Soạn bài Bến quê dưới đây bám đúng hệ thống câu hỏi của sách Ngữ văn 9 tập hai chương trình cũ (Bài 27, văn bản từ trang 100, câu hỏi ở trang 107 – 108), dành cho các em còn ôn theo sách cũ, học sinh luyện đề vào lớp 10 và thầy cô cần tư liệu đối chiếu. Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu không còn là văn bản đọc chính trong sách Ngữ văn 2018 nhưng vẫn thường xuất hiện trong đề đọc hiểu; các bài học khác của lớp 9 xem ở chuyên mục Ngữ văn lớp 9.
Tìm hiểu chung về truyện ngắn Bến quê
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm nhanh vài thông tin về tác giả, nguồn gốc và cách chia đoạn của truyện.

Tác giả Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), người làng Thơi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông vào quân đội năm 1950, gắn bó nhiều năm với tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trước 1975, ông viết về người lính với cảm hứng sử thi (Cửa sông, Dấu chân người lính); từ đầu những năm 1980, ông quay sang đời thường, đi sâu vào những trăn trở đạo đức và triết lí nhân sinh, được xem là người mở đường tinh anh cho văn học thời kì Đổi mới. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật được Nhà nước truy tặng cho ông năm 2000. Đọc thêm bài Nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Xuất xứ và thể loại
- Xuất xứ: Bến quê là truyện ngắn in trong tập truyện cùng tên, xuất bản năm 1985.
- Thể loại: truyện ngắn hiện đại; kể ở ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn đặt vào nhân vật Nhĩ, nên câu chuyện chủ yếu trôi theo dòng suy nghĩ, cảm xúc của anh.
- Cách biểu đạt: kể chuyện là chính, đan xen miêu tả, biểu cảm và những đoạn suy ngẫm mang màu sắc nghị luận.
Bố cục 3 phần
- Phần 1 (từ đầu đến chỗ Nhĩ nhắc tới bờ bên kia sông Hồng trước cửa sổ nhà mình): cảnh ngộ của Nhĩ và những điều anh cảm nhận qua cuộc trò chuyện với vợ.
- Phần 2 (tiếp theo đến chi tiết lá buồm vá in trên mặt nước đỏ): Tuấn được bố nhờ sang sông; Nhĩ trông theo và buồn bã khi thấy con sa vào đám cờ thế.
- Phần 3 (còn lại): cụ giáo Khuyến sang thăm; Nhĩ có cử chỉ lạ lùng ở đoạn kết.
Tóm tắt nhanh truyện Bến quê
Nhĩ từng đi công tác ở rất nhiều nước, thế mà cuối đời lại phải nằm một chỗ vì bệnh nặng, trong căn gác nhìn ra sông Hồng. Một sáng đầu thu, nhìn qua cửa sổ, anh bỗng thấy bãi bồi phía bờ bên kia đẹp lạ, dù đó là nơi anh chưa từng đến, và hiểu ra cả sự tảo tần, nhẫn nhịn suốt bao năm của Liên, vợ anh. Nhĩ nhờ cậu con trai là Tuấn sang bên ấy giúp mình, nhưng Tuấn lại dừng chân xem một ván cờ thế bên đường, có nguy cơ trễ chuyến đò ngang chỉ chạy một lần mỗi ngày. Cuối truyện, Nhĩ gắng hết sức nhoài người ra cửa sổ, khoát tay như ra hiệu cho ai đó, đúng lúc con đò cập vào bờ đất lở bên này.
Hướng dẫn soạn bài Bến quê (SGK Ngữ văn 9 cũ)
Phần Đọc – hiểu văn bản trong sách gồm 6 câu hỏi (trang 107 – 108). Mỗi câu dưới đây chép lại đề, sau đó là gợi ý trả lời ngắn gọn, có dẫn chứng từ truyện.
Câu 1: Hoàn cảnh của nhân vật Nhĩ (trang 107)
Nhân vật Nhĩ trong truyện ở vào hoàn cảnh như thế nào? Xây dựng tình huống ấy, tác giả nhằm thể hiện điều gì?
Trả lời:
- Hoàn cảnh của Nhĩ rất éo le, nghịch lí: anh là người đã đi gần như khắp mặt đất vì công việc, vậy mà khi về cuối đời, một căn bệnh hiểm nghèo đã giữ anh nằm bất động trên chiếc giường kê sát cửa sổ. Muốn xê dịch vài chục phân từ mép nệm ra mép phản, anh cũng phải nhờ lũ trẻ hàng xóm.
- Chính lúc ấy, Nhĩ mới thấy hết nét quyến rũ của dải bãi bồi phía bờ bên kia, một nơi ở ngay trước mặt mà anh chưa bao giờ sang. Truyện gọi nơi ấy là “một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến”.
- Ý đồ của tác giả: qua tình huống nghịch lí này, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc chiêm nghiệm một quy luật của đời người: cuộc sống luôn chứa những điều ngẫu nhiên, bất ngờ, vượt ra ngoài dự tính của con người; và con người thường mải mê tìm kiếm ở nơi xa mà bỏ quên những giá trị bình dị, bền vững ngay bên cạnh mình, để rồi lúc hiểu ra thì không còn kịp nữa.
Câu 2: Những điều Nhĩ nhìn thấy và khao khát (trang 107)
Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, khi nằm trên giường bệnh, Nhĩ đã nhìn thấy những gì qua khung cửa sổ và anh khao khát điều gì? Vì sao Nhĩ lại có niềm khao khát ấy và điều đó có ý nghĩa gì?
Trả lời:
a. Những gì Nhĩ nhìn thấy. Cảnh vật hiện ra theo trình tự từ gần đến xa, mở dần chiều sâu và chiều rộng:
- Gần nhất là mấy chùm bằng lăng sắp hết mùa: hoa đã thưa nhưng “mấy bông hoa cuối cùng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn”.
- Xa hơn là con sông Hồng đầu thu ngả màu đỏ nhạt, “mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn.”
- Xa nữa là dải đất bồi phía bờ bên kia với sắc vàng xen xanh non, gợi lên “những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”.
Đó là cảnh quen thuộc trước cửa nhà, nhưng với Nhĩ lúc này nó mới mẻ như lần đầu được thấy.
b. Khao khát của Nhĩ. Anh ao ước có một lần được bước lên dải bãi bồi ấy. Biết mình không thể đi, anh nhờ con trai sang đó thay mình.
c. Vì sao có khao khát ấy và ý nghĩa.
- Nhĩ khao khát vì cận kề cái chết, con người thường nhìn lại đời mình và nhận ra giá trị của những điều giản dị trước đây bị xem nhẹ. Bãi bồi trở thành hình ảnh của quê hương, của những gì gần gũi nhất mà anh đã đi lướt qua.
- Đây là một khao khát gần như không thể thực hiện, nên càng chứa nhiều xót xa, ân hận. Ý nghĩa của nó là một sự thức tỉnh: điều đáng quý nhất của đời sống nằm trong những điều bình thường, bền vững như gia đình, quê hương; con người cần biết trân trọng chúng khi còn có thể.
Câu 3: Ngòi bút miêu tả tâm lí của Nguyễn Minh Châu (trang 108)
Vì sao có thể nói ngòi bút miêu tả tâm lí của Nguyễn Minh Châu ở thiên truyện này rất tinh tế và thấm đượm tinh thần nhân đạo? Phân tích sự miêu tả tâm lí nhân vật Nhĩ để khẳng định nhận xét ấy.
Trả lời:
Tinh tế ở chỗ nhà văn cho nhân vật tự cảm nhận, tự suy ngẫm; diễn biến bên trong được bộc lộ qua cái nhìn, những câu hỏi bâng quơ và các cử chỉ rất nhỏ:
- Khi ngắm cảnh, Nhĩ nhận ra những biến đổi tinh vi của sắc hoa, màu nước, độ cao của bầu trời. Lúc quay vào, anh thấy hoa bằng lăng chuyển sang “một màu tím thẫm như bóng tối”, một chi tiết khẽ báo trước cái chết đang tới gần.
- Nhĩ hỏi vợ có nghe thấy tiếng gì lúc gần sáng không, rồi hỏi hôm nay là ngày mấy. Đó là những câu hỏi nhỏ mà chứa nỗi lo âu về quỹ thời gian còn lại; Liên hiểu nên lảng đi.
- Khi nhờ con sang sông, Nhĩ lúng túng, ngượng nghịu vì biết mong muốn của mình nghe thật kì lạ; khi thấy con mải xem cờ, anh buồn bã nhưng không trách, vì nhận ra chính mình ngày trước.
Giàu tinh thần nhân đạo vì nhà văn trân trọng những tình cảm đẹp trong con người:
- Nhĩ cảm nhận sâu sắc tình yêu, sự tần tảo của vợ. Chi tiết “Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá.” vừa cho thấy sự hi sinh âm thầm của Liên, vừa chứa nỗi ân hận của người chồng.
- Liên nhẫn nại, dịu dàng, chỉ mong chồng còn sống: “Miễn là anh sống, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong gian nhà này”.
- Lũ trẻ hàng xóm, cụ giáo Khuyến đều đối xử với Nhĩ bằng tình người ấm áp; chính Nhĩ cũng thấy thương yêu tất cả những người quanh mình.
Nhà văn không xoáy vào nỗi đau thể xác của người bệnh mà soi vào khát vọng, sự thức tỉnh và tình cảm của anh, nên trang văn vừa buồn vừa nhân hậu.
Câu 4: Chân dung và cử chỉ của Nhĩ ở đoạn kết (trang 108)
Ở đoạn kết, tác giả đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với vẻ rất khác thường. Hãy giải thích ý nghĩa của các chi tiết ấy.
Trả lời:
- Chi tiết khác thường: cụ giáo Khuyến thấy mặt Nhĩ đỏ lên, mắt long lanh, mười ngón tay bấu chặt vào bậu cửa sổ và run lên. Truyện viết: “Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó.”
- Nghĩa thực: Nhĩ sốt ruột, như muốn giục cậu con trai đang la cà bên đường mau ra bến kẻo không kịp chuyến đò ngang chỉ có một lần mỗi ngày.
- Nghĩa sâu xa: cái khoát tay ấy là lời nhắn của một người biết mình sắp ra đi, gửi tới mọi người, nhất là lớp trẻ: hãy tỉnh táo trước những điều vòng vèo, đừng để thời gian trôi qua vô ích, hãy tìm về những giá trị thật sự, giản dị mà bền vững trước khi quá muộn.
Câu 5: Những hình ảnh, chi tiết mang tính biểu tượng (trang 108)
Nhiều hình ảnh, chi tiết trong truyện này mang tính biểu tượng. Hãy tìm một số hình ảnh, chi tiết như vậy và nêu ý nghĩa biểu tượng của chúng. (Gợi ý: hình ảnh bãi bồi bên kia sông, bờ sông bên này bị sụt lở, chi tiết anh con trai sa vào đám chơi phá cờ thế…)
Trả lời:
| Hình ảnh, chi tiết | Ý nghĩa biểu tượng |
| Bãi bồi bên kia sông | Quê hương, gia đình với vẻ đẹp giản dị, thân thuộc; những điều bền lâu mà người ta hay bỏ qua khi còn mải đi tìm ở nơi xa. |
| Bờ sông bên này sụt lở, tiếng đất lở lúc gần sáng | Sự sống của Nhĩ đang mòn dần, cái chết đã đến rất gần. |
| Những bông bằng lăng sắp tàn, sẫm màu dần rồi tím thẫm | Những ngày cuối cùng của một đời người, rực lên lần cuối trước khi tàn. |
| Tuấn mải xem người ta phá cờ thế | Sự vòng vèo, chùng chình mà ai cũng dễ vướng vào trên đường đời, khiến ta lỡ mất điều quan trọng. |
| Chuyến đò ngang chỉ có một lần trong ngày | Cơ hội trong đời không chờ đợi ai; cũng có thể hiểu là chuyến đò đưa con người đi qua ranh giới sống – chết. |
| Cử chỉ khoát tay của Nhĩ ở cuối truyện | Lời thức tỉnh, nhắc nhở con người sống khẩn trương, trân trọng những giá trị gần gũi. |
Câu 6: Đoạn văn thể hiện tập trung chủ đề (trang 108)
Truyện ngắn này chứa đựng những suy ngẫm, trải nghiệm của nhà văn về con người và cuộc đời. Tìm trong văn bản đoạn văn thể hiện tập trung chủ đề của truyện và nêu cảm nhận của em về đoạn văn.
Trả lời:
Đoạn văn tập trung chủ đề là đoạn Nhĩ nhìn thấy con trai đứng lại giữa đám đông xem cờ thế ở bên kia đường và nghĩ một cách buồn bã rằng “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Đoạn văn kết lại bằng ý: chỉ người từng trải như anh mới thấy hết vẻ đẹp của bãi bồi, và điều anh phát hiện ra giống như “một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn”.
Cảm nhận của em: đoạn văn là một trải nghiệm đời người được nói ra rất nhẹ nhàng. Tuổi trẻ thường hấp tấp, bị những thú vui nhất thời cuốn đi như Tuấn bị cuốn vào ván cờ; con người cũng hay nghĩ hạnh phúc phải ở đâu đó thật xa. Phải qua nhiều va vấp, như Nhĩ, ta mới nhận ra những thứ giản dị nhất (một bến sông quê, một người vợ tảo tần) lại là chỗ dựa bền lâu. Đoạn văn vì thế vừa có nỗi tiếc nuối, vừa là lời nhắc: hãy biết dừng lại, nhìn kĩ những gì quanh mình và sống sao cho khỏi phải ân hận muộn màng.
Hướng dẫn phần Luyện tập (trang 108)
Phần Luyện tập yêu cầu nhận xét nghệ thuật tả thiên nhiên ở đoạn mở đầu truyện và trình bày cảm nhận về đoạn văn chứa chủ đề (đoạn đã tìm ở câu 6). Các trang giải hiện nay chép đề phần này chưa thống nhất câu chữ, nên dưới đây gọi tên theo nội dung yêu cầu.
Câu 1: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên ở đoạn đầu truyện
Trả lời:
- Thiên nhiên được nhìn qua khung cửa sổ, bằng đôi mắt và tâm trạng của Nhĩ, nên cảnh không tĩnh mà biến đổi theo cảm xúc của anh.
- Trình tự tả từ gần ra xa (hàng bằng lăng, dòng sông, vòm trời, bãi bồi), khiến khung cảnh vừa sâu vừa trải rộng; màu sắc được chọn tinh tế: tím nhạt của hoa, đỏ nhạt của nước, vàng thau xen xanh non của bãi bồi.
- Nhà văn dùng nhiều phỏng đoán, so sánh gần gũi (màu đất như da thịt, hơi thở), khiến cảnh có hồn, gợi tình yêu quê hương.
- Cảnh vừa thực vừa mang tính biểu tượng: hoa cuối mùa, bờ đất lở báo hiệu sự sống của Nhĩ đang cạn dần; bãi bồi tượng trưng cho cái đẹp giản dị mà anh khao khát.
Câu 2: Viết đoạn văn cảm nhận về đoạn văn thể hiện chủ đề
Trả lời (đoạn văn tham khảo):
Đọc đoạn văn Nhĩ dõi theo Tuấn đang đứng xem cờ bên kia đường, em thấy thấm thía một nghịch lí rất đời thường. Tuấn đâu có lỗi lớn, cậu chỉ chưa thấy bên kia sông có gì đáng để vội. Còn Nhĩ, người đã đi gần hết thế giới, lại thấy bãi bồi đẹp đến nao lòng khi chẳng còn đủ sức bước xuống cầu thang. Hình ảnh ấy khiến em nghĩ tới bản thân: có khi mình mải chạy theo trò chơi, điện thoại, những ước mơ xa xôi mà quên một bữa cơm gia đình, một lời hỏi han bố mẹ. Nguyễn Minh Châu không lên giọng dạy bảo; ông chỉ để một người sắp mất nhìn ra cửa sổ, và từ cái nhìn ấy, người đọc tự hiểu rằng phải biết trân trọng những điều giản dị ngay bên mình trước khi chúng trở thành nỗi ân hận.
Kết luận
Khi soạn Bến quê, em cần nắm tình huống nghịch lí của nhân vật Nhĩ, vẻ đẹp của bãi bồi qua khung cửa sổ, tình cảm của Liên, chi tiết Tuấn mải chơi cờ và cử chỉ khoát tay cuối truyện. Từ đó rút ra thông điệp: biết quý những điều giản dị, thân thuộc mà gia đình và quê hương đem lại.
Xem thêm: