Mùa thu năm 1977, ở một trại viết văn quân đội ven Hà Nội, một người lính tăng vừa rời chiến trường trèo lên cây ổi chín và viết mười hai dòng thơ năm chữ. Hữu Thỉnh (sinh năm 1942), tên thật Nguyễn Hữu Thỉnh, là nhà thơ của bài Sang thu ấy, tác giả các trường ca Đường tới thành phố, Trường ca biển, tập thơ Thương lượng với thời gian, và là người đứng đầu Hội Nhà văn Việt Nam suốt hai mươi năm (2000 – 2020).
Người làng Phú Vinh, xã Duy Phiên

| Tên thật | Nguyễn Hữu Thỉnh |
| Bút danh | Hữu Thỉnh; có thời ký Vũ Hữu |
| Năm sinh | 15/2/1942 |
| Quê quán | Làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; nay thuộc xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ |
| Thể loại | Thơ, trường ca, bút ký, tiểu luận phê bình |
| Tác phẩm tiêu biểu | Sang thu (1977), Đường tới thành phố (1979), Thư mùa đông (1994), Trường ca biển (1994), Thương lượng với thời gian (2005), Trăng Tân Trào (2016) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt I, 2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt IV, 2012) |
| Trong SGK | Sang thu (Ngữ văn 7 CTST), Chiều sông Thương (Ngữ văn 7 KNTT, thực hành đọc) |
Một số tài liệu ghi quê ông là “xã Phú Vinh, huyện Tam Đảo”; theo Bảo tàng Văn học Việt Nam, Phú Vinh là tên làng, xã là Duy Phiên, huyện Tam Dương. Từ ngày 1/7/2025, ba xã Duy Phiên, Hội Thịnh, Thanh Vân nhập thành xã Hội Thịnh, thuộc tỉnh Phú Thọ mới. Bút danh Vũ Hữu, mà nhiều người tưởng là nhầm lẫn, có thật: báo Nhân Dân và Báo Văn hóa đều ghi khi đưa tin ông nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì năm 2022.
Mười hai năm trong binh chủng Tăng – Thiết giáp
Năm 1963, học xong phổ thông, ông nhập ngũ vào bộ đội Tăng – Thiết giáp. Theo hồ sơ của Bảo tàng Văn học, ông có mặt ở Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào (1970 – 1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh (1974 – 1975). Những bài thơ đầu được chú ý viết ngay giữa các chiến dịch: Mùa xuân đi đón được giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973; Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất được giải A cuộc thi 1975 – 1976. Năm 1976, ông vào Hội Nhà văn Việt Nam và in chung tập Âm vang chiến hào.
Hai bài thơ thời ấy có trên Văn VN: Trên một chiếc xe tăng và Thơ viết ở biển.
Thu 1977: chuyện bài Sang thu
Năm 1977, ông dự trại viết văn quân đội ở một làng ngoại thành, nay là Khương Hạ (Thanh Xuân, Hà Nội). Trả lời báo Thể thao & Văn hóa năm 2008, ông kể bài thơ bật ra khi ông đang ngồi trên một cây ổi trong vườn ổi chín, giữa một không gian rất tĩnh. Ông cũng nhắc người dạy và học đừng bỏ qua dòng ghi “Thu 1977” ở cuối bài, theo ông là chìa khóa: đó là một trong những mùa thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh.
Trong một cuộc trò chuyện in trên báo Quân đội nhân dân, ông nói thêm rằng bài thơ chỉ mười hai dòng, sáu mươi chữ, nhưng đằng sau là cả ba mươi năm kháng chiến. Hai câu được nhớ nhất là hình ảnh đám mây giữa hai mùa:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Bài thơ từng nằm trong sách Ngữ văn 9 cũ và nay ở sách Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo. Học sinh có thể xem soạn bài Sang thu, Sang thu: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, bố cục và phân tích Sang thu.
Bốn trường ca, bốn chặng đường
Nếu Sang thu là bài thơ người ta thuộc, thì trường ca mới là thể loại Hữu Thỉnh đầu tư nhiều nhất và được giải thưởng nhiều nhất.
| Trường ca | Năm in | Ghi chú |
|---|---|---|
| Sức bền của đất | viết giữa thập niên 1970, in thành sách 2004 | Giải A thơ báo Văn nghệ 1975 – 1976 |
| Đường tới thành phố | 1979 | Năm chương; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980 |
| Trường ca biển | 1994 | Sáu chương; giải xuất sắc Bộ Quốc phòng 1994 |
| Trăng Tân Trào | 2016 | Giải A cuộc vận động sáng tác theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (2020) |
Hai trường ca đầu gắn với trải nghiệm của người lính tăng đi qua chiến tranh; Trường ca biển mười lăm năm sau chuyển sang đề tài biển. Theo Wikipedia, Trường ca biển cùng tập Thương lượng với thời gian là hai tác phẩm được xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012. Trên Văn VN có bài Hữu Thỉnh với trường ca biển đọc kỹ hơn tác phẩm này.
Từ tạp chí Văn nghệ Quân đội đến Hội Nhà văn
Sau năm 1975, ông học khóa I Trường Viết văn Nguyễn Du, năm 1987 dự lớp bồi dưỡng cao cấp ở Học viện Văn học Gorki (Moskva). Từ năm 1981, ông về tạp chí Văn nghệ Quân đội, làm biên tập viên, Trưởng ban Thơ rồi Phó Tổng biên tập. Năm 1990, ông chuyển sang Hội Nhà văn Việt Nam làm Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ, sau đó kiêm Tổng biên tập tạp chí Thơ.
Từ Đại hội VI (2000), ông đứng đầu Hội Nhà văn, ban đầu với chức danh Tổng Thư ký, sau là Chủ tịch, liền bốn khóa đến năm 2020, khi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều kế nhiệm. Ông còn là đại biểu Quốc hội khóa X, XI và Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đến năm 2021.
Thương lượng với thời gian và thơ những năm về sau
Thơ ngắn sau chiến tranh của ông in trong Từ chiến hào tới thành phố (1985), Tiếng hát trong rừng (1985), Thư mùa đông (1994, Giải thưởng Hội Nhà văn 1995). Tập Thương lượng với thời gian (2005), theo Wikipedia được viết trong hơn mười năm, mang ngay ở nhan đề cái chủ đề trở đi trở lại trong thơ ông những năm sau: con người đối diện với thời gian. Về sau còn có Hoang dại dưới trời (2010) và Ghi chú sau mây (2020).
Ông viết cả văn xuôi và phê bình: tập bút ký, truyện ngắn năm 2009 (Bảo tàng Văn học ghi tên Mùa xuân trên tháp pháo, Wikipedia ghi Mưa xuân trên tháp pháo), hai tập tiểu luận Lý do của hy vọng (2010) và Bến văn và những vòng sóng (2020). Giáo sư Phong Lê, trong một bài trên trang Hội Nhà văn, xếp ông vào thế hệ thứ ba của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.
Nét chung dễ nhận ra trong thơ ông: giọng trầm, nhiều suy tư, hình ảnh làng quê Bắc Bộ, cách nói chậm và tinh tế về những khoảnh khắc chuyển giao. Phân tích chi tiết có ở bài phong cách sáng tác của Hữu Thỉnh.
Giải thưởng: hồ sơ ghi gì
Danh mục giải thưởng của ông trên trang Bảo tàng Văn học Việt Nam, đối chiếu với báo Nhân Dân và Thanh Niên, gồm: giải thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973 và 1975 – 1976; Giải thưởng Hội Nhà văn 1980 và 1995; giải xuất sắc Bộ Quốc phòng 1994; Giải thưởng văn học ASEAN 1999; Giải thưởng Nhà nước đợt I (2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV (2012); năm 2022 ông được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì.
Trên mạng có nơi ghi ông nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996 (mốc đúng là 2012), kèm giải Fukuoka năm 2000 và giải Lotus năm 2010; hai giải này không có trong hồ sơ nào kể trên. Cũng có trang dẫn một câu thơ được cho là của Chế Lan Viên nói về Hữu Thỉnh, nhưng câu ấy không tìm thấy trong nguồn nào.
Thơ Hữu Thỉnh trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Sang thu | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1 (Tiếng nói của vạn vật) | Soạn bài · Kết bài Sang thu · Mở bài Sang thu |
| Chiều sông Thương | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 (Khúc nhạc tâm hồn), thực hành đọc | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Thiên nhiên và hồn người lúc sang thu (Vũ Nho, bàn về Sang thu) | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 3 | Soạn bài |
| Sang thu | Ngữ văn 9 (chương trình 2006) | — |
Ngoài hai bài trong sách, các bài thơ khác của ông như Chợ chim, Tự do, Sức bền của đất được giới thiệu trong tuyển tập tác phẩm Hữu Thỉnh.