Câm điếc là trạng thái khiến con người gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp. Tuy nhiên, những câu chuyện hài hước về chủ đề này lại mang đến những góc nhìn thú vị. Hãy cùng khám phá những tình huống dở khóc dở cười xoay quanh cuộc sống của những người câm điếc.
Nổi tiếng là người thông thái, hiểu rộng, biết nhiều, nhưng Quỳnh ngán chuyện cử nghiệp. Mỗi lần triều đình mở khoa thi, nhiều người giục chàng lều chõng ứng thí, chàng đều gạt phăng nói sang chuyện khác.
Lần ấy, vì nể ý thầy học, lời khuyên của bạn bè dân làng, Quỳnh đành đi thi cho phải phép. Năm đó, nhà chúa mừng sinh được con trai, các quan trường bèn nảy ra ý nịnh hót chúa, bàn nhau ra đề thi nói về điềm lành của đất nước. Đoán được ý ấy, Quỳnh nghĩ ra cách làm một bài văn phải hàm được hai nghĩa: bề ngoài, đọc lên nghe như lời ca ngợi công đức của Chúa và sự an vui của mọi người, nhưng ẩn ý của nó lại là một sự phủ định. Trong bài văn ấy có hai câu khái quát hiện trạng đất nước như sau:
“Quan tắc cổ, dân tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân” (Nghĩa là: Quan cũng theo phép xưa, dân cũng theo phép xưa, đội ơn quan, dân được sống đời Nghiêu Thuấn) và đối lại:
“Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lai Đường Ngu chi đức” (nghĩa là: Trên cũng vui thay, dưới cũng vui thay, dựa vào đám đầu lại có đức độ thời Đường Ngu)
Mới nghe đọc lần đầu, chúa Trịnh đã khen: Hay quá! Xứng đáng cho giải nhất! Quan chủ khảo liền đứng lên tâu với Chúa:
– Khải chúa! Trong hai câu ấy, thần thấy có cái ẩn ý không thuận.
– Quan thật đa nghi quá. Ca tụng công đức của chúa như vậy mà còn gì không thuận?
– Khải chúa, cứ theo cái nghĩa chữ Hán thì hai câu ấy đúng là hay thật, nhưng Quỳnh là loại thâm nho, từng đã dùng chữ nghĩa chơi khăm nhiều người, và chắc hắn không bao giờ bằng lòng thứ văn chương một nghĩa. Theo sự hiểu biết cạn hẹp của thần, thì hai câu ấy xướng theo nghĩa đồng âm trực tiếp nghe ra ngại lắm, không dám đọc lên để chúa thưởng lãm.

– Ta cho phép, quan cứ nói.
– Khải chúa, nếu vậy thì thần xin thưa. Hai câu ấy có dụng ý phỉ báng, táo tợn. Nếu đọc theo kiểu nôm thì rõ là câu chửi tục.
– Chửi tục không sao, nhà ngươi cứ trình bày ta nghe thử!
– Vậy thần xin mạo muội thưa: “Quan tắc cổ, dân tắc cổ” có nghĩa là “trên cũng câm, dưới cũng câm,” thưa tắc cổ là câm không dám nói đấy ạ! Còn “đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân” tức là “đái vào hàm bọn quan dám bảo rằng dân chúng đang sống dưới thời Nghiêu Thuấn”.
– Nếu quả vậy thì Quỳnh láo thật!
– Khải chúa, chưa hết đâu. Câu sau này còn hàm ý báng bổ tệ hại hơn. “Thượng ung tai, hạ ung tai” có nghĩa là “đứa trên thối tai, đứa dưới cũng thối tai”, là cả trên dưới, ai ai cũng là một lũ điếc đấy ạ. Vì điếc hết nên không biết rằng “ỷ đâu lai Đường ngu chi sĩ” nghĩa là “ỉa vào đầu lũ nha dám bảo rằng kẻ sĩ đang mở mặt giữa đời Đường Ngu”.
Quỳnh lần ấy bị đánh hỏng nhưng lại có cơ hội đả kích vào thói xu nịnh của đám quan trường và “chọc” nhà chúa một trận nên thân, còn mình thì vẫn giữ tròn khí tiết.
Ý nghĩa truyện Câm điếc
Bài văn hai lớp nghĩa
Đề thi bắt sĩ tử ca ngợi điềm lành, Quỳnh liền viết hai câu đúng ý đề: quan dân đều theo phép xưa, trên dưới đều vui, đất nước như thời Nghiêu Thuấn, Đường Ngu. Nhưng đọc theo âm Nôm, “tắc cổ” thành câm, “ung tai” thành thối tai, các chữ “đái”, “ỷ đầu” thành lời chửi tục. Một bài văn vừa đỗ được vừa chửi được, đó là cái tài của Quỳnh.
Ai là người câm điếc?
Chi tiết đắt nhất là người vạch ra cái nghĩa tục lại chính là quan chủ khảo. Muốn tố cáo Quỳnh, quan phải đọc to từng câu chửi trước mặt chúa, và mỗi lời giải nghĩa lại khẳng định thêm rằng cả triều đình “trên cũng câm, dưới cũng câm”. Tên truyện vì thế không chỉ tật nguyền mà là bệnh của một bộ máy chỉ biết nịnh.
Mất một khoa thi, giữ được khí tiết
Kết truyện, Quỳnh bị đánh hỏng. Người kể không coi đó là thất bại: Quỳnh vốn không mặn mà khoa cử, đi thi chỉ để nể thầy, nể làng, và lần thi ấy thành dịp đả kích thói xu nịnh. Bài học cho người đọc hôm nay là chữ nghĩa có thể là vũ khí, miễn người cầm bút giữ được lẽ phải.
Nguồn gốc truyện Câm điếc
Truyện thuộc chùm truyện Trạng Quỳnh, dòng truyện cười dân gian gắn với tên Nguyễn Quỳnh (1677–1748), sống thời Lê trung hưng, quê ở Hoằng Lộc (Hoằng Hóa, Thanh Hóa). Ngoài đời ông chỉ đỗ hương cống (nên còn gọi là Cống Quỳnh), chữ “Trạng” là cách dân gian tôn vinh tài ứng đối. Nhiều truyện về Quỳnh, như truyện này, là sáng tác truyền miệng gán cho ông chứ không phải sự kiện có thật.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao truyện có tên Câm điếc?
Vì hai câu văn của Quỳnh, đọc theo nghĩa Nôm, nói rằng cả quan lẫn dân đều câm, trên dưới đều điếc, tức là không ai dám nói thật.
Đọc thêm truyện Trạng Quỳnh ở đâu?
Bạn có thể đọc Trạng Quỳnh dạy học và Tài ứng đối của Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh; truyện về chắt của Quỳnh là Xiển Bột có Quan đấy.