Sự tích hội chùa Hương là một trong những truyền thuyết đặc sắc của văn hóa dân gian Việt Nam. Truyền thuyết này không chỉ phản ánh tín ngưỡng mà còn mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. Khám phá câu chuyện này sẽ đưa bạn đến với những nét đẹp văn hóa độc đáo của dân tộc.
Từ xưa cho đến nay du khách trẩy hội Chùa Hương đã biết đến một quần thể hang động mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian – đạo Phật với nền văn hoá nông nghiệp (ao bèo, con trâu, đàn lợn, nong tằm, né kén…) và phảng phất nét văn hoá phồn thực (bầu sữa mẹ, núi cô, núi cậu…) du khách đến Chùa Hương cầu mong được thắp một nén tâm hương trước đấng siêu phàm và lời nguyện cầu mọi sự tốt lành.
Chùa Hương gắn liền với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba. Theo truyền thuyết thì ở vùng “Linh sơn phúc địa” này vào thế kỷ đầu tiên đã có công chúa Diệu Thiện tục gọi là chúa Ba ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã vào tu hành 9 năm đắc đạo thành phật đi cứu độ chúng sinh. (Ngày Phật Đản là ngày 19 tháng Hai hàng năm theo Âm lịch).
Đây cũng là giữa mùa xuân, mùa của trăm hoa đua nở, cây cỏ xanh tươi khí trời mát mẻ.
Người xưa có câu “Xuân du phương thảo địa”. Mùa xuân đến nơi đất có hoa cỏ đẹp. Hoặc quan niệm “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, nên các tao nhân mặc khách thường lui tới những nơi có danh thắng đẹp thưởng ngoạn, chính vì thế Chùa Hương là nơi hội tụ của bao người.

Vào tháng 3 năm Canh Dần (1770) Chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm tuần du Trấn Sơn Nam với cả quân dưới trướng. Nhà Chúa đã vào động Hương Tích thắp hương vãn cảnh và đề lên vách đá cửa động năm chữ “Nam Thiên Đệ Nhất Động”.
Động Hương Tích đã là nơi linh địa, lại được Nhà Chúa ca ngợi “Nam Thiên Đệ Nhất Động” thì lại càng đắc địa với lòng người. Vì lẽ động Hương Tích thờ Phật Bà Quán Thế Âm, là chỗ dựa tinh thần của lòng dân để cầu bình an và mọi điều tốt lành.
Có thể nói, Chúa Trịnh Sâm là người đưa vị thế động Hương Tích trở thành một di tích lớn, và cũng là đặt nền móng cho sự phát triển lễ hội Chùa Hương về sau và cho tới bây giờ, cũng từ đó hàng năm khi mùa xuân đến, dần dần du khách đến với lễ hội ngày một đông vui.
Nhưng phải mãi đến năm 1896 niên hiệu Thành thái năm thứ 8 mới chính thức mở hội lớn. Xưa hội Chùa Hương thường được mở sau ngày lễ hội khai sơn của làng Yến Vỹ vào ngày mùng 06 tháng Giêng.
Làng Yến Vỹ làm lễ khai sơn tại Đền Trình (Ngũ Nhạc Linh Từ) thờ sơn thần là ông Hổ một tín ngưỡng thờ vật thiêng của cư dân làm nghề khai thác lâm sản, mà nay ta thường thấy dưới hạ ban trong đền, điện, phủ có thờ quan ngũ dinh.
Trải qua các lớp thời gian, Đền Ngũ Nhạc từ tín ngưỡng thờ vật thiêng đã cấy vào thờ một vị thần tướng có công đánh giặc Ân dưới cờ Đức Thánh Phù Đổng cứu nước Văn Lang thời Vua Hùng Huy Vương thứ VI.
Lễ khai sơn vốn là nghi lễ của người Việt cổ tạ ơn thần núi, Chúa Sơn Lâm và cầu mong trong năm mới làm ăn may mắn tránh được tai ương, tà ma thú dữ. Trong ngày lễ này, sau những nghi thức cúng lễ dân làng cử một vị bô Lão có uy tín trong làng, gia đình song toàn, nhà không có tang…
Thay mặt dân làng cầm dao đi ra phía sau Đền chặt một số cành cây, dây leo “làm phép”. Kể từ ngày hôm đó người dân mới chính thức vào rừng.
Kể từ khi Vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1469) khai phá ra vùng đất Hương Sơn đến nay, đã trải qua 13 đời Sư tổ, để có được danh thắng Chùa Hương như ngày nay.
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, lễ hội Chùa Hương đã trở thành một lễ hội lớn thu hút hàng triệu lượt du khách về thăm quan chiêm bái. Ban tổ chức lễ hội cũng lấy ngày mùng 6 tháng Giêng Âm lịch hàng năm là ngày khai hội Chùa Hương.
Và mỗi độ xuân về du khách thập phương lại nô nức trẩy hội, tạo nên một lễ hội tâm linh vui bậc nhất cõi trời Nam, có thời gian diễn ra lâu nhất và có lượng du khách về trẩy hội đông nhất. Giờ đây lễ hội Chùa Hương đã trở thành một nét văn hoá tâm linh của người dân Việt Nam.
Và rồi đất nước lại báo một mùa Xuân nữa đến, khắp bốn phương du khách lại nô nức trẩy hội mong thắp một nén tâm hương trước đấng tối linh thỉnh một lời nguyện cầu.
“Không đi thì nhớ thì thương
Ra đi mến cảnh Chùa Hương không về”
Ý nghĩa lễ hội chùa Hương
Cuộc hành hương đầu năm
Trẩy hội chùa Hương là một chuyến đi dài: đi đò theo suối Yến, leo núi qua nhiều đền chùa rồi mới tới động Hương Tích. Với người đi lễ, sự vất vả ấy là một phần của lòng thành. Mùa hội kéo dài từ tháng Giêng đến tháng Ba, đúng mùa xuân, nên cuộc hành hương còn là dịp ngắm cảnh, gặp gỡ, giao duyên.
Nhiều lớp tín ngưỡng chồng lên nhau
Bài viết cho thấy chùa Hương không chỉ thờ Phật. Có thờ Bà Chúa Ba, tức công chúa Diệu Thiện tu hành thành Quán Thế Âm; có đền Trình thờ sơn thần, gắn với lễ khai sơn của làng Yến Vỹ trước khi vào rừng; có cả dấu vết thờ hình tượng phồn thực trong tên các núi đá. Đó là một ví dụ rõ về sự hòa trộn giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian của người Việt.
Danh thắng gắn với người xưa
Năm chữ “Nam Thiên Đệ Nhất Động” khắc ở cửa động Hương Tích, tương truyền của chúa Trịnh Sâm năm 1770, đã thành lời giới thiệu nổi tiếng nhất về nơi này. Nhiều thế hệ thi nhân đến đây để lại thơ văn, góp phần làm nên tiếng thơm của danh thắng.
Nguồn gốc lễ hội chùa Hương
Chùa Hương nằm ở vùng Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội; ngày khai hội chính là mùng 6 tháng Giêng âm lịch. Bài trên là một bài giới thiệu lễ hội, không phải truyện kể; truyền thuyết về Bà Chúa Ba được kể riêng trong bài Sự tích Bà chúa Ba ở chùa Hương. Lưu ý: ngày 19 tháng Hai âm lịch mà bài nhắc tới là ngày vía Quán Thế Âm Bồ Tát, không phải ngày Phật Đản (Phật Đản là rằm tháng Tư).
Học sinh lớp 4 học bài thơ Đi hội chùa Hương (Tiếng Việt 4 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 19). Đọc thêm: Sự tích Phật bà Quan âm, Hội chợ Viềng Nam Định.
Câu hỏi thường gặp
Lễ hội chùa Hương khai hội vào ngày nào?
Lễ hội khai hội ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch và thường kéo dài đến hết tháng Ba âm lịch.
Ai đề chữ “Nam Thiên Đệ Nhất Động” ở chùa Hương?
Theo bài viết và nhiều tài liệu, chúa Trịnh Sâm đề năm chữ này ở cửa động Hương Tích khi đến thăm vào năm 1770.