Ôn tập cuối học kì 2 (trong sách là “Ôn tập và đánh giá cuối năm học”) thuộc tuần 35, sách Tiếng Việt lớp 4 – bộ Kết nối tri thức tập 2, trang 134–141. Bài viết gợi ý cách làm từng câu của 5 tiết ôn tập và 2 tiết đánh giá: nhìn lại 8 chủ điểm, chủ ngữ – vị ngữ, trạng ngữ, dấu câu, ô chữ, tả cây cối, đọc hiểu bài về chuyến đi của Ma-gien-lăng.

Tuần ôn tập cuối năm lớp 4 có những nội dung gì?
- Tiết 1, 2: ôn tên các chủ điểm và bài đọc, trò chơi tìm chủ ngữ – vị ngữ, giải ô chữ.
- Tiết 3, 4: nghe – viết, công dụng dấu câu, thêm trạng ngữ, viết câu có nhân hoá.
- Tiết 5: trao đổi và viết bài văn tả một loài cây.
- Tiết 6, 7: bài đánh giá cuối năm gồm đọc thành tiếng, đọc hiểu và viết.
Ôn tập tiết 1, 2 (trang 134, 135, 136)
Câu 1 (trang 134): Quan sát tranh và trả lời câu hỏi.
a. Dòng chữ trên mỗi cánh buồm cho biết điều gì?
b. Theo em, cần ghi những gì vào cánh buồm số 6, 7, 8?
c. Hình ảnh những chiếc thuyền đi từ sông ra biển có ý nghĩa như thế nào? Chọn một phương án dưới đây hoặc đưa ra ý kiến của em.
Tranh có 8 chiếc thuyền; 5 cánh buồm đầu ghi: Mỗi người một vẻ, Trải nghiệm và khám phá, Niềm vui sáng tạo, Chắp cánh ước mơ, Sống để yêu thương. Ba phương án: Hành trình học tập dài lâu sẽ mang lại cho em những hiểu biết lớn lao. / Bằng con đường học tập, tương lai của em sẽ ngày càng rộng mở. / Nếu biết gom nhặt kiến thức mỗi ngày, em sẽ thành công.
Trả lời:
- a. Mỗi cánh buồm ghi tên một chủ điểm đã học trong sách Tiếng Việt 4 (tập 1 có 4 chủ điểm, tập 2 có 4 chủ điểm).
- b. Buồm 6: Uống nước nhớ nguồn; buồm 7: Quê hương trong tôi; buồm 8: Vì một thế giới bình yên.
- c. Em chọn ý thứ hai: thuyền đi từ dòng sông nhỏ ra biển lớn giống như con đường học tập đưa em tới tương lai ngày càng rộng mở. Hai ý còn lại cũng hợp lí, em có thể chọn theo suy nghĩ riêng.
Câu 2 (trang 135): Tìm nội dung tương ứng với tên bài đọc.
Tên bài: (1) Bầu trời trong quả trứng, (2) Sự tích con Rồng cháu Tiên, (3) Cây đa quê hương, (4) Ngôi nhà của yêu thương, (5) Chuyến du lịch thú vị, (6) Quả ngọt cuối mùa, (7) Vẽ màu.
Nội dung: a. Nguồn gốc, tổ tiên dân tộc Việt. b. Lời kể của chú gà con về những trải nghiệm của mình. c. Bức thư gửi một người bạn không nhà. d. Chuyến thăm Pa-ri của Dương. e. Loài cây thân thương của làng quê Việt Nam. g. Bức tranh sắc màu của bạn nhỏ về những sự vật xung quanh. h. Tình cảm yêu thương, gắn bó giữa bà và con cháu.
Trả lời:
| 1 – b | Bầu trời trong quả trứng |
| 2 – a | Sự tích con Rồng cháu Tiên |
| 3 – e | Cây đa quê hương |
| 4 – c | Ngôi nhà của yêu thương |
| 5 – d | Chuyến du lịch thú vị |
| 6 – h | Quả ngọt cuối mùa |
| 7 – g | Vẽ màu |
Câu 3 (trang 135): Đọc lại một bài em yêu thích (hoặc đọc thuộc lòng một bài thơ).
Trả lời: Em chọn một bài đã học, ví dụ bài Cây đa quê hương hoặc truyện Sự tích con Rồng cháu Tiên. Đọc rõ ràng, ngắt nghỉ đúng dấu câu, nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả. Đọc xong, em có thể nói thêm vì sao em thích bài đó.
Câu 4 (trang 135): Trò chơi: Ai nhanh, ai đúng?
Vòng 1 – Tìm chủ ngữ thích hợp với vị ngữ: chủ ngữ (Cây bàng trước ngõ; Những đám mây trắng; Đàn bướm vàng) – vị ngữ (đang nảy những chồi non; nhởn nhơ bay trên bầu trời; lượn bên những bông hoa).
Vòng 2 – Đi tìm vị ngữ: 1. Tô Hoài (?). 2. Những câu chuyện ông viết (?). 3. Truyện mà tớ thích đọc nhất (?).
Vòng 3 – Đi tìm chủ ngữ: 1. (?) thường nở hoa vào mùa hè. 2. (?) có màu đỏ rực rỡ, dập dờn như cánh bướm. 3. (?) hay nhặt những cánh hoa, ép vào trang sổ.
Trả lời:
- Vòng 1: Cây bàng trước ngõ – đang nảy những chồi non; Những đám mây trắng – nhởn nhơ bay trên bầu trời; Đàn bướm vàng – lượn bên những bông hoa.
- Vòng 2: Tô Hoài là nhà văn viết nhiều truyện cho thiếu nhi. Những câu chuyện ông viết thường kể về các con vật ngộ nghĩnh. Truyện mà tớ thích đọc nhất là Võ sĩ Bọ Ngựa.
- Vòng 3: Cây phượng ở sân trường thường nở hoa vào mùa hè. Những cánh phượng có màu đỏ rực rỡ… Các bạn gái lớp em hay nhặt những cánh hoa, ép vào trang sổ.
Câu 5 (trang 136): Giải ô chữ: Tiếng Việt lí thú
a. Tìm ô chữ hàng ngang. b. Tìm ô chữ hàng dọc màu xanh. Có 12 gợi ý về từ trái nghĩa, dấu câu, từ loại, thành phần câu, biện pháp nhân hoá.
Trả lời: a. Các hàng ngang:
| 1. ĐEN (trái nghĩa với trắng) | 7. NHÂN HOÁ |
| 2. CHẤM (kết thúc câu kể) | 8. GIÀ (trái nghĩa với trẻ) |
| 3. PHẨY (ngăn trạng ngữ với chủ ngữ) | 9. BUỒN (trái nghĩa với vui) |
| 4. RIÊNG (danh từ riêng) | 10. CHÌM (trái nghĩa với nổi) |
| 5. CHUNG (danh từ chung) | 11. TRẠNG NGỮ |
| 6. CHỦ NGỮ | 12. TÍNH TỪ |
b. Hàng dọc màu xanh: EM YÊU HOÀ BÌNH.
Ôn tập tiết 3, 4 (trang 136, 137, 138)
Câu 1 (trang 136): Nghe – viết.
Đoạn văn giới thiệu nhà văn Tô Hoài: tên khai sinh, ngày sinh, quê quán, tác phẩm nổi tiếng và giải thưởng.
Trả lời: Em nghe đọc và viết vào vở. Chú ý viết hoa tên người, tên địa lí (Tô Hoài, Nguyễn Sen, Nghĩa Đô, Hoài Đức, Hà Đông, Cầu Giấy, Hà Nội), tên giải thưởng (Giải thưởng Hồ Chí Minh); đặt tên tác phẩm trong ngoặc kép; viết số ngày tháng năm cho đúng.
Câu 2 (trang 137): Tìm công dụng của mỗi dấu câu.
Dấu câu: dấu gạch ngang, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn. Công dụng: báo hiệu phần giải thích, liệt kê; đánh dấu tên một tác phẩm, tài liệu; đặt ở đầu dòng để đánh dấu các ý liệt kê; đánh dấu phần chú thích.
Trả lời:
| Dấu gạch ngang | đặt ở đầu dòng để đánh dấu các ý liệt kê |
| Dấu hai chấm | báo hiệu phần giải thích, liệt kê |
| Dấu ngoặc kép | đánh dấu tên một tác phẩm, tài liệu |
| Dấu ngoặc đơn | đánh dấu phần chú thích |
Câu 3 (trang 137): Chọn dấu ngoặc kép, dấu hai chấm hoặc dấu gạch ngang thay cho bông hoa trong đoạn văn dưới đây:
Trong cuốn sách ✿Những bức thư giải Nhất Việt Nam✿, có nhiều bức thư xúc động về những chủ đề khác nhau như✿
✿ Thư gửi cho một người bạn để bạn hiểu về đất nước mình.
✿ Thư gửi một người mà tôi ngưỡng mộ nhất.
✿ Thư gửi cho một bạn nhỏ không có nhà.
Trả lời:
- Hai bông hoa bao quanh tên sách: dấu ngoặc kép (đánh dấu tên tài liệu).
- Bông hoa sau chữ như: dấu hai chấm (báo hiệu phần liệt kê).
- Ba bông hoa đầu dòng: dấu gạch ngang (đánh dấu từng ý liệt kê).
Câu 4 (trang 137): Thêm trạng ngữ để bổ sung thông tin về thời gian, địa điểm hoặc mục đích, nguyên nhân,… cho các câu dưới đây:
Chúng tôi đi xem phim “Vua sư tử”. / Mèo con đang nằm sưởi nắng. / Nam nghe thấy tiếng chim hót ríu ran.
Trả lời:
- Để thưởng cho kì thi tốt (mục đích), chúng tôi đi xem phim Vua sư tử.
- Trên bậc thềm (nơi chốn), mèo con đang nằm sưởi nắng.
- Sáng sớm (thời gian), Nam nghe thấy tiếng chim hót ríu ran.
Câu 5 (trang 138): Dựa vào bài thơ dưới đây, viết 3 – 5 câu, trong đó có sử dụng biện pháp nhân hoá.
Bài thơ Giọt sương (Phạm Thị Út Tươi) kể giọt sương đêm nằm trên lá nghe tiếng làng quê, nghe gió, nghe mầm xanh, rồi tan đi khi bình minh tới.
Trả lời: Đoạn văn mẫu: Đêm về, cô sương nhỏ lặng lẽ ngồi trên chiếc lá non. Cô dỏng tai nghe anh gió kể chuyện khu vườn. Dưới đất, mấy hạt mầm thì thầm rủ nhau thức dậy. Sáng ra, cô sương mỉm cười chào ông mặt trời rồi nhẹ nhàng tan vào đất.
Ôn tập tiết 5 (trang 138)
Câu 1 (trang 138): Trao đổi với bạn về loài cây em yêu thích.
Trả lời: Em kể tên cây, nơi cây mọc, đặc điểm em thích (lá, hoa, quả, bóng mát) và một kỉ niệm với cây. Ví dụ: Tớ thích cây phượng ở sân trường. Mùa hè hoa nở đỏ rực, tớ hay nhặt cánh hoa ép vào vở. Ngồi dưới gốc phượng nghe ve kêu, tớ thấy rất vui.
Câu 2 (trang 138): Viết bài văn miêu tả loài cây có nhiều ở địa phương em.
Sách có tranh gợi ý các vùng quê, phố phường với nhiều loài cây khác nhau.
Trả lời: Bài văn tham khảo (cây dừa): Quê em ở miền biển, đâu đâu cũng thấy những hàng dừa xanh. Cây dừa cao vút, thân to bằng bắp đùi người lớn, có nhiều vòng nối nhau đều đặn. Trên ngọn, tàu lá dài xoè ra như những cánh tay khổng lồ, đón gió biển reo vi vu. Giữa các tàu lá, từng buồng dừa sai trĩu, quả tròn căng, vỏ xanh bóng. Nước dừa ngọt mát, cùi dừa béo bùi. Lá dừa khô dùng để nhóm bếp, thân dừa làm cầu bắc qua mương. Em yêu cây dừa vì nó gắn bó với cuộc sống của người dân quê em.
Câu 3 (trang 138): Trao đổi bài làm với bạn để góp ý và cùng chỉnh sửa.
Trả lời: Em và bạn đổi bài, xem bài đã đủ mở bài, thân bài, kết bài chưa; đã tả rõ thân, lá, hoa, quả và lợi ích của cây chưa; câu văn có hình ảnh so sánh, nhân hoá không; rồi sửa lỗi chính tả, dấu câu.
Đánh giá cuối năm học: A. Đọc (trang 139–141)
Phần I. Đọc thành tiếng – bài thơ Chiều thu quê em (Trương Nam Hương)
Yêu cầu: đọc thành tiếng và làm 2 câu. Bài thơ 5 khổ, mỗi dòng 7 chữ, tả buổi chiều thu ở làng quê với nắng, chuồn chuồn, chim, dòng sông, cánh diều, lúa, dừa và bạn nhỏ ngồi vẽ.
Câu 1 (trang 139): Kể tên 5 sự vật được miêu tả trong bài thơ.
Trả lời: Ví dụ: con chim, hoa chuối, dòng sông, chuồn kim, nắng chiều (có thể kể thêm: con bò, cánh diều, lúa, dừa, mây, lục bình).
Câu 2 (trang 139): Tìm trong bài 2 câu thơ có sử dụng biện pháp nhân hoá.
Trả lời: Hai câu thơ: “Con chim giấu chiều trong cánh” (chim biết giấu như người) và “Lúa bá vai nhau chạy miết” (lúa khoác vai nhau chạy như các bạn nhỏ). Em cũng có thể chọn dòng thơ tả mây biết trốn, hoàng hôn biết say.
Phần II. Đọc hiểu – bài “Hơn một nghìn ngày vòng quanh Trái Đất”
Yêu cầu: đọc bài và trả lời câu hỏi. Bài của hai tác giả Trần Diệu Tấn, Đỗ Thái kể về hải trình vòng quanh địa cầu lần đầu tiên của đoàn thuyền Ma-gien-lăng, từ năm 1519 đến năm 1522.
Câu 1 (trang 141): Ngày 20 tháng 9 năm 1519 có sự kiện gì đặc biệt?
Trả lời: Hôm đó, năm chiếc thuyền lớn dưới quyền Ma-gien-lăng rời cảng Xê-vi-la (Tây Ban Nha), bắt đầu chuyến đi tìm đường biển tới những vùng đất mới.
Câu 2 (trang 141): Ma-gien-lăng đặt tên cho đại dương mới tìm được là gì? Tìm câu trả lời đúng.
A. Đại Tây Dương
B. Thái Bình Dương
C. Ấn Độ Dương
D. Bắc Băng Dương
Trả lời: Chọn B.
Câu 3 (trang 141): Vì sao Ma-gien-lăng đặt tên cho đại dương mới như vậy? Tìm câu trả lời đúng.
A. Vì ông thấy nơi này rộng mênh mông.
B. Vì ông thấy nơi này rất yên bình.
C. Vì ông thấy nơi này rất thơ mộng.
D. Vì ông thấy nơi này bát ngát, đi mãi chẳng thấy bờ.
Trả lời: Chọn B. Biển ở đây lặng sóng nên ông gọi là Thái Bình (yên bình).
Câu 4 (trang 141): Những khó khăn mà đoàn thám hiểm gặp phải là gì?
Trả lời: Đại dương quá rộng, đi mãi không thấy bờ; hết thức ăn và nước ngọt, thuỷ thủ phải nấu cả giày, thắt lưng da để ăn; nhiều người chết dọc đường; về sau còn phải đánh nhau với dân đảo Ma-tan và Ma-gien-lăng đã hi sinh.
Câu 5 (trang 141): Đoàn thám hiểm của Ma-gien-lăng đã đi theo hành trình như thế nào?
Sơ đồ: Châu Âu → Đại Tây Dương → (?) → Thái Bình Dương → (?) → Ấn Độ Dương → (?).
Trả lời: Châu Âu → Đại Tây Dương → châu Mỹ (dọc bờ Nam Mỹ) → Thái Bình Dương → châu Á (vùng đảo Ma-tan) → Ấn Độ Dương → châu Âu (về Tây Ban Nha).
Câu 6 (trang 141): Những kết quả mà đoàn thám hiểm đã đạt được là gì?
Trả lời: Đoàn đã đi trọn một vòng quanh thế giới, chứng minh Trái Đất hình cầu, tìm ra Thái Bình Dương và thêm nhiều vùng đất mới.
Câu 7 (trang 141): Trong bài đọc có bao nhiêu danh từ riêng? Đó là những danh từ nào?
Trả lời: Có 9 danh từ riêng (nếu tính cả Trái Đất – tên hành tinh, viết hoa – thì có 10):
| Tên người | Ma-gien-lăng |
| Tên nước, thành phố, đảo | Tây Ban Nha, Xê-vi-la, Ma-tan |
| Tên đại dương, châu lục | Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Nam Mỹ, (châu) Âu |
Câu 8 (trang 141): Xác định chủ ngữ, vị ngữ và trạng ngữ của câu sau:
Khi tới gần mỏm cực nam, đoàn thám hiểm phát hiện một eo biển dẫn tới một đại dương mênh mông.
Trả lời: Trạng ngữ: “Khi tới gần mỏm cực nam”. Chủ ngữ: đoàn thám hiểm. Vị ngữ: phần còn lại, bắt đầu từ phát hiện.
Câu 9 (trang 141): Đặt một câu nói về Ma-gien-lăng, trong câu có thành phần trạng ngữ.
Trả lời: Năm 1519 (trạng ngữ), Ma-gien-lăng dẫn năm chiếc thuyền ra khơi. Hoặc: Để tìm đường biển tới vùng đất mới (trạng ngữ), Ma-gien-lăng đã vượt qua bao hiểm nguy.
Đánh giá cuối năm học: B. Viết (trang 141)
Câu 1 (trang 141): Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết bài văn miêu tả một cây hoa mà em thấy ở trường, trong vườn nhà hoặc trên đường đi học.
Đề 2: Hãy tưởng tượng em tham gia đoàn thám hiểm của Ma-gien-lăng và vừa trở về đất liền, có nhiều người ra đón em. Kể lại cuộc gặp gỡ đó.
Trả lời:
- Đề 1: giới thiệu cây hoa (hoa gì, ở đâu) → tả bao quát → tả gốc, thân, lá, nụ, hoa (màu, hương) → lợi ích, kỉ niệm → tình cảm của em.
- Đề 2: kể ở ngôi thứ nhất: con thuyền cập bến ra sao, ai ra đón, em kể cho họ nghe những gian khổ và điều kì thú nào, cảm xúc khi được về nhà.
Đoạn văn tham khảo (Đề 2): Khi con thuyền cuối cùng cập bến Tây Ban Nha, cả bến cảng ùa ra đón. Mẹ tôi chen giữa đám đông, ôm chầm lấy tôi mà khóc. Mọi người hỏi han rối rít. Tôi kể về đại dương mênh mông lặng sóng, về những ngày đói khát phải nấu cả thắt lưng da. Khi tôi nói rằng chúng tôi cứ đi mãi về một phía mà vẫn trở lại được quê nhà, ai nấy đều sửng sốt. Lúc ấy, tôi thấy mọi vất vả đều xứng đáng.