Ôn tập cuối học kì 2 là tuần 35, tuần học cuối của sách Tiếng Việt lớp 5 – bộ Kết nối tri thức tập 2, trang 148–157; trong sách, phần này có tên Ôn tập và đánh giá cuối năm học. Bài viết gợi ý cách làm từng câu của 5 tiết ôn tập và 2 tiết đánh giá.

Tuần ôn tập cuối năm lớp 5 gồm những gì?
- Tiết 1, 2: chủ điểm đã học, tóm tắt truyện, dùng từ, liên kết câu.
- Tiết 3, 4: đọc lại bài đã học, câu ghép, đọc hiểu Bà tổ nghề dệt lụa.
- Tiết 5: nội dung tranh, đoạn văn nêu cảm xúc.
- Tiết 6, 7: đánh giá – đọc bài thơ Qua Thậm Thình, đọc hiểu Phong cảnh đền Hùng, viết bài văn.
Ôn tập tiết 1, 2 (trang 148, 149)
Câu 1 (trang 148): Quan sát tranh và thực hiện yêu cầu.
a. Nêu tên các chủ điểm đã học trong Tiếng Việt 5 (tập một và tập hai).
b. Theo em, bức tranh muốn nói điều gì? Chọn câu trả lời dưới đây hoặc nêu ý kiến của em.
A. Con đường học tập rộng mở đang chờ đón em bước tiếp.
B. Kiến thức là vô tận, hãy khám phá để thành công.
C. Học tập là một hành trình để đi đến tương lai tốt đẹp.
Tranh vẽ các bạn đi trên con đường giữa hàng cây, tán cây ghi tên các chủ điểm.
Trả lời:
- a. Có 8 chủ điểm:
| Tập một | Thế giới tuổi thơ; Thiên nhiên kì thú; Trên con đường học tập; Nghệ thuật muôn màu |
| Tập hai | Vẻ đẹp cuộc sống; Hương sắc trăm miền; Tiếp bước cha ông; Thế giới của chúng ta |
b. Em chọn C: tám chủ điểm như tám chặng đường, đi hết giúp các bạn lớn lên. Chọn A, B cũng được nếu giải thích hợp lí.
Câu 2 (trang 149): Tóm tắt nội dung 1 – 2 câu chuyện dưới đây. Nêu điều em tâm đắc nhất trong câu chuyện đó và giải thích vì sao.
Danh y Tuệ Tĩnh; Những con hạc giấy; Người thầy của muôn đời; Một người hùng thầm lặng.
Trả lời:
- Người thầy của muôn đời: ngày mừng thọ thầy Chu Văn An, thầy dẫn học trò đến nhà thầy giáo cũ của mình để vái tạ ơn. Em tâm đắc vì thầy dạy trò lòng biết ơn bằng chính việc làm.
- Một người hùng thầm lặng: năm 1939, Uyn-tơn tổ chức tàu đưa 669 trẻ em Do Thái từ Pra-ha sang Anh tránh chiến tranh, rồi giữ kín việc ấy suốt 50 năm. Em tâm đắc vì ông làm việc tốt mà không cần ai biết.
Hai truyện còn lại: Danh y Tuệ Tĩnh, Những con hạc giấy.
Câu 3 (trang 149): Chọn từ thích hợp thay cho mỗi bông hoa.
Từ cho sẵn: nhiều, đông, đầy.
a. ✿ như kiến
b. Năng mưa thì giếng năng ✿.
c. ✿ sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
d. Con ơi nhớ lấy câu này / Sông sâu chớ lội, đò ✿ chớ qua.
Trả lời: a. Đông như kiến. b. năng đầy. c. Nhiều (hoặc Đông) sao thì nắng. d. đò đầy chớ qua (đò chở nặng dễ chìm).
Câu 4 (trang 149): Đặt câu để phân biệt nghĩa của ba từ: ít, thưa, vắng.
Trả lời:
- ít (số lượng nhỏ): Năm nay cây cam nhà em ra ít quả.
- thưa (các vật cách xa nhau): Mấy ngôi nhà thưa thớt bên sườn đồi.
- vắng (không có hoặc rất ít người): Trưa hè, con đường làng vắng tanh.
Câu 5 (trang 149): Các câu trong mỗi đoạn văn dưới đây liên kết với nhau bằng cách nào? Từ ngữ nào cho em biết điều đó?
a. Đoạn văn 4 câu (Theo Vũ Hùng) tả nơi ở, thói quen và dáng vẻ của loài hươu.
b. Đoạn văn (Thi Sảnh) nêu nét riêng của từng mùa ở Hạ Long và ngọn gió mùa hè.
Trả lời:
- a. Thay thế từ ngữ: từ chúng (câu 2, 3, 4) thay cho loài hươu ở câu 1. Từ nối: Thế nhưng (câu 4).
- b. Lặp từ ngữ: mùa, Hạ Long được nhắc lại ở nhiều câu. Từ nối: Song (câu 5).
Câu 6 (trang 149): Viết 2 – 3 câu tả cảnh nơi em ở vào một ngày mưa hoặc một ngày nắng, cho biết biện pháp liên kết câu em đã sử dụng trong đoạn văn.
Trả lời: Buổi chiều, mưa rào đổ xuống xóm nhỏ của em. Mưa gõ lộp độp trên mái tôn, chảy thành dòng trên đường làng. Khi mưa tạnh, hàng cau trước ngõ như vừa được tắm mát. (Liên kết: lặp từ mưa; dùng cụm từ nối Khi mưa tạnh.)
Ôn tập tiết 3, 4 (trang 150–152)
Câu 1 (trang 150): Chọn 1 trong 2 yêu cầu dưới đây:
a. Đọc thuộc lòng đoạn thơ khoảng 100 chữ trong một bài thơ đã học và trả lời câu hỏi: Bộ đội về làng (Hoàng Trung Thông) – Tình quân dân được thể hiện như thế nào trong bài thơ?; Về ngôi nhà đang xây (Đồng Xuân Lan) – Theo em, nhà thơ muốn nói điều gì qua hình ảnh ngôi nhà đang xây?; Việt Nam quê hương ta (Nguyễn Đình Thi) – Em thích những hình ảnh nào trong bài thơ? Vì sao?; Bài ca trái đất (Định Hải) – Nhan đề bài thơ gợi cho em những cảm nghĩ gì?
b. Đọc một bài dưới đây và thực hiện yêu cầu: Nghìn năm văn hiến; Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa; Giờ Trái Đất; Thành phố thông minh Mát-xđa. Yêu cầu: Chủ đề của bài đọc là gì? Nêu thông tin chính của bài đọc.
Trả lời: Gợi ý yêu cầu a:
- Bộ đội về làng: cả xóm rộn ràng đón bộ đội, các em nhỏ chạy theo, mẹ già bịn rịn, nhà nào cũng mở cửa đón. Bộ đội và dân thân thiết như ruột thịt.
- Về ngôi nhà đang xây: ngôi nhà lớn lên từng ngày như đất nước đang đổi mới.
- Việt Nam quê hương ta: em thích hình ảnh con người Việt Nam hiền lành mà dũng cảm, khi có giặc thì đứng lên, hết giặc lại về cày cấy.
- Bài ca trái đất: nhan đề như lời ca ngợi trái đất – ngôi nhà chung của mọi dân tộc, ai cũng phải chung tay giữ gìn hoà bình.
Gợi ý yêu cầu b (chủ đề, thông tin chính), ví dụ:
- Nghìn năm văn hiến: truyền thống hiếu học của dân tộc; nước ta mở khoa thi từ rất sớm, nhiều tiến sĩ được khắc tên trên bia đá ở Văn Miếu.
- Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa: ca ngợi nhà khoa học bỏ cuộc sống đủ đầy ở nước ngoài về chế tạo vũ khí, góp công lớn cho kháng chiến.
Câu 2 (trang 151): Xác định chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu dưới đây và cho biết câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép.
a. Hoa cà phê có mùi thơm đậm và ngọt nên nó thường theo gió bay đi rất xa. (Thu Hà)
b. Bác rùa đá đang nằm im như một tảng đá, thò đầu ra khỏi mai, lim dim mắt đón nhận từng giọt âm thanh tươi mát của tiếng chim bách thanh. (Vân Long)
c. Tôi có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng và tôi có thể chạy đến chỗ nó rơi xuống một cách dễ dàng. (Nguyễn Trọng Tạo)
d. Những buổi trưa hè, tôi nằm trên chiếc võng mắc vào tán cây sau nhà, vừa nghe gió thổi hiu hiu vừa nhìn lên bầu trời ngắm mây bay. (Lê Văn Trường)
Trả lời:
| Câu | Chủ ngữ | Vị ngữ | Loại câu |
| a | Hoa cà phê; nó | có mùi thơm đậm và ngọt; thường theo gió bay đi rất xa | Câu ghép |
| b | Bác rùa đá | đang nằm im như một tảng đá, thò đầu ra khỏi mai, lim dim mắt đón nhận… tiếng chim bách thanh | Câu đơn |
| c | Tôi; tôi | có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng; có thể chạy đến chỗ nó rơi xuống một cách dễ dàng | Câu ghép |
| d | tôi | nằm trên chiếc võng mắc vào tán cây sau nhà, vừa nghe… ngắm mây bay | Câu đơn |
Câu 3 (trang 151): Trong những câu ghép tìm được ở bài tập 2, các vế câu được nối với nhau bằng cách nào?
Trả lời: Câu a: nối bằng kết từ nên. Câu c: nối bằng kết từ và.
Câu 4 (trang 151): Đọc câu chuyện dưới đây và thực hiện yêu cầu.
Truyện Bà tổ nghề dệt lụa (Theo Tạ Phong Châu – Nguyễn Quang Vinh – Nghiêm Đa Văn) kể về công chúa Thiều Hoa, con gái Vua Hùng, người tìm ra cách nuôi tằm, dệt lụa và dạy lại cho dân.
a. Dựa vào đoạn mở đầu câu chuyện, em hãy giới thiệu về công chúa Thiều Hoa.
b. Câu chuyện giải thích thế nào về việc công chúa tìm ra được nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa?
c. Vải lụa được làm từ tơ tằm đẹp và quý thế nào?
d. Nhờ đâu nghề dệt lụa phát triển ở Cổ Đô và mười tám trang ấp dọc theo sông Hồng?
e. Nêu chủ đề của bài đọc.
Trả lời:
- a. Nàng là út nữ của Vua Hùng thứ sáu, xinh đẹp, hiền dịu, yêu thương mọi loài; vào rừng thì cây cối, chim thú như vui mừng đón nàng.
- b. Ở hội thi múa của loài bướm, công chúa trò chuyện với bướm nâu xấu xí và biết nó sinh ra tằm nhả tơ. Nàng đem bướm về nuôi ở bãi dâu ven sông Hồng. Có kén rồi, nàng nghĩ ra guồng kéo kén, xa xe tơ, rồi dệt trên khung cửi thành lụa.
- c. Lụa mỏng, vàng óng như nắng; trời nóng mặc thấy mát, trời rét mặc thấy ấm.
- d. Nhờ công chúa Thiều Hoa truyền nghề cho dân; nghề ấy được giữ gìn qua bao đời.
- e. Truyện giải thích nguồn gốc nghề dệt lụa và ca ngợi công chúa Thiều Hoa – bà tổ của nghề.
Ôn tập tiết 5 (trang 153)
Câu 1 (trang 153): Dựa vào câu chuyện Bà tổ nghề dệt lụa, nêu nội dung của từng tranh.
Sách có 4 tranh đánh số 1 – 4.
Trả lời:
- Tranh 1: Vua Hùng thứ sáu đi dạo bên sông cùng công chúa Thiều Hoa.
- Tranh 2: công chúa vào rừng, hươu nai quấn quýt, bướm bay quanh.
- Tranh 3: công chúa chăm những nong tằm.
- Tranh 4: công chúa ngồi bên chiếc xa kéo tơ, chỉ cho mọi người cách làm ra lụa.
Câu 2 (trang 153): Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của em về câu chuyện Bà tổ nghề dệt lụa.
Trả lời: Đọc truyện Bà tổ nghề dệt lụa, em rất yêu quý công chúa Thiều Hoa. Em thích nhất chi tiết nàng không chê bướm nâu xấu xí mà chịu khó trò chuyện với nó. Em khâm phục sự kiên nhẫn và sáng tạo của nàng khi tự nghĩ ra guồng, xa, khung cửi. Mỗi lần thấy áo lụa, em lại nhớ tới nàng và tự hào về nghề truyền thống của quê hương.
Câu 3 (trang 153): Chỉnh sửa đoạn văn theo góp ý.
Trả lời: Em đọc nhận xét của thầy cô, bạn bè rồi sửa câu sai, từ lặp, lỗi chính tả.
Đánh giá cuối năm học: A. Đọc (trang 154–157)
Phần I. Đọc thành tiếng – bài thơ Qua Thậm Thình (Nguyễn Bùi Vợi)
Bài thơ lục bát 16 dòng: ngang qua Thậm Thình (Phú Thọ), tác giả nhớ chuyện Vua Hùng và tiếng chày giã gạo thuở xưa. Em đọc giọng tha thiết, ngắt nhịp đều.
Câu 1 (trang 154): Vì sao khi đi qua Thậm Thình, tác giả lại bâng khuâng nhớ về thuở xa xưa?
Trả lời: Vì Thậm Thình gắn với chuyện Vua Hùng: vua từng dừng chân, cho dựng nhà, làm kho gạo ở đây. Tên đất còn đó nên tác giả nhớ về thời dựng nước.
Câu 2 (trang 155): Qua lời kể của tác giả, những chi tiết nào cho thấy vua rất gần gũi, gắn bó với muôn dân?
Trả lời: Vua đi săn rồi nghỉ trưa ngay trong xóm nhỏ; vua vui vẻ nhận xôi, bánh chưng, bánh giầy do dân dâng; vua hài lòng, cho chọn đất, tìm thợ dựng nhà ở chính nơi đó.
Câu 3 (trang 155): Theo em, bốn dòng thơ cuối ý nói gì?
Trả lời: Lầu son xưa không còn, nay là thành phố. Nhưng tiếng chày xưa như vẫn văng vẳng: con cháu không quên cội nguồn.
Phần II. Đọc hiểu – bài Phong cảnh đền Hùng (Theo Đoàn Minh Tuấn)
Bài văn tả khu di tích đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, từ đền Thượng trên đỉnh xuống tới đền Giếng.
Câu 1 (trang 156): Ở đoạn mở đầu, đền Thượng được miêu tả thế nào?
– Trước đền: …
– Trong đền: …
Trả lời: Trước đền: hoa hải đường nở đỏ rực, bướm nhiều màu bay lượn như múa quạt. Trong đền: chính giữa treo bức hoành phi có bốn chữ Nam quốc sơn hà màu vàng, trông uy nghiêm.
Câu 2 (trang 156): Ghép ô chữ bên trái với ô chữ bên phải để nêu đúng phong cảnh thiên nhiên nhìn từ lăng của các Vua Hùng.
Bên trái: Phía bên phải; Phía bên trái; Trước mặt. Bên phải: ô về dãy Tam Đảo và núi Sóc Sơn; ô về Ngã Ba Hạc; ô về đỉnh Ba Vì.
Trả lời: Phía bên phải – đỉnh Ba Vì vòi vọi (gắn với chuyện Mị Nương, Sơn Tinh). Phía bên trái – dãy Tam Đảo sừng sững và núi Sóc Sơn ở phía xa. Trước mặt – Ngã Ba Hạc, nơi ba dòng sông gặp nhau.
Câu 3 (trang 156): Những cảnh vật nào ở đền Trung gợi lên vẻ cổ kính?
Trả lời: Những cây đại cổ thụ thơm ngát và những cây thông già đã năm, sáu trăm năm tuổi, tán rộng che mát cho người về thăm.
Câu 4 (trang 157): Bài văn gợi lại những câu chuyện cổ xưa về sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Em hãy kể tên một số câu chuyện đó.
Trả lời: Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh (nhắc tới Mị Nương, núi Ba Vì); Thánh Gióng (núi Sóc Sơn còn in dấu ngựa sắt, đánh giặc Ân); chuyện An Dương Vương dựng nước Âu Lạc (cột đá thề); chuyện bài thơ Nam quốc sơn hà thời Lý.
Câu 5 (trang 157): Theo em, việc nhắc nhớ những câu chuyện cổ xưa có ý nghĩa gì?
Trả lời: Giúp mọi người nhớ công lao dựng nước, giữ nước của cha ông. Từ đó thêm tự hào và biết giữ gìn đất nước.
Câu 6 (trang 157): Nêu suy nghĩ của em về câu ca dao: “Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba.”
Trả lời: Câu ca dao nhắc mỗi người Việt Nam, dù sống ở đâu, làm gì, cũng phải nhớ ngày giỗ các Vua Hùng. Đó là lời dạy uống nước nhớ nguồn.
Câu 7 (trang 157): Câu nào dưới đây là câu ghép?
a. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa.
b. Trong đền, dòng chữ vàng Nam quốc sơn hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.
c. Lăng của các Vua Hùng kề bên đền Thượng, ẩn trong rừng cây xanh xanh.
Trả lời: Câu a là câu ghép, có hai vế: chủ ngữ vế 1 là những khóm hải đường, chủ ngữ vế 2 là những cánh bướm. Câu b, c là câu đơn.
Câu 8 (trang 157): Các vế của câu ghép dưới đây được nối với nhau bằng cách nào?
Những cành hoa đại cổ thụ toả hương thơm, những gốc thông già hàng năm, sáu thế kỉ che mát cho con cháu về thăm đất Tổ.
(Chọn: Nối trực tiếp / Nối bằng kết từ)
Trả lời: Nối trực tiếp: giữa hai vế chỉ có dấu phẩy, không có kết từ.
Câu 9 (trang 157): Nêu công dụng của dấu gạch ngang được sử dụng trong câu dưới đây:
Bên phải là đỉnh Ba Vì vòi vọi, nơi Mị Nương – con gái Hùng Vương thứ 18 – theo Sơn Tinh về trấn giữ núi cao.
Trả lời: Cặp dấu gạch ngang đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích cho người đọc biết Mị Nương là ai.
Câu 10 (trang 157): Trong câu “Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh thật là đẹp.”, từ đứng được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Đặt 1 – 2 câu có từ đứng được dùng với nghĩa chuyển.
Trả lời: Từ đứng ở đây dùng với nghĩa gốc. Câu có nghĩa chuyển: Chiếc đồng hồ treo tường đã đứng từ hôm qua. Trưa hè, trời đứng gió, oi bức khó chịu.
Đánh giá cuối năm học: B. Viết (trang 157)
Câu 1 (trang 157): Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết bài văn tả một người bạn đã gắn bó với em trong những năm học qua.
Đề 2: Viết bài văn kể lại một câu chuyện em yêu thích trong sách Tiếng Việt 5, trong đó có những chi tiết sáng tạo.
Trả lời:
- Đề 1: giới thiệu bạn, tả ngoại hình, tính tình, kể kỉ niệm chung, nêu tình cảm.
- Đề 2: chọn một truyện (Bà tổ nghề dệt lụa, Khu rừng của Mát…), kể đủ mở đầu, diễn biến, kết thúc; thêm lời thoại, cảnh mới hoặc kết thúc khác hợp với truyện.
Bài văn tham khảo (Đề 1): Năm năm tiểu học, người bạn gắn bó với em nhất là Thảo. Thảo nhỏ nhắn, tóc buộc đuôi gà, đôi mắt tròn lúc nào cũng như đang cười. Bạn nói nhỏ nhẹ nhưng rất hay pha trò. Thảo học giỏi Toán mà không giấu bài. Bài khó nào bạn cũng kiên nhẫn giảng cho em. Em nhớ nhất năm lớp Ba, em bị ngã xe, đau chân phải nghỉ học. Chiều nào Thảo cũng ghé nhà, chép bài giúp em và kể chuyện ở lớp cho em nghe. Sắp tới, chúng em sẽ học ở hai trường khác nhau. Em mong tình bạn của chúng em sẽ mãi bền chặt như những ngày dưới mái trường này.