Ôn tập giữa học kì 2 là tuần 27 của sách Tiếng Việt lớp 4 – bộ Chân trời sáng tạo tập 2, trang 72–78, nằm sau chủ điểm Việt Nam quê hương em. Bài viết gợi ý cách làm từng câu của 5 tiết ôn tập và bài Đánh giá giữa học kì II với truyện Cây bàng không rụng lá.

Tuần ôn tập giữa học kì 2 lớp 4 gồm những gì?
- Tiết 1 (trang 72–73): đọc thành tiếng bài thơ Leng keng Đà Lạt (Cao Xuân Sơn), trả lời 4 câu hỏi, trao đổi về tiếng lục lạc.
- Tiết 2 (trang 73–74): nghe – viết đoạn thơ Nha Trang (Sóng Hồng), viết đúng tên cơ quan, tổ chức.
- Tiết 3 (trang 74–75): nói những điều em yêu thích về trường, lớp mình.
- Tiết 4 (trang 75): câu chủ đề, chủ ngữ – vị ngữ, chọn từ ngữ làm câu sinh động, viết đoạn văn có dấu gạch ngang.
- Tiết 5 (trang 76): viết bài văn tả một cây ăn quả.
- Tiết 6 và tiết 7 (trang 76–78): Đánh giá giữa học kì II – đọc hiểu, viết bài văn tả vườn rau, vườn hoa hoặc cây ở trường.
Ôn tập tiết 1 (trang 72, 73)
Câu 1 (trang 72, 73): Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi:
Bài thơ Leng keng Đà Lạt (Cao Xuân Sơn) kể chuyến đi xe ngựa dạo quanh Đà Lạt của một em bé. Từ ngữ giải nghĩa trong sách: lục lạc (chuông nhỏ đeo thành chuỗi), xà ích (người điều khiển xe ngựa). Bốn câu hỏi:
- (1) Đọc thành tiếng đoạn từ đầu đến rung bờm gió và trả lời câu hỏi: Những âm thanh trong khổ thơ đầu gợi tả điều gì?
- (2) Đọc thành tiếng đoạn từ đầu đến rung bờm gió và trả lời câu hỏi: Vì sao tác giả nói Bé thả hồn ra bốn phía/ Không say xe mà say sương?
- (3) Đọc thành tiếng đoạn từ Con đường chầm chậm đến hết và trả lời câu hỏi: Những hình ảnh nào cho thấy chú ngựa rất lưu luyến với du khách?
- (4) Đọc thành tiếng đoạn từ Con đường chầm chậm đến hết và trả lời câu hỏi: Theo em, vì sao du khách không muốn rời xa Đà Lạt?
Trả lời: Em đọc nhịp nhàng như tiếng vó ngựa, giọng vui, hơi chậm ở khổ cuối. Gợi ý trả lời:
- (1) Tiếng vó ngựa gõ giòn, tiếng cười vui phía sau, tiếng lục lạc leng keng trên con dốc vắng, cả tiếng quả thông rơi gợi tả một chuyến xe ngựa rộn ràng, vui tươi giữa khung cảnh núi đồi yên tĩnh của Đà Lạt.
- (2) Vì bé mải mê ngắm cảnh hai bên đường: hàng cây, phố xá ẩn hiện trong sương. Bé không hề mệt vì đi xe mà như bị cuốn hút, đắm say trước làn sương mờ ảo của thành phố.
- (3) Chú ngựa hí vang trong sương; đôi mắt ngựa long lanh như có nắng, như đang khẽ hỏi du khách mai này có quay lại không.
- (4) Vì Đà Lạt rất đẹp và thơ mộng: có sương giăng, đồi thông, phố xá thấp thoáng; chuyến xe ngựa vui và cả chú ngựa cũng như níu chân khách, khiến ai cũng thấy gắn bó, không nỡ rời đi.
Câu 2 (trang 73): Trao đổi với bạn: Theo em, âm thanh tiếng lục lạc mở đầu và kết thúc bài thơ gợi lên điều gì? Vì sao?
Trả lời: Tiếng lục lạc ở đầu bài báo hiệu chuyến dạo chơi bắt đầu, nghe rộn rã, háo hức. Tiếng lục lạc ở cuối bài là lúc xe chạy hết một vòng, nghe như lời chào tạm biệt, gợi nỗi lưu luyến. Âm thanh ấy trở thành nét riêng của Đà Lạt, giúp người đọc nhớ mãi chuyến đi, như một sợi chỉ nối đầu và cuối bài thơ.
Ôn tập tiết 2 (trang 73, 74)
Câu 1 (trang 73, 74): Nghe – viết:
Đoạn thơ Nha Trang (trích, Sóng Hồng) viết theo thể lục bát, tả biển trời Nha Trang và các hòn đảo lúc bình minh.
Trả lời: Em nghe thầy cô đọc và viết vào vở:
- Thể lục bát: dòng 6 chữ viết lùi vào khoảng 2 ô, dòng 8 chữ viết lùi 1 ô; chữ đầu mỗi dòng viết hoa.
- Viết hoa tên riêng: Nha Trang, Hòn Én, Hòn Tre, Hòn Khói.
- Chú ý từ dễ sai: hiu hiu, quyến rũ, mênh mông, mịn màng, mơ màng.
Câu 2 (trang 74): Tìm và viết lại cho đúng tên riêng của các cơ quan, tổ chức trong các câu sau:
a. Sau buổi tham quan, các anh chị hướng dẫn viên của công ti du lịch Cánh Buồm Nâu đã tổ chức cho các thành viên câu lạc bộ em yêu khoa học chơi một số trò chơi vận động ở bãi biển.
b. Viện hải dương học Nha Trang thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, là nơi nghiên cứu về đời sống sinh vật biển lớn nhất Đông Nam Á.
Trả lời: Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên:
- a. Công ti Du lịch Cánh Buồm Nâu; Câu lạc bộ Em yêu khoa học.
- b. Viện Hải dương học Nha Trang; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Ôn tập tiết 3 (trang 74, 75)
Câu 1 (trang 74, 75): Nói những điều em yêu thích về trường, lớp mình.
Gợi ý: a. Em muốn nói những nội dung gì? Giới thiệu chung về trường, lớp (Tên, Địa chỉ, ?); Điểm nổi bật về trường, lớp (Cảnh quan, Con người, ?); Suy nghĩ, tình cảm của em với trường, lớp mình. b. Để bài nói sinh động, hấp dẫn, em có thể sử dụng những phương tiện hỗ trợ nào? (tranh ảnh, bảng thông tin, đoạn phim, ?)
Trả lời: Bài nói mẫu:
Trường em là Trường Tiểu học Hoà Bình, ở số 12 đường Lê Lợi, ngay cạnh công viên của phường. Lớp em là lớp 4B với 35 bạn.
Em yêu nhất sân trường rợp bóng cây phượng và cây bàng, giờ ra chơi bạn nào cũng tìm được chỗ mát để đá cầu, nhảy dây. Thư viện trường nhỏ nhưng có rất nhiều truyện tranh, sách khoa học. Lớp em thì có góc Bạn đọc nhỏ với các bức tranh do chính chúng em vẽ. Cô chủ nhiệm hiền và vui tính, các bạn trong lớp luôn giúp nhau học bài.
Em coi trường, lớp như ngôi nhà thứ hai và mong mỗi sáng được đến trường.
Phương tiện hỗ trợ: ảnh chụp cổng trường, sân trường; sơ đồ các khu trong trường; đoạn phim ngắn quay giờ ra chơi; hoặc sản phẩm thật của lớp như tờ báo tường.
Ôn tập tiết 4 (trang 75)
Câu 1 (trang 75): Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu:
Đoạn văn tả cây đa nghìn năm (Theo Nguyễn Khắc Viện) gồm 6 câu: thân, cành, ngọn, rễ cây và tiếng gió trong vòm lá.
a. Tìm câu chủ đề.
b. Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong mỗi câu.
Trả lời:
- a. Câu chủ đề là câu đầu tiên, nói về cây đa nghìn năm như cả một toà nhà cổ. Các câu sau tả từng bộ phận để làm rõ ý ấy.
- b. Chủ ngữ, vị ngữ (vị ngữ chỉ ghi phần mở đầu):
| Câu | Chủ ngữ | Vị ngữ |
| 1 | Cây đa nghìn năm | là cả một toà cổ kính |
| 2 | Chín, mười đứa bé chúng tôi | bắt tay nhau… |
| 3 | Cành cây | lớn hơn… |
| 4 | Ngọn | chót vót… |
| 5 | Rễ cây | nổi lên… |
| 6 | gió chiều (Trong vòm lá là trạng ngữ) | gảy lên… |
Câu 2 (trang 75): Tìm từ ngữ phù hợp thay cho bông hoa trong mỗi câu sau để câu văn cụ thể, sinh động hơn:
a. Trước mặt chúng tôi là những dãy núi ✿.
b. Dưới ánh nắng, dòng sông ✿ trôi.
c. Những con sóng ✿ xô vào ghềnh đá.
d. Từ xa, chúng tôi đã nghe thấy tiếng thác đổ ✿.
Trả lời: Có nhiều cách điền, ví dụ:
- a. trùng điệp / nhấp nhô / xanh thẫm.
- b. lững lờ / hiền hoà / lấp lánh.
- c. bạc đầu / trắng xoá / dữ dội.
- d. ầm ầm / ào ào / rì rầm.
Câu 3 (trang 75): Viết đoạn văn (từ 4 đến 5 câu) liệt kê những việc cần làm để chăm sóc, bảo vệ cây xanh, trong đoạn văn có dùng dấu gạch ngang.
Trả lời: Đoạn văn mẫu: Cây xanh cho chúng ta bóng mát và không khí trong lành, vì vậy mỗi bạn nhỏ cần biết chăm sóc, bảo vệ cây. Những việc em có thể làm là:
– Tưới nước cho cây vào sáng sớm hoặc chiều mát.
– Nhổ cỏ, xới đất và bón phân cho cây.
– Không bẻ cành, hái lá, khắc chữ lên thân cây.
– Nhắc nhở các bạn cùng giữ gìn cây xanh ở trường và nơi công cộng.
(Dấu gạch ngang đặt ở đầu mỗi dòng để liệt kê các việc.)
Ôn tập tiết 5 (trang 76)
Câu 1 (trang 76): Đề bài: Viết bài văn tả một cây ăn quả mà em thích.
Sơ đồ gợi ý: Mở bài: Giới thiệu cây em thích (Tên, Nơi trồng, ?). Thân bài: Tả cây em thích (Đặc điểm nổi bật, Sự gắn bó với thiên nhiên, ?). Kết bài: Tình cảm, cảm xúc với cây (Gắn bó, Chăm sóc, ?).
Trả lời: Bài văn tham khảo (cây xoài):
Ở góc vườn nhà ông bà nội em có một cây xoài cát do chính tay ông trồng từ ngày bố em còn nhỏ.
Cây cao hơn mái nhà, thân to bằng cái cột đình, vỏ nâu sẫm, sần sùi. Tán xoài xoè rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một khoảng sân. Lá xoài dài, dày, xanh thẫm; lá non thì màu tím đỏ, trông như những ngọn lửa nhỏ. Tháng Ba, cây trổ hoa thành từng chùm vàng nhạt, ong bướm bay đến rộn ràng. Ít lâu sau, những quả xoài non bằng đầu ngón tay đã lủng lẳng trên cành. Đến mùa hè, quả to dần, căng mọng, vỏ chuyển sang vàng ươm, toả mùi thơm ngọt khắp vườn. Chim sâu, chim chích cũng tìm đến tán xoài để bắt sâu và hót líu lo.
Mỗi lần về quê, em lại cùng ông tưới nước, nhặt lá khô quanh gốc xoài. Em yêu cây xoài vì nó cho cả nhà bóng mát, quả ngọt và những buổi chiều vui bên ông bà.
Đánh giá giữa học kì 2 – Tiết 6 và tiết 7 (trang 76, 77, 78)
Câu 1 (trang 76, 77, 78): Đọc bài và thực hiện yêu cầu:
Bài đọc Cây bàng không rụng lá (Theo Phong Thu): bạn nhỏ thắc mắc vì sao cây bàng trên phố không bao giờ rụng lá. Một đêm sau cơn mưa, bố đưa bạn xuống phố, bạn thấy lá rụng đầy đường và các bác công nhân vệ sinh đang lặng lẽ quét dọn, rồi bạn hiểu ra. Từ ngữ giải nghĩa trong sách: quạt mo.
Tìm ý trả lời đúng cho các câu hỏi dưới đây:
- a. Bạn nhỏ nhận ra điều gì rất lạ ở phố nhà mình? (Phố có một cây bàng rất to. / Cây bàng ở phố không rụng lá. / Cây bàng to có rất nhiều quả chín. / Mùi bàng chín toả lên tận gác ba, gác tư.)
- b. Bạn nhỏ hỏi bố điều gì? (Về người đã trồng cây bàng trên phố. / Về điều rất lạ mà bạn thấy ở cây bàng. / Về hương vị của những quả bàng chín. / Về cây bàng, quả bàng và hương vị của nó.)
- c. Bố đã giải đáp cho bạn nhỏ bằng cách nào? (Bảo bạn nhỏ quan sát cây bàng thật kĩ khi trời vừa mưa xong. / Dặn bạn nhỏ thức đến mười giờ rưỡi để xem cây bàng trên phố. / Đánh thức bạn nhỏ dậy và dẫn bạn nhỏ đi ra phố sau mười giờ đêm. / Chỉ cho bạn nhỏ cách quan sát cây bàng và đường phố sau cơn mưa.)
- d. Theo em, câu chuyện nói về điều gì? (Vẻ đẹp của cây bàng vào mùa rụng lá. / Vẻ đẹp của đường phố sau cơn mưa. / Vẻ đẹp của những người công nhân môi trường. / Vẻ đẹp của âm thanh tiếng chổi tre.)
- e. Từ ngữ nào là chủ ngữ trong câu “Cây bàng trồng ở phố tôi không rụng lá.”? (Cây bàng. / Phố tôi. / Ở phố tôi. / Cây bàng trồng ở phố tôi.)
- g. Từ nào sau đây có nghĩa giống với từ in đậm trong câu “Tôi vụt hiểu tất cả: Vì sao cây bàng không rụng lá.”? (từ in đậm: vụt; phương án: chợt / đã / vừa / mới)
Thực hiện các câu hỏi, bài tập dưới đây:
- h. Em biết thêm điều gì qua câu chuyện?
- i. Theo em, nhờ đâu mà bạn nhỏ tìm được câu trả lời cho điều thắc mắc của mình?
- k. Đặt một tên khác cho câu chuyện.
- l. Đặt một câu giới thiệu về cây bàng trong câu chuyện.
Trả lời:
- a. Chọn: Cây bàng ở phố không rụng lá.
- b. Chọn: Về điều rất lạ mà bạn thấy ở cây bàng.
- c. Chọn: Đánh thức bạn nhỏ dậy và dẫn bạn nhỏ đi ra phố sau mười giờ đêm. Bố không giải thích bằng lời mà để con tự nhìn thấy.
- d. Chọn: Vẻ đẹp của những người công nhân môi trường. Họ làm việc lúc mọi người ngủ để sáng ra phố sạch như chưa hề có lá rụng.
- e. Chọn: “Cây bàng trồng ở phố tôi”. Đây là cả cụm trả lời cho câu hỏi Cái gì? không rụng lá.
- g. Chọn: chợt. Vụt và chợt đều chỉ sự việc xảy ra rất nhanh, bất ngờ.
- h. Em biết rằng đường phố sạch đẹp mỗi sáng là nhờ các cô bác công nhân môi trường làm việc vất vả, thầm lặng cả lúc đêm khuya, kể cả sau cơn mưa.
- i. Nhờ bạn nhỏ biết để ý, thắc mắc và hỏi bố; nhờ bố dẫn bạn đi xem tận mắt; và nhờ bạn tự quan sát, suy nghĩ nên hiểu ra.
- k. Gợi ý: Những người quét lá đêm; Bí mật của cây bàng; Tiếng chổi tre lúc nửa đêm.
- l. Ví dụ: Cây bàng ở phố bạn nhỏ rất to, mùa quả chín thơm lừng cả một góc phố.
Câu 2 (trang 78): Thực hiện một trong hai đề bài sau:
a. Viết bài văn tả một vườn rau hoặc vườn hoa mà em thích.
b. Trường em có rất nhiều cây. Viết bài văn tả một cây bóng mát hoặc cây hoa gắn bó với em và bạn bè.
Trả lời: Dàn ý: mở bài giới thiệu vườn (hoặc cây) em tả; thân bài tả bao quát rồi tả chi tiết (luống rau, màu sắc, mùi hương; hoặc thân, cành, lá, hoa), kết hợp hoạt động của người, con vật quanh đó; kết bài nêu tình cảm của em.
Bài văn tham khảo (đề b): Giữa sân trường em có một cây phượng vĩ đã mấy chục năm tuổi. Thân cây to, hai bạn nhỏ ôm không hết, vỏ xù xì, mốc thếch. Từ thân toả ra nhiều cành lớn, vươn dài như những cánh tay che mát cả góc sân. Lá phượng nhỏ li ti, xếp đều hai bên cuống như chiếc lông chim. Mùa xuân, lá xanh non mơn mởn. Khi tiếng ve bắt đầu râm ran, những chùm hoa đỏ rực bừng nở như ngọn lửa trên cao. Giờ ra chơi, chúng em ngồi dưới gốc phượng đọc truyện, chơi ô ăn quan, nhặt cánh hoa ép vào vở. Cây phượng như người bạn lớn đã chứng kiến bao kỉ niệm của chúng em. Em mong mai này trở lại trường, cây vẫn xanh tốt và nở hoa rực rỡ như thế.
Bài liền trước tuần ôn tập là Về lại Gò Công; sau tuần ôn tập, em học chủ điểm Thế giới quanh ta với bài Cậu bé gặt gió.