Cảm nghĩ về bài Vượt thác của Võ Quảng là đề văn biểu cảm thường gặp ở Bài 21 sách Ngữ văn 6 tập hai chương trình cũ. Trang văn trích từ truyện Quê nội kể chuyến ngược dòng sông Thu Bồn của một con thuyền chở hàng, nổi bật với hình ảnh dượng Hương Thư ghì sào giữa thác dữ. Dưới đây là dàn ý chung và 6 bài văn mẫu với những hướng cảm nghĩ khác nhau.
Để nắm lại xuất xứ, bố cục, giá trị của đoạn trích, em đọc bài Vượt thác (Võ Quảng): tác giả, tác phẩm; những bài khác dành cho học sinh lớp 6 nằm ở chuyên mục Ngữ văn lớp 6.
Dàn ý cảm nghĩ về bài Vượt thác
Dàn ý được sắp theo ba chặng của chuyến đi; phần thân bài nên dành nhiều chữ nhất cho cuộc vượt thác và dượng Hương Thư.

1. Mở bài
– Giới thiệu Võ Quảng, nhà văn xứ Quảng viết nhiều cho thiếu nhi, và truyện Quê nội.
– Giới thiệu bài Vượt thác; nêu cảm nghĩ chung: yêu mến cảnh sông nước Thu Bồn, nể phục những người đàn ông chèo chống giữa thác.
2. Thân bài
a. Chặng sông êm ả
+ Thuyền lướt nhanh trên dòng nước phẳng lặng; bờ bãi trải dài màu xanh của dâu, làng xóm trù phú.
+ Cây cối dần rậm rạp, núi non xuất hiện; cổ thụ ven bờ lặng nhìn mặt nước, như ngầm báo một quãng đường khó.
⇒ Cảm nghĩ: thiên nhiên hiền hòa, thơ mộng, chan chứa sức sống.
b. Cuộc vượt thác
+ Dòng thác trút xuống giữa hai vách đá; con thuyền như bị đẩy lùi.
+ Người đứng mũi chịu sào là dượng Hương Thư: mình trần, gân guốc, gồng hết sức ghì sào; được ví như pho tượng đồng, như một hiệp sĩ.
+ Đối lập với dượng lúc ở nhà: hiền lành, nhỏ nhẹ.
⇒ Cảm nghĩ: khâm phục sức mạnh, lòng dũng cảm và sự từng trải của người lao động.
c. Sau khi qua thác
+ Sông êm trở lại; cây to ven bờ trông như các cụ già vẫy tay giục con cháu tiến lên.
⇒ Cảm nghĩ: niềm vui chiến thắng, khí thế hăng hái của con người.
d. Nghệ thuật
+ Điểm nhìn đặt trên thuyền, cảnh thay đổi theo đường đi và theo thời gian.
+ So sánh, nhân hóa đặc sắc; tả người trên nền cảnh.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị bài văn: bức tranh thiên nhiên đẹp và bài ca về người lao động.
– Cảm nghĩ của bản thân: thêm yêu quê hương, trân trọng những con người dám đương đầu với thử thách.
Cảm nghĩ về bài Vượt thác ngắn gọn – mẫu 1
Học xong bài Vượt thác của Võ Quảng, trong đầu em cứ hiện mãi hình ảnh một người đàn ông cởi trần đứng ở mũi thuyền, hai tay ghì chặt cây sào giữa dòng nước trắng xóa. Đó là dượng Hương Thư, người đã làm nên linh hồn của bài văn.
Con thuyền bắt đầu chuyến đi trên quãng sông bằng phẳng. Nước êm, “Thuyền rẽ sóng lướt bon bon”, hai bên là bãi dâu xanh ngút tầm mắt. Càng ngược lên, cảnh càng đổi khác: núi xuất hiện, bóng cổ thụ in xuống mặt nước. Rồi thác nước xuất hiện, dòng nước “từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn”. Giữa khung cảnh dữ dội ấy, dượng Hương Thư hiện lên “như một pho tượng đồng đúc”, đôi mắt rực lửa, mọi động tác dứt khoát. Ở nhà dượng hiền lành, ít nói; ra giữa thác, dượng oai phong như một vị anh hùng.
Bài văn cho em thấy thiên nhiên quê hương vừa đẹp vừa hùng vĩ, còn con người lao động thì mạnh mẽ, gan góc. Em khâm phục dượng Hương Thư và mong mình cũng có được lòng dũng cảm như thế khi gặp khó khăn.
Cảm nghĩ về thiên nhiên và con người trong bài Vượt thác – mẫu 2
Quê hương mỗi người đều có một dòng sông. Với Võ Quảng, đó là sông Thu Bồn của xứ Quảng. Trong bài Vượt thác, trích từ truyện Quê nội, ông đã đưa người đọc theo con thuyền ngược dòng Thu Bồn, để thấy một bức tranh thiên nhiên đổi thay qua từng chặng và những con người lao động đẹp đẽ giữa bức tranh ấy.
Mở đầu bài văn, thiên nhiên hiện lên thật hiền hòa. Con thuyền nhẹ nhàng lướt trên mặt nước phẳng, bãi dâu xanh mướt men theo hai bờ, chạy tới tận những xóm làng xa. Cảnh vật thanh bình, no ấm, gợi cuộc sống yên vui của người dân ven sông. Đọc đến đây, em thấy lòng mình nhẹ nhõm như đang ngồi trên thuyền, ngắm cảnh hai bên.
Rồi cảnh vật dần đổi thay. Cây vườn mỗi lúc một rậm, rồi núi xuất hiện trước mũi thuyền. Bên bờ sông, “những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước”. Những cây cổ thụ được nhân hóa như những con người trầm tư, đang lặng lẽ dõi theo đoàn thuyền. Không khí bỗng trở nên trang nghiêm, như báo trước một thử thách sắp đến.
Thử thách ấy là thác nước. Dòng nước đổ xuống từ trên cao, lao qua giữa hai vách đá, cuồn cuộn và hung dữ. Con thuyền nhỏ bé phải ngược lên giữa sức đẩy khủng khiếp ấy. Thiên nhiên lúc này không còn hiền hòa mà trở nên dữ dội, thách thức sức lực con người.
Chính ở đây, con người hiện lên đẹp nhất. Dượng Hương Thư cùng những người trên thuyền dồn hết sức chống sào. Dượng như hóa thân thành một khối sức mạnh: bắp thịt nổi lên, quai hàm bạnh ra, đôi mắt rực sáng. Mỗi lần cây sào cắm xuống là một lần con thuyền nhích lên. Em cảm nhận được sự căng thẳng, quyết liệt của cuộc vật lộn ấy, và càng khâm phục những người chèo chống.
Vượt qua thác, thiên nhiên như reo vui cùng con người. Từ xa, mấy cây to ven sông như những ông cụ đang vẫy tay thúc con cháu bước tới. Dòng sông lại mở rộng phía trước, con thuyền tiếp tục hành trình.
Bài văn để lại trong em niềm yêu mến với thiên nhiên xứ Quảng và lòng khâm phục những người lao động bình dị mà phi thường. Em hiểu rằng thiên nhiên dù dữ dội đến đâu cũng phải nhường bước khi con người đủ gan dạ và đồng lòng.
Cảm nghĩ về nhân vật dượng Hương Thư trong bài Vượt thác – mẫu 3
Có những nhân vật chỉ xuất hiện trong vài đoạn văn mà khiến người đọc nhớ mãi. Dượng Hương Thư trong bài Vượt thác của Võ Quảng là một nhân vật như vậy. Mỗi lần nhớ đến bài văn, em lại thấy hiện lên dáng dượng đứng sừng sững ở đầu thuyền, giữa tiếng thác gầm.
Dượng Hương Thư được miêu tả trong khoảnh khắc khó khăn nhất của chuyến đi: lúc con thuyền vượt thác. Thác trút nước ào ạt, thuyền như muốn trôi ngược lại. Dượng cởi trần, hai chân bám chặt vào thuyền, tay ghì cây sào. Nhà văn tả dượng với “các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa”. Từng chi tiết ngoại hình đều toát lên sức mạnh và sự tập trung cao độ. Em như thấy được cả tiếng thở dồn dập, cả mồ hôi chảy trên lưng dượng.
Hành động của dượng cũng nhanh nhẹn, dứt khoát. Cây sào được phóng xuống, ghì chặt, rồi rút lên, lại phóng xuống, nhịp nhàng mà không chút lúng túng. Dượng là người có kinh nghiệm, hiểu dòng nước, hiểu con thuyền, nên mọi động tác đều chính xác. Nhà văn so sánh dượng “như một pho tượng đồng đúc”, vừa gợi màu da rám nắng, vừa gợi sự vững chãi, rắn rỏi. Hơn thế, dượng còn giống “một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh”. Hình ảnh hiệp sĩ khiến người lao động bình thường trở nên lớn lao, oai hùng như những anh hùng trong truyện cổ.
Điều khiến em thích thú nhất là sự đối lập giữa dượng lúc vượt thác và dượng lúc ở nhà. Lúc ở nhà, dượng hiền khô, nói năng nhỏ nhẹ, ai sai gì cũng vâng dạ. Thế mà khi đứng trước thác dữ, dượng như biến thành một con người khác, mạnh mẽ, quyết đoán, oai phong. Sự đối lập ấy cho thấy phẩm chất thật của người lao động: khiêm nhường trong đời thường nhưng dũng cảm phi thường khi đối mặt với thử thách.
Qua dượng Hương Thư, Võ Quảng ca ngợi vẻ đẹp của những người lao động trên sông nước. Họ không có tên tuổi lừng lẫy, nhưng chính họ làm nên những chuyến thuyền vượt thác, mang hàng hóa ngược xuôi phục vụ cuộc sống. Em rất kính phục họ.
Hình ảnh dượng Hương Thư nhắc em rằng sức mạnh thật sự không nằm ở lời nói to tát, mà ở hành động quyết liệt khi cần thiết. Em mong mình cũng có thể sống khiêm tốn mà vững vàng như dượng.
Cảm nghĩ về cảnh sông Thu Bồn qua bài Vượt thác – mẫu 4
Đọc bài Vượt thác, em có cảm giác như được xem một bộ phim quay từ trên con thuyền. Cảnh sông Thu Bồn cứ thế đổi thay qua từng khúc quanh, khi êm đềm, khi hùng vĩ, khi dữ dội. Võ Quảng đã vẽ nên dòng sông quê hương bằng những nét bút giàu màu sắc và cảm xúc.
Chặng đầu tiên là vùng đồng bằng. Dòng sông hiền hòa, con thuyền chở đầy hàng lướt đi nhẹ nhàng. Hai bên bờ, bãi dâu trải ra bát ngát, màu xanh nối liền với những thôn xóm. Nhìn cảnh ấy, em hình dung được một vùng quê trù phú, người dân chăm chỉ trồng dâu nuôi tằm, cuộc sống ấm no, bình yên.
Chặng thứ hai là đoạn gần núi. Cây cối hai bên bờ mọc rậm rạp hơn, những dãy núi cao xuất hiện, như chắn ngang trước mặt. Ven bờ, từng chòm cổ thụ im lìm soi mình xuống nước. Không gian bỗng trở nên rộng lớn và nghiêm trang. Em cảm thấy dòng sông đang chuẩn bị bước vào một cuộc thử thách.
Chặng thứ ba là vùng thác. Ở đây, sông không còn hiền nữa. Dòng nước dốc ngược từ trên đổ xuống, bị hai bên vách đá ép lại nên càng xiết, càng gầm gào. Nhà văn có một cách nói rất độc đáo: dòng nước “chảy đứt đuôi rắn”. Em hình dung dòng nước uốn lượn, xiết mạnh như một con rắn khổng lồ đang trườn đi. Thiên nhiên lúc này mang vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dã của vùng rừng núi miền Trung.
Chặng cuối cùng là lúc thác dữ đã ở lại phía sau. Mặt sông phẳng lặng, rộng mở. Mấy cây cao vượt lên giữa các bụi thấp, từ xa trông như những cụ già đang vung tay hô hào con cháu. Cảnh vật như cùng chung vui với con người sau chiến thắng.
Theo bước con thuyền, em đã đi hết một hành trình thú vị trên dòng Thu Bồn. Mỗi chặng mang một vẻ đẹp riêng, nhưng tất cả đều thấm đẫm tình yêu quê hương của nhà văn. Em cũng thêm yêu những dòng sông của đất nước mình, mỗi dòng sông là một câu chuyện, một vẻ đẹp không nơi nào giống.
Cảm nghĩ về hai hình ảnh cây cổ thụ trong bài Vượt thác – mẫu 5
Trong bài Vượt thác, có hai hình ảnh rất nhỏ mà em nhớ rất lâu: lúc mở đầu cuộc vượt thác là những chòm cổ thụ, lúc kết thúc là mấy cây to giữa bụi thấp. Chúng giống như hai dấu mốc mở và khép cuộc vượt thác, đồng thời thể hiện tài quan sát và tâm hồn tinh tế của Võ Quảng.
Hình ảnh thứ nhất xuất hiện khi con thuyền sắp tới vùng thác: “những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước”. Nhà văn đã nhân hóa những cái cây. Cây không chỉ mọc bên bờ, mà đứng, mà trầm ngâm, mà lặng nhìn, như những con người có suy nghĩ. Dáng cây mãnh liệt gợi sức sống bền bỉ của núi rừng. Còn cái nhìn lặng lẽ xuống dòng nước thì như đang ưu tư, lo lắng cho đoàn thuyền sắp phải vượt qua chặng đường hiểm trở. Hình ảnh ấy làm không khí trước giờ vượt thác trở nên nghiêm trang, khiến người đọc cũng hồi hộp theo.
Hình ảnh thứ hai xuất hiện khi thuyền đã qua thác Cổ Cò: “những cây to mọc giữa những bụi lúp xúp nom xa như những cụ già vung tay hô đám con cháu tiến về phía trước”. Lần này nhà văn vừa so sánh vừa nhân hóa. Những cây to được ví với các cụ già, còn những bụi cây thấp là đàn con cháu. Động tác vung tay hô hào gợi một khí thế hăng hái, sôi nổi. Thiên nhiên không còn trầm tư nữa, mà như đang cổ vũ, đang giục giã con người tiếp tục tiến lên.
Đặt hai hình ảnh cạnh nhau, em thấy chúng phản chiếu tâm trạng con người. Trước khi vượt thác, lòng người căng thẳng, lo âu, nên cây cối cũng trầm ngâm. Sau khi chiến thắng, lòng người phấn chấn, nên cây cối cũng như reo vui, hô hào. Cảnh và người hòa vào nhau, làm cho bức tranh thêm sinh động và có chiều sâu.
Hai hình ảnh nhỏ nhưng cho em hiểu một điều: văn hay không cần nhiều chữ, chỉ cần quan sát tinh và cảm nhận sâu. Võ Quảng đã thổi hồn vào những cái cây bên bờ sông, để chúng trở thành những người bạn đồng hành của đoàn thuyền.
Cảm nghĩ về bài Vượt thác (bài học sinh giỏi) – mẫu 6
Võ Quảng là nhà văn xứ Quảng dành cả cuộc đời viết cho thiếu nhi. Truyện Quê nội của ông lấy bối cảnh một làng quê bên dòng Thu Bồn, thời kì vừa giành được chính quyền năm 1945. Bài Vượt thác, trích từ chương XI của truyện, là trang văn miêu tả đặc sắc, nơi cảnh sông núi làm nền cho vẻ đẹp người lao động. Đọc bài văn, em vừa say mê trước vẻ đẹp của dòng sông quê hương, vừa khâm phục những con người đã chinh phục thác dữ.
Điểm nhìn của bài văn được đặt trên con thuyền. Nhờ vậy, cảnh vật không tĩnh tại mà liên tục chuyển động theo hành trình. Đây là lựa chọn rất khéo, vì người đọc như được ngồi cùng thuyền, tận mắt thấy cảnh hai bờ thay đổi, tận tai nghe tiếng thác gầm, tận lòng cảm nhận sự căng thẳng của cuộc vượt thác.
Chặng đầu, sông nước hiện lên hiền hòa. Thuyền chở đầy hàng mà vẫn lướt nhẹ, nhanh. Những bãi dâu trải dài, những thôn xóm nối tiếp gợi một vùng quê no ấm, thanh bình. Rồi cảnh vật chuyển dần sang vẻ hoang dã của vùng núi: vườn cây rậm rạp, núi cao hiện ra, cổ thụ ven bờ lặng nhìn mặt sông. Bằng phép nhân hóa, nhà văn biến những cái cây thành những nhân chứng trầm tư, báo hiệu một chặng đường gian nan phía trước.
Cuộc vượt thác là phần đặc sắc nhất. Ở đó, dòng nước “từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn”. Động từ “phóng” và hình ảnh “đứt đuôi rắn” gợi tốc độ khủng khiếp và đường nước uốn lượn hiểm trở. Giữa khung cảnh ấy, con người không hề nao núng. Dượng Hương Thư hiện lên với “các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa”. Hàng loạt chi tiết ngoại hình được dồn dập liệt kê, tạo ấn tượng về một khối sức mạnh đang bùng nổ. Các động tác chống sào, ghì sào, rút sào diễn ra nhanh, chính xác, nhịp nhàng, cho thấy dượng vừa khỏe vừa giàu kinh nghiệm.
Hai phép so sánh dành cho dượng Hương Thư đều rất giàu ý nghĩa. Dượng “như một pho tượng đồng đúc”: đồng là kim loại rắn chắc, màu đồng gợi làn da rám nắng; pho tượng gợi tư thế vững chãi, bất động trước sức đẩy của dòng nước. Dượng lại giống “một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh”: hình ảnh hiệp sĩ nâng người lao động lên tầm vóc anh hùng, ngang tầm với núi rừng hùng vĩ. Đặt bên cạnh hình ảnh dượng ở nhà, hiền lành, nhỏ nhẹ, vâng dạ, sự đối lập ấy khiến em càng quý một con người khiêm nhường mà gan góc.
Vượt qua thác Cổ Cò, thiên nhiên như chung vui với con người: nhìn từ xa, mấy cây to giữa bụi thấp tựa các cụ già đang hô con cháu bước tiếp. Hình ảnh khép lại bài văn mang âm hưởng phấn chấn, lạc quan, khẳng định chiến thắng của con người trước thử thách.
Bài Vượt thác cho em thấy tài năng miêu tả của Võ Quảng: quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu hình ảnh, so sánh và nhân hóa độc đáo, tả người hòa trong tả cảnh. Hơn thế, bài văn là lời ngợi ca thiên nhiên xứ Quảng và những người lao động bình dị mà phi thường. Em thêm yêu quê hương và tự nhủ phải rèn luyện ý chí, sức khỏe để có thể vững vàng như dượng Hương Thư trước những thác ghềnh của cuộc đời.
Kết luận
Khi viết cảm nghĩ về bài Vượt thác, em nên đi theo ba chặng của con thuyền, dành phần trọng tâm cho dượng Hương Thư với các chi tiết ngoại hình, động tác, hai phép so sánh và sự đối lập lúc ở nhà. Cặp hình ảnh cây bên bờ sông ở đầu và cuối bài là chi tiết hay để bình nếu em muốn bài văn có điểm nhấn riêng.
Xem thêm: