Sự tích món phở Việt Nam mang trong mình những câu chuyện thú vị và ý nghĩa sâu sắc. Mỗi bát phở không chỉ là món ăn, mà còn là di sản văn hóa. Khám phá nguồn gốc và hành trình phát triển của phở sẽ mở ra nhiều điều bất ngờ.
Chuyện thế này: Sau khi đã ổn định tại Sài Gòn, xa tấm thân đang thời xuân sắc của cô vợ người xứ Normandie, Francois Pierre chẳng bao lâu lại tràn trề ham muốn. Ngay cả dưới cái nóng nhiệt đới, thân xác cũng cần khoái cảm, nhà cửa cũng cần dọn dẹp và bàn ăn cũng cần phải có món ăn!
Francois Pierre kiếm được một cô gái, đưa về sống trong căn nhà của mình. Mấy tháng trôi qua cũng chẳng đến nỗi nào: Francois Pierre không phải là một người đàn ông độc ác, anh không chửi mắng cô gái để chứng tỏ quyền uy với người da trắng, không đánh đập cô cho hả những lúc bực mình, còn Thi Ba phục vụ những nhu cầu hàng ngày của ông Tây.
Ông ta cho phép cô thỉnh thoảng ra ngoài với chúng bạn, còn chuyện kia thì cũng không quá tuần một đôi lần, cốt làm dịu những đòi hỏi xác thịt bình thường.
Nhưng sau đó đột nhiên Francois Pierre ngã bệnh nhớ nhà. Anh trở nên ủ rũ, cáu kỉnh và dễ nổi xung.
Những lúc không chỉ mắng Thi Ba hay thượng cẳng chân hạ cẳng tay với cô vì những lí do vớ vẩn, anh lại chúi mũi vào chai rượu ngải, mắt kiếm tìm vô vọng vệt xanh lơ của dãy Vosges, điều không thể nào làm được từ mảnh đất Nam Kỳ xa xôi này. Trong trạng thái lơ mơ say như thế, một câu nói cứ dai dẳng bên tai anh không lúc nào ngừng: ”Du pot au feu, tôi thèm pô-tô-phơ, ước gì lúc này được một bữa pô-tô-phơ!”.

“Phơ, phơ, phơ ” Thi Ba chỉ nghe được có vậy và chẳng biết phải làm gì. Cô bạn của Thi Ba từng làm con ở trong nhà một viên quan Pháp, một viên quan to xa xỉ khó tưởng tượng nổi, đến mức đem theo đến Đông Dương cả một bà đầu bếp người Pháp, giải thích cho Thi Ba hiểu ra đầu đuôi mọi chuyện.
Cái thứ pô-tô-phơ đang làm anh lính thủy đánh bộ khổ sở hóa ra chỉ là một món súp, mà món súp thì Thi Ba biết nấu. Nếu như biết công thức của nó. Thi Ba chỉ bập bẹ tiếng Pháp bồi, Francois Pierre biết không quá hai chục từ tiếng Việt.
Cuối cùng, nhờ có một con chiên annamite trẻ tuổi biết thứ tiếng của Voltaire-nhân tiện cũng nói thêm rằng tác giả này bị những nhà truyền đạo chính thức cấm đọc – Thi Ba đã hình dung ra được những việc phải làm.
Nguyên liệu, pha chế, cách nấu và gia vị, chẳng có gì giống với nghệ thuật nấu ăn của người Việt, thêm nữa, Francois Pierre khăng khăng muốn Thi Ba nấu sao cho giống hệt món pot au feu mà mẹ anh ta vẫn nấu.
Rốt cuộc, sau vô số những lần thử nghiệm, những thất bại, cãi cọ, những nồi súp hỏng đổ xuống kênh, Thi Ba đã đi đến một kết quả tạm được Francois Pierre chấp nhận. Dĩ nhiên, món phở của Thi Ba khác hẳn món pot au feu ở quê anh, nhưng, như ngạn ngữ Pháp thường có câu:”Faute de grives on mange des merles!”. Dịch sang tiếng Việt, có nghĩa là:”không có cá lấy tôm làm trọng”.
Thay cho các gia vị truyền thống của nghệ thuật nấu ăn Normandie, Thi Ba sử dụng hương thơm tinh tế của các loại rau Việt Nam. Món ăn mới này ban đầu được hai người say mê thưởng thức, sau đó đến các bạn bè, rồi bè bạn của bè bạn.
Tất cả những người lính thủy từng ghé vào lấy thực phẩm tại cảng Sài Gòn trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất đều sẽ nói với bạn, một cách thi vị về món súp của nàng Thi Ba xinh đẹp, cô gái của Francois Pierre Vidcoq.
Francois Pierre Vidcoq sau đó đã trở về Normandie, để lại cho Thi Ba khoản phụ cấp giải ngũ ít ỏi của mình. Với số tiền này, Thi Ba trở về Hà Nội, nơi chôn rau cắt rốn, mở một tiệm ăn và nó nhanh chóng trở thành nơi ưa thích của những tay sành ăn Hà Nội vốn đông đảo và hay chuyện. Danh tiếng của bà và của món phở ngày một lan xa.
Câu chuyện về nàng Thi Ba xinh đẹp, Francois Pierre Vidcoq và món phở là như vậy. Chẳng biết đó là chuyện thật hay là chuyện bịa? Điều quan trọng là nó làm cho bạn thích thú và nhớ đến mỗi khi mũi bạn ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt từ một bát phở lớn nóng hổi bay lên.
Ý nghĩa của câu chuyện về món phở
Một giai thoại vui, không phải sự tích dân gian
Câu chuyện về cô Thi Ba và anh lính thủy Francois Pierre được kể bằng giọng hài hước, có tên người, có ngạn ngữ Pháp, có cả lời tự hỏi ở cuối “chuyện thật hay là chuyện bịa?”. Người đọc nên hiểu đây là một giai thoại được dựng lên để giải thích cái tên “phở”, không phải truyện dân gian truyền miệng lâu đời và cũng không phải sử liệu.
Món ăn sinh ra từ sự giao thoa
Điều đáng chú ý trong câu chuyện là cách một món ăn mới hình thành: nguyên liệu, gia vị và khẩu vị của hai nền ẩm thực gặp nhau, qua nhiều lần thử, nhiều nồi súp hỏng, cuối cùng thành một món mang hương vị rau thơm Việt Nam. Dù chi tiết là hư cấu, ý ấy gần với cách nhiều món ăn đã ra đời trong lịch sử.
Người phụ nữ sau bát phở
Thi Ba trong truyện là người tự mày mò, học hỏi, rồi về Hà Nội mở tiệm sống bằng nghề của mình. Đọc lại hôm nay, câu chuyện cũng cho thấy thân phận người phụ nữ thời thuộc địa, phải phục dịch, chịu đựng những cơn nóng giận của “ông Tây”.
Nguồn gốc món phở và câu chuyện này
Phở là món ăn hình thành ở miền Bắc Việt Nam vào khoảng đầu thế kỷ XX. Về tên gọi, có giả thuyết cho rằng chữ “phở” bắt nguồn từ món súp “pot-au-feu” của Pháp, có giả thuyết khác gắn với món “ngưu nhục phấn” của người Hoa; chưa giả thuyết nào được xác nhận chắc chắn. Câu chuyện trên là một bản kể hư cấu xoay quanh giả thuyết “pot-au-feu”, không ghi tác giả. Món phở từng được nhà văn Nguyễn Tuân viết thành bài tùy bút nổi tiếng mang tên “Phở”.
Đọc thêm: Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và các sự tích về món ăn, trang phục Việt: Sự tích bánh chưng bánh dày, Sự tích áo Bà ba.
Câu hỏi thường gặp
Câu chuyện Thi Ba nấu món phở có thật không?
Không có căn cứ. Đây là giai thoại hư cấu, chính đoạn cuối câu chuyện cũng tự hỏi đó là chuyện thật hay chuyện bịa.
Chữ “phở” có phải bắt nguồn từ tiếng Pháp không?
Đó là một trong các giả thuyết (từ món “pot-au-feu”); một giả thuyết khác cho rằng chữ “phở” gắn với món “ngưu nhục phấn” của người Hoa. Đến nay chưa có kết luận chắc chắn.
