Phân tích Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ là đề nghị luận về một tác phẩm thơ thường gặp trong chương trình Ngữ văn 9 cũ (tập một, Bài 12). Dưới đây là dàn ý chi tiết cùng 5 bài văn tham khảo theo các hướng phân tích, cảm nhận, bình giảng về bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm theo nhiều hướng: phân tích toàn bài, phân tích vẻ đẹp người mẹ Tà-ôi, bình hình ảnh “mặt trời của mẹ”. Bài học lớp 9 khác được tập hợp tại chuyên mục Ngữ văn lớp 9.
Những điều cần nhớ về năm ra đời, thể thơ, bố cục có ở bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ: tác giả, tác phẩm. Do tác phẩm vẫn trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả, các bài mẫu chỉ dẫn lại ít dòng tiêu biểu; toàn văn bài thơ nằm ở trang Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Tiếng Việt 5).

Dàn ý phân tích Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
1. Mở bài
– Giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm (sinh năm 1943, Thừa Thiên – Huế), nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, thơ giàu suy tư.
– Giới thiệu bài thơ: viết năm 1971 ở chiến khu Trị – Thiên, là khúc ru của người mẹ Tà-ôi; khái quát giá trị: ca ngợi người mẹ miền núi vừa thương con vừa góp sức cho kháng chiến.
2. Thân bài
a. Kết cấu và giọng điệu
+ Ba khúc ru; trong mỗi khúc, nhà thơ kể mẹ đang làm gì, rồi để mẹ cất tiếng ru con.
+ Câu mở mỗi khúc trở đi trở lại, mỗi lần thay đổi đôi chút, thơ phần lớn tám chữ, nhịp êm như tiếng ru.
b. Khúc ru thứ nhất: nhịp chày giã gạo nuôi quân
+ Hình ảnh nhịp chày, giấc ngủ, mồ hôi, đôi vai gầy: lao động vất vả mà đầy yêu thương.
+ Lời ru: thương con gắn với thương bộ đội; ước mơ hạt gạo trắng, con lớn khỏe mạnh.
c. Khúc ru thứ hai: lên nương Ka-lưi tỉa bắp
+ Đối lập lưng núi to và lưng mẹ nhỏ: gian khổ và sức chịu đựng phi thường.
+ Hai hình ảnh mặt trời: mặt trời thiên nhiên nuôi bắp và mặt trời của mẹ là đứa con – ẩn dụ độc đáo.
+ Lời ru: thương con gắn với thương làng đói; ước mơ mùa màng no đủ.
d. Khúc ru thứ ba: mẹ chuyển lán, địu con ra trận
+ Cả gia đình ra trận, mẹ địu con đi giành trận cuối; em bé lớn lên giữa chiến trường.
+ Lời ru: thương con gắn với thương đất nước; mẹ mong được gặp Bác Hồ và thấy con trưởng thành khi đất nước đã tự do.
⇒ Qua ba khúc ru, tình thương và ước mơ của mẹ mỗi lúc một rộng: từ gia đình đến buôn làng, đến cả dân tộc.
e. Nghệ thuật
+ Giọng ru ngọt ngào, điệp cấu trúc, hình ảnh gợi cảm, phép ẩn dụ sáng tạo, từ ngữ miền núi (a-kay, Ka-lưi).
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị bài thơ: bức chân dung đẹp về người mẹ Tà-ôi, về những em bé lớn lên cùng kháng chiến.
– Cảm xúc, liên hệ bản thân: biết ơn thế hệ cha ông, yêu thương mẹ.
Phân tích Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ngắn gọn – mẫu 1
Lời ru vốn là món quà đầu đời của mỗi đứa trẻ. Vào những năm kháng chiến chống Mĩ, lời ru ấy còn chở thêm bao gian khổ và ước mơ của cả dân tộc. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm viết năm 1971 ở chiến khu Trị – Thiên, là một bài thơ như vậy.
Tác phẩm có ba khúc ru. Khúc đầu cho thấy mẹ địu con sau lưng mà tay vẫn giã gạo nuôi quân. Nhà thơ tả rất thực: chày lên chày xuống, giấc ngủ của đứa bé cũng chao nghiêng theo; mồ hôi trên trán mẹ nhỏ xuống làm ấm má con. Chi tiết giản dị nói lên sự vất vả của mẹ và sự gắn bó máu thịt giữa hai mẹ con. Đến khúc kế tiếp, mẹ lên nương tỉa bắp. Núi thì rộng lớn, lưng mẹ thì nhỏ bé, vậy mà mẹ vẫn làm việc không ngơi. Đặc biệt, nhà thơ có một phát hiện đẹp: mặt trời trên đồi làm bắp lớn, còn mặt trời của mẹ chính là đứa con trên lưng. Khúc cuối đưa ta đến cảnh cả buôn dời lán, mẹ băng rừng, đưa con theo đoàn người đi giành trận cuối.
Khép mỗi khúc là tiếng ru của chính mẹ. Thương con, mẹ thương lây sang những người lính, sang dân làng đang đói, rồi sang cả non sông. Mong ước của mẹ cũng nở rộng: ban đầu là gạo trắng, là bắp lên đều, sau cùng là được gặp Bác Hồ và thấy con trưởng thành trong độc lập.
Với giọng thơ êm như tiếng ru, kết cấu trùng điệp mà vẫn đổi mới và những hình ảnh gợi cảm, bài thơ đã khắc họa vẻ đẹp của người mẹ Tà-ôi: tần tảo, yêu con và một lòng với kháng chiến. Đọc bài thơ, em càng thêm biết ơn những người mẹ đã nuôi con giữa bom đạn để có hòa bình hôm nay.
Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – mẫu 2
Trong kho tàng văn học dân gian, hát ru là thể loại gần gũi nhất với tuổi thơ mỗi người. Mượn hình thức quen thuộc ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã viết nên Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, một bài thơ vừa mang âm hưởng lời ru truyền thống, vừa in đậm hơi thở của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm được viết vào năm 1971, thời gian Nguyễn Khoa Điềm hoạt động ở vùng núi phía tây Thừa Thiên, sống giữa đồng bào Tà-ôi và chứng kiến cuộc sống của họ.
Ngay ở nhan đề, nhà thơ đã gọi ra một hình ảnh đặc biệt: những em bé lớn trên lưng mẹ. Ở miền núi, người mẹ thường địu con khi làm nương, giã gạo. Nhưng trong chiến tranh, chiếc địu ấy còn theo mẹ ra trận. Các em bé lớn lên không phải trong nôi êm mà trên tấm lưng gầy của mẹ, giữa bao gian khó. Nhan đề vì thế vừa gợi sự vất vả, vừa ngợi ca người mẹ cùng lớp trẻ thơ trưởng thành giữa khói lửa.
Tác phẩm có ba khúc, trong mỗi khúc nhà thơ kể trước, mẹ hát ru sau. Các khúc mở đầu bằng những câu ru gần như giống nhau, khiến bài thơ có nhịp điệu đều đặn như tiếng ru vỗ về.
Khúc ru thứ nhất gắn với cảnh mẹ giã gạo cho bộ đội. Nhà thơ dùng những chi tiết rất cụ thể: nhịp chày lên xuống làm giấc ngủ của em bé nghiêng theo, mồ hôi mẹ rơi xuống làm má em nóng hổi, đôi vai mẹ gầy trở thành chiếc gối. Hình ảnh “nhấp nhô” gợi nhịp lao động đều đặn mà nặng nhọc. Thế nhưng trong vất vả, tình mẹ vẫn dịu dàng: tấm lưng thành chiếc nôi, trái tim cất lên thành lời hát. Lời ru của mẹ gói cả hai tình thương: thương a-kay và thương bộ đội. Mẹ mơ hạt gạo trắng ngần, mơ con lớn lên khỏe mạnh, mỗi nhát chày giáng xuống như muốn lún cả mặt sân. Mong ước của người phụ nữ miền núi thật giản dị mà mạnh mẽ.
Khúc ru thứ hai đưa người đọc lên núi Ka-lưi, nơi mẹ tỉa bắp. Câu thơ “Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ” dùng phép đối để làm nổi bật sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn, đồng thời ca ngợi sức chịu đựng bền bỉ của mẹ. Và rồi nhà thơ viết hai dòng đẹp nhất của bài:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
Mặt trời đầu tiên là vầng dương trên cao, tỏa nắng cho cây bắp lớn. Mặt trời thứ hai là đứa con: con là nguồn sáng, nguồn sống, là niềm tin và hạnh phúc của mẹ. Hình ảnh ẩn dụ ấy vừa mới lạ vừa thấm thía, nói lên tình mẫu tử thiêng liêng. Lời ru ở khúc này gắn thương con với thương làng đói; mẹ mơ hạt bắp lên đều, mơ con lớn lên phát rẫy cả mười ngọn núi.
Khúc ru thứ ba mở ra khung cảnh chiến đấu. Kẻ thù tràn đến, buôn làng phải rời bỏ nơi ở cũ; anh trai, chị gái đều mang vũ khí, còn mẹ đưa em theo đoàn người ra trận. Cả gia đình đều ra trận. Em bé từ lưng mẹ đã đến với chiến trường, từ đói khổ đã vào Trường Sơn. Đây là hình ảnh rất đẹp về một thế hệ lớn lên cùng kháng chiến. Lời ru lúc này nâng lên tầm cao mới: thương con và thương đất nước; mẹ mơ được gặp Bác Hồ, mơ ngày con khôn lớn khi quê hương sạch bóng quân thù.
Đi qua ba khúc ru, ta thấy tình thương và ước mơ của người mẹ ngày càng rộng lớn: từ bộ đội đến buôn làng, rồi đến cả non sông. Người mẹ Tà-ôi hiện lên vừa bình dị vừa anh hùng, tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam trong kháng chiến. Với thể thơ tự do mà phần lớn là câu tám chữ, giọng điệu ngọt ngào, kết cấu điệp lại có phát triển, ngôn ngữ mang màu sắc miền núi, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên một khúc ru giàu sức lay động.
Bài thơ không chỉ là lời ru của một người mẹ, mà còn là bản anh hùng ca giản dị về sức sống của dân tộc trong những năm tháng gian khổ. Đọc bài thơ, em hiểu thêm vì sao hòa bình hôm nay lại quý giá đến thế.
Phân tích vẻ đẹp người mẹ Tà-ôi trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – mẫu 3
Hình ảnh người mẹ trong thơ ca kháng chiến thường gắn với tấm lòng bao dung và sức chịu đựng phi thường. Người mẹ Tà-ôi trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm cũng vậy, nhưng bà còn mang những nét rất riêng của người phụ nữ miền núi Trị – Thiên thời chống Mĩ.
Trước hết, đó là người mẹ cần cù, tần tảo. Qua ba khúc ru, mẹ không lúc nào ngơi tay: khi giã gạo, khi tỉa bắp trên nương, khi chuyển lán, đạp rừng. Mỗi công việc đều nặng nhọc, và mẹ làm tất cả trong lúc trên lưng vẫn địu đứa con nhỏ. Những chi tiết như mồ hôi rơi, đôi vai gầy, lưng mẹ nhỏ bé giữa núi rộng đã cho thấy cái giá của từng chày gạo, từng gốc bắp mà mẹ làm ra.
Thứ hai, đó là người mẹ giàu tình yêu thương con. Trong những bộn bề ấy, mẹ vẫn dành cho con lời ru dịu dàng. Con là “mặt trời của mẹ”, là ánh sáng sưởi ấm và dẫn đường cho cuộc đời mẹ. Tình thương ấy không cần lời hoa mĩ, nó hiện ra trong cách mẹ dỗ con ngủ yên trên lưng, trong cách mẹ vỗ về để con khỏi giật mình theo nhịp chày.
Thứ ba, đó là người mẹ một lòng với cách mạng. Mẹ giã gạo cho các anh bộ đội, lên nương trồng bắp cho dân làng đỡ đói, rồi địu con theo đoàn quân đi giành trận cuối. Tình thương con của mẹ hòa làm một với tình thương bộ đội, thương làng, thương non sông. Những điều mẹ mong cũng vậy: không chỉ cho riêng con mà cho cả cộng đồng, cả dân tộc, từ mùa màng no đủ đến ngày độc lập.
Cuối cùng, người mẹ ấy tiêu biểu cho cả một thế hệ phụ nữ Việt Nam thời chiến. Không cầm súng như anh, không cầm chông như chị, mẹ vẫn là một chiến sĩ trên mặt trận hậu phương, góp sức vào thắng lợi chung. Bằng việc kết hợp lời kể với lời ru, Nguyễn Khoa Điềm vừa cho ta thấy công việc của mẹ, vừa cho ta nghe được tiếng lòng của mẹ.
Qua hình ảnh người mẹ Tà-ôi, bài thơ ca ngợi vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người mẹ Việt Nam. Em thấy biết ơn những người mẹ đã lặng lẽ hi sinh để thế hệ chúng em được lớn lên trong yên bình.
Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (bài học sinh giỏi) – mẫu 4
Ai trong chúng ta cũng từng lớn lên trong lời ru của mẹ, của bà. Nhưng có những em bé lớn lên không trong căn nhà êm ấm, mà trên tấm lưng gầy của mẹ, theo mẹ lên nương, theo mẹ vào rừng, theo mẹ ra trận. Viết về các em và những người mẹ ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã để lại Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, một bài thơ mà mỗi lần đọc lại, em lại thấy lòng mình xao động.
Điều đầu tiên làm nên sức hấp dẫn của bài thơ là cách tổ chức đặc biệt. Ba khúc ru nối tiếp nhau, mỗi khúc đều mở bằng lời dỗ dành em cu Tai ngủ ngoan trên lưng mẹ, rồi kể về một công việc của mẹ, sau cùng là lời ru trực tiếp. Sự lặp lại ấy giống như những vòng sóng, vòng sau rộng hơn vòng trước. Công việc của mẹ đi từ giã gạo, tỉa bắp đến chuyển lán, đạp rừng, nghĩa là từ lao động hậu phương tiến dần ra tiền tuyến. Tình thương của mẹ đi từ bộ đội, buôn làng đến đất nước. Điều mẹ mong mỏi cũng đi từ bát gạo trắng, nương bắp tốt đến ngày gặp Bác, ngày con được tự do. Cấu trúc tưởng đơn giản ấy lại thể hiện một sự vận động cảm xúc rất chặt chẽ.
Điều thứ hai là những hình ảnh thơ chân thực mà giàu sức gợi. Ở khúc ru đầu, nhà thơ không nói mẹ vất vả, chỉ để giấc ngủ của con nghiêng theo nhịp chày, để giọt mồ hôi của mẹ làm nóng má con. Em cảm nhận được hơi ấm của tình mẹ len vào từng chi tiết. Ở khúc ru thứ hai, sự vất vả của mẹ được nhấn mạnh bằng một phép đối giản dị giữa núi to và lưng mẹ nhỏ, để rồi câu thơ bất ngờ bừng sáng với hình ảnh hai mặt trời. Đứa con trở thành mặt trời của mẹ. Ẩn dụ này không chỉ nói con là niềm hạnh phúc, mà còn nói con là niềm tin, là tương lai, là lí do để mẹ vượt qua mọi gian khổ. Em nghĩ đây là một trong những câu thơ đẹp nhất viết về tình mẫu tử trong thơ ca hiện đại.
Ở khúc ru thứ ba, không khí trở nên khẩn trương. Kẻ thù đuổi đến, buôn làng phải rời con suối quen thuộc. Anh trai, chị gái đều đã cầm vũ khí, mẹ cũng địu em đi giành trận cuối. Chi tiết em bé được mẹ đưa thẳng từ tấm lưng địu tới nơi chiến trường khiến em xúc động: em bé còn quá nhỏ mà đã có mặt ở nơi khói lửa. Nhưng đó không phải là sự đáng thương, mà là niềm tự hào. Các em trưởng thành giữa những năm chiến đấu, thấm đẫm tinh thần của cha anh. Và ước mơ của mẹ vì vậy cũng cao đẹp nhất: mai này con lớn lên sẽ được làm người tự do. Hai chữ tự do được nhà thơ viết hoa như một lời khẳng định thiêng liêng về khát vọng của cả dân tộc.
Điều thứ ba là giọng điệu. Dù viết về chiến tranh, bài thơ không hề nặng nề. Giọng ru ngọt ngào, thủ thỉ, những từ ngữ của đồng bào miền núi như a-kay, Ka-lưi làm bài thơ mang màu sắc riêng. Thể thơ tự do với nhiều câu tám chữ tạo nhịp êm, đều như nhịp võng đưa. Chính sự hòa quyện giữa chất trữ tình và chất sử thi đã làm nên vẻ đẹp đặc biệt của tác phẩm.
Đọc Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, em không chỉ thương người mẹ Tà-ôi mà còn thương những em bé sinh ra trong thời chiến. Hôm nay, chúng em được lớn lên trong vòng tay mẹ, giữa thanh bình. Điều đó nhắc em phải sống sao cho xứng đáng với những hi sinh thầm lặng của các thế hệ đi trước.
Bình giảng hình ảnh “mặt trời của mẹ” trong bài thơ – mẫu 5
Trong thơ ca Việt Nam, mặt trời thường là biểu tượng của ánh sáng, sự sống và niềm tin. Nguyễn Khoa Điềm đã mượn biểu tượng quen thuộc ấy để tạo nên một hình ảnh độc đáo trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ: đứa con được ví là mặt trời của mẹ.
Hình ảnh xuất hiện ở khúc ru thứ hai, khi mẹ lên nương Ka-lưi trồng bắp. Trước đó, nhà thơ đã cho ta thấy sự vất vả của mẹ: núi thì lớn, lưng mẹ thì nhỏ, em bé trên lưng được dặn ngủ ngoan để mẹ đỡ mỏi. Rồi đột nhiên, câu thơ mở ra hai mặt trời song song. Vầng mặt trời đầu tiên thuộc về đất trời, ở trên đồi, rọi nắng cho bắp mau lớn. Mặt trời thứ hai là đứa con, nằm trên lưng mẹ.
Cách đặt hai hình ảnh cạnh nhau tạo nên một sự liên tưởng bất ngờ. Nếu mặt trời trên đồi nuôi lớn cây bắp, thì đứa con nuôi lớn niềm tin, sức mạnh của mẹ. Con sưởi ấm tâm hồn mẹ, cho mẹ thêm sức để làm lụng, để chịu đựng mọi gian khổ. Với mẹ, con quan trọng như mặt trời đối với muôn loài.
Hình ảnh còn có ý nghĩa sâu xa hơn. Đứa con là tương lai, là hi vọng của buôn làng và đất nước. Mẹ địu con lên nương hôm nay chính là đang nuôi lớn những người sẽ làm chủ quê hương ngày mai. Vì thế, mặt trời của mẹ cũng là mặt trời của một dân tộc đang chiến đấu để giành tự do.
Chỉ bằng hai dòng thơ giản dị, Nguyễn Khoa Điềm đã nói được điều sâu sắc nhất về tình mẫu tử. Hình ảnh ấy khiến em nhớ mãi, và mỗi khi nhìn mẹ, em lại muốn mình trở thành một mặt trời nhỏ mang niềm vui đến cho mẹ.
Kết luận
Khi phân tích Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, em nên đi theo ba khúc ru và chỉ ra sự phát triển của công việc, tình thương, ước mơ của người mẹ; dành một đoạn riêng để bình hình ảnh đứa con được ví như mặt trời, cuối cùng nhận xét nghệ thuật lời ru. Vì tác phẩm vẫn được bảo hộ, bài làm chỉ nên dẫn vài dòng tiêu biểu và diễn giải phần còn lại bằng lời của em.
Xem thêm: