cống. Về tên cha, các nguồn chưa thống nhất: sách Danh nhân Hà Nội (VnExpress dẫn) ghi là một thầy đồ nghèo, còn gia phả họ Cao mà Wikipedia dẫn lại ghi một tên khác.
Thần Siêu, thánh Quát
Tiếng tăm của ông có từ rất sớm ở đất kinh kỳ. Người đương thời gộp ông với Nguyễn Văn Siêu thành cặp “thần Siêu, thánh Quát”. Câu “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” (văn như Siêu, Quát thì đời Tiền Hán cũng không ai bằng) được nhiều sách chép là lời vua Tự Đức, cũng có nơi ghi là câu dân gian truyền tụng.
Chữ “thánh” ấy kèm theo cả tiếng “ngông”. Ông không chịu cúi đầu trước kẻ có quyền mà kém tài, hay dùng thơ chế giễu bọn xu nịnh. Sách Danh nhân Hà Nội kể một giai thoại: Tự Đức khoe hai câu thơ làm được trong mơ, Cao Bá Quát tâu rằng mình đã thuộc từ nhỏ, rồi đọc liền một bài tám câu, khiến vua biết là bị ông bịa thêm sáu câu mà vẫn phải phục. Chuyện này chỉ nên đọc như giai thoại, nhưng nó cho thấy người đời nhớ ông theo kiểu nào.
Á nguyên trường Hà Nội bị xếp xuống cuối bảng
Năm 1831, ông thi Hương ở trường Hà Nội, đỗ thứ hai (Á nguyên); khi duyệt lại quyển, các quan trong bộ hạ ông xuống cuối danh sách hai mươi người đỗ. Mùa xuân năm sau ông vào Huế thi Hội, không đỗ, rồi trượt thêm mấy khoa nữa. Sách Danh nhân Hà Nội ghi ông có mười năm theo đòi khoa cử. Tương truyền ông viết quyển thi bằng đủ bốn lối chữ chân, thảo, triện, lệ nên bị đánh hỏng vì phạm trường quy; Wikipedia dẫn Phạm Thế Ngũ cũng chép chuyện này.
Những chuyến lặn lội vào kinh thi Hội là gốc của bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca). Hai câu mở đầu, phiên âm Hán Việt:
Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nghĩa là: cát nối cát mãi không dứt, mỗi bước tiến lên lại như bị kéo lùi về. Con đường cát ven biển miền Trung thành hình ảnh của đường danh lợi: người ta vẫn chen nhau đi, “tỉnh giả thường thiểu, túy giả đồng” (người tỉnh thì ít, kẻ say thì nhiều), còn người khách trên bãi cát tự hỏi vì sao mình vẫn đứng đó.
Vụ án muội đèn ở trường thi Thừa Thiên (1841)
Năm 1841, được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, ông vào Huế làm Hành tẩu bộ Lễ. Tháng Tám năm ấy, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Thấy nhiều quyển văn hay mà phạm trường quy, ông cùng bạn đồng sự Phan Nhạ (có tài liệu gọi Phan Thời Nhạ) lấy son hòa với muội đèn chữa lại. VnExpress dẫn tài liệu cho biết hai người đã sửa 24 bài, trong đó có năm người được chấm đỗ cử nhân phải thi lại.
Việc bị phát giác. Theo nhà nghiên cứu Vũ Khiêu được báo Văn nghệ dẫn lại, người đàn hặc là viên giám sát Hồ Trọng Tuấn. Ông bị khép án trảm quyết, sau giảm xuống giảo giam hậu, rồi cuối cùng là giam ngục; bị tra khảo ở Trấn Phủ, ngục Thừa Thiên, tổng cộng gần ba năm (1841 – 1843). Nhiều bài thơ chữ Hán viết trong tù, như Đằng tiên ca (bài ca roi mây), cho thấy một người chịu nhục hình mà không chịu cúi.
Chuyến đi “dương trình hiệu lực” và bài Dương phụ hành
Năm 1843, ông được tha nhưng phải đi “dương trình hiệu lực”, tức theo tàu công vụ ra nước ngoài để lập công chuộc tội. Ông theo đoàn của Đào Trí Phú sang Giang Lưu Ba (vùng Batavia, Indonesia ngày nay); một số tài liệu lại ghi ông đến Hạ Châu, Tân Gia Ba (Singapore). Năm 1844 về nước, ông được phục chức ở bộ Lễ nhưng ít lâu sau bị thải về Thăng Long.
Chuyến đi biển để lại cho văn học một bài thơ lạ: Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây). Trên tàu, ông thấy một đôi vợ chồng trẻ người Tây âu yếm nhau giữa đêm trăng và đem cảnh ấy đối chiếu với thân phận người vợ phương Đông; người nho sĩ vừa ngạc nhiên trước một lối sống khác, vừa chạnh lòng nghĩ đến người thân. Bài thơ hiện là văn bản đọc hiểu trong Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (xem Dương phụ hành: tác giả, tác phẩm).
Năm 1847, ông được triệu vào Huế làm việc ở Viện Hàn lâm, lo sưu tầm, sắp xếp văn thơ. Làm quan mà vẫn nghèo, nhà tranh vách đất, áo quần bạc phếch: sách Danh nhân Hà Nội tả ông như vậy.
Từ thầy giáo phủ Quốc Oai đến Quốc sư khởi nghĩa Mỹ Lương
Đầu thập niên 1850, ông bị đẩy ra làm Giáo thụ phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Năm nhậm chức được ghi rất khác nhau, từ 1850, 1851, 1852 đến 1854, tùy người khảo cứu. Ít lâu sau, ông lấy cớ về chịu tang cha rồi bỏ chức.
Năm 1854, ông cùng một số sĩ phu tôn Lê Duy Cự, người dòng dõi nhà Lê, làm minh chủ, nổi dậy ở Mỹ Lương (Sơn Tây cũ); ông giữ vai trò Quốc sư. Năm ấy miền Bắc mất mùa, nạn châu chấu hoành hành, nên sử triều Nguyễn gọi cuộc khởi nghĩa là “giặc châu chấu”. Nghĩa quân đánh phá mấy huyện vùng Thanh Oai, Ứng Hòa, có lúc chiếm Kim Bảng.
Đầu năm 1855, ông trực tiếp chỉ huy đánh huyện Yên Sơn và bị bắn chết tại trận; tên viên suất đội bắn ông được ghi là Đinh Thế Quang, có tài liệu ghi Đinh Thế Phong. Tự Đức sai bêu đầu ông khắp các tỉnh Bắc Kỳ, ra lệnh tru di tam tộc họ Cao ở Phú Thị, thơ văn của ông bị thu đốt và cấm lưu hành. Người anh song sinh Cao Bá Đạt tự sát trên đường bị giải về kinh.
1.353 bài thơ sống sót
Dù bị cấm, thơ ông vẫn được chép tay lưu truyền. Các nhà nghiên cứu hiện tập hợp được 1.353 bài thơ và 21 bài văn xuôi (gồm các bài ký, luận và mười truyện truyền kỳ), qua các tập Cao Bá Quát thi tập, Cao Chu Thần di thảo, Cao Chu Thần thi tập, Mẫn Hiên thi tập. Bộ Cao Bá Quát toàn tập được biên soạn nhân dịp kỷ niệm 200 năm sinh (2008). Phần lớn là thơ chữ Hán; mảng Nôm có bài phú Tài tử đa cùng và các bài hát nói như Uống rượu tiêu sầu.
Đọc thơ ông, dễ thấy một cái tôi lớn, kiêu hãnh và cô đơn: muốn với lên cao, thấy đời người như quán trọ, giận cảnh danh lợi chen lấn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học), viết trên báo Nhân Dân năm 2008, lưu ý rằng thơ ông hàm súc, nặng suy tư nên dù đã được dịch, chú giải vẫn khó phổ biến, và việc nghiên cứu ông về cơ bản còn ở phía trước. Đến thế kỷ XX, văn chương vẫn tìm về ông: sách Danh nhân Hà Nội cho rằng Nguyễn Tuân lấy hình tượng ông làm cảm hứng cho nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù. Tuyển chọn một số bài có ở tuyển tập thơ Cao Bá Quát.
Dương phụ hành, Vịnh Tản Viên sơn trong chương trình Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Dương phụ hành | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1, Bài 4 (Tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Vịnh Tản Viên sơn | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1, Bài 3 (đọc kết nối chủ điểm) | – |
| Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) | Ngữ văn 11, chương trình 2006 | Văn bản và dịch thơ |
Khi học Dương phụ hành, nên đặt bài thơ vào hoàn cảnh chuyến đi chuộc tội năm 1843 – 1844: người viết là một tội nhân vừa thoát án tử, lần đầu ra biển và lần đầu thấy tận mắt người phương Tây.
Những giai thoại nên đọc thận trọng
Ít nhà thơ Việt nào có nhiều giai thoại như Cao Bá Quát, và cũng ít ai bị gán nhiều câu không chắc của mình như ông. Ngay Vũ Khiêu, người biên soạn Thơ văn Cao Bá Quát, cũng cho rằng không ít chuyện truyền về ông thiếu căn cứ.
- Đôi câu đối “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (mười năm kết bạn tìm gươm cổ, một đời cúi đầu lạy hoa mai): tương truyền của ông và rất được trích dẫn. Tuy vậy, báo Pháp luật dẫn khảo cứu của Tảo Trang (1963) và Hoa Bằng (1972) trên tạp chí Văn học cho rằng đây là câu đối của một tri phủ nhà Thanh tặng Nguyễn Tư Giản năm 1868.
- Thơ trong ngục và trước pháp trường, như câu “một chiếc cùm lim chân có đế, ba vòng xích sắt bước còn vương”: được truyền rộng, nhưng chuyện ông bị đem chém không khớp với sử chép ông chết tại trận.
- Chuyện bịa thơ cho vua và chuyện viết quyển thi bằng bốn lối chữ: có trong sách, nhưng đều ở dạng “tương truyền”.
Gạt những lớp chuyện kể ấy đi, phần còn lại vẫn đủ làm nên một chân dung khác thường: một người tài bị khoa cử gạt ra, bị án tử vì thương người đi thi, đi biển chuộc tội, rồi cầm quân chống lại chính triều đình từng dùng mình, để lại hơn một nghìn bài thơ qua được cả lệnh đốt sách.