Kết bài Viếng lăng Bác là đoạn khép lại bài nghị luận về bài thơ Viễn Phương viết năm 1976 sau chuyến từ miền Nam ra viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 9 cũ (trước năm 2018). Một kết bài tốt cần nhắc lại tấm lòng thành kính, xót thương của nhà thơ, điểm nhanh nét đặc sắc nghệ thuật và để lại suy nghĩ riêng. Dưới đây là 12 mẫu: tổng kết, liên hệ, mở rộng và kết theo đề.

Cách viết kết bài Viếng lăng Bác
- Nhắc lại nhan đề, tác giả và giá trị cốt lõi: niềm kính yêu, biết ơn, nỗi đau và ước nguyện được ở mãi bên Bác mà người con phương Nam gửi vào từng câu thơ.
- Có thể điểm qua nghệ thuật (thể thơ tám chữ, giọng trang nghiêm, ẩn dụ hàng tre, mặt trời, vầng trăng, điệp ngữ muốn làm) nhưng không phân tích lại.
- Phần liên hệ nên cụ thể: lòng biết ơn Bác, trách nhiệm học tập và rèn luyện của thế hệ hôm nay.
- Đề chỉ hỏi một khổ thơ thì kết bài gói gọn trong khổ ấy và nói ngắn về vị trí của nó trong cả bài.
Kết bài Viếng lăng Bác tổng kết giá trị
Mẫu 1 – ngắn gọn
Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bài thơ ngắn mà chứa đựng tình cảm lớn: niềm thành kính, nỗi thương nhớ và lời nguyện thủy chung của đứa con phương Nam với Bác Hồ. Đọc bài thơ, mỗi chúng ta như cũng vừa đi một vòng quanh lăng, lòng lặng đi vì xúc động.
Mẫu 2 – tóm lược nội dung và nghệ thuật
Bằng thể thơ tám chữ nhịp nhàng, giọng điệu trang nghiêm mà sâu lắng, cùng hệ thống hình ảnh vừa thực vừa ẩn dụ như hàng tre, mặt trời, tràng hoa, vầng trăng, trời xanh, Viễn Phương đã ghi lại trọn vẹn một buổi viếng lăng với bao cung bậc cảm xúc. Từ xúc động, tự hào khi đứng ngoài lăng, đến thành kính khi hòa vào dòng người, rồi nhói đau trước di hài Bác và lưu luyến lúc ra về, Viếng lăng Bác là bức chân dung tâm hồn của một người con trung hiếu. Bài thơ xứng đáng có mặt trong số những tác phẩm hay nhất viết về Bác Hồ.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí bài thơ
Nửa thế kỉ đã trôi qua kể từ chuyến viếng lăng năm 1976, bài thơ Viếng lăng Bác vẫn được xem là tác phẩm tiêu biểu nhất của Viễn Phương và thuộc số những bài thơ được yêu thích nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ góp vào dòng thơ viết về Bác một giọng nói rất riêng của phương Nam: mộc mạc, chân tình, gần gũi như lời con thưa chuyện với cha. Chính sự giản dị ấy đã làm nên sức sống lâu bền cho tác phẩm trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc.
Mẫu 4 – trở lại hình ảnh cây tre đầu và cuối bài
Bài thơ Viếng lăng Bác mở đầu bằng hàng tre xanh trong sương và khép lại cũng bằng hình ảnh cây tre: “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”. Từ cây tre của cảnh vật, Viễn Phương đã đi tới cây tre của lòng mình, một lời nguyện được đứng mãi bên Bác, giữ trọn đạo lí thủy chung. Lối kết cấu vòng tròn, đầu và cuối soi chiếu nhau ấy khiến bài thơ khép lại tròn trịa, còn dư âm thì ngân dài mãi trong lòng người đọc.
Kết bài Viếng lăng Bác liên hệ, mở rộng
Mẫu 5 – liên hệ bản thân
Đọc Viếng lăng Bác, em hiểu vì sao nhà thơ Viễn Phương lại muốn hóa thân thành tiếng chim, hương hoa, dáng tre để được ở gần Bác. Đó là cách một người con nói lời biết ơn. Là học sinh hôm nay, em chưa thể làm được điều gì lớn lao, nhưng em có thể chăm chỉ học tập, sống trung thực, yêu thương mọi người như lời Bác dạy. Mai này nếu có dịp vào lăng, em tin mình cũng sẽ bước chậm lại, lặng im như những người viếng năm ấy.
Mẫu 6 – liên hệ thế hệ trẻ hôm nay
Hơn năm mươi năm đã qua kể từ ngày Bác đi xa (1969), lăng Bác vẫn đón những đoàn người từ khắp mọi miền đến viếng. Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương nhắc thế hệ trẻ rằng lòng biết ơn không chỉ nằm ở giọt nước mắt hay vòng hoa, mà ở việc sống xứng đáng với lí tưởng Người để lại. Mỗi việc tốt, mỗi nỗ lực học tập, lao động chính là một bông hoa nhỏ ta dâng lên Bác.
Mẫu 7 – mở rộng sang thơ viết về Bác
Đặt bên những trang thơ của Tố Hữu, Minh Huệ, Chế Lan Viên viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài thơ Viếng lăng Bác vẫn giữ được gương mặt riêng. Nếu nhiều bài thơ khác khắc họa Bác trong những năm tháng hoạt động cách mạng, thì Viễn Phương viết về Người khi Người đã nằm yên trong lăng, bằng cái nhìn của một đứa con từ xa trở về. Sự khác biệt ấy giúp bài thơ của ông thêm một nốt trầm sâu lắng cho bản hòa ca bất tận mà thơ ca Việt Nam dành tặng Bác.
Mẫu 8 – khép lại bằng hai dòng thơ khổ ba
Khép lại Viếng lăng Bác, điều còn vang mãi trong em là hai dòng thơ: “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi / Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Lí trí hiểu rằng Bác đã hóa thân vào non sông, sống mãi cùng đất nước, nhưng trái tim vẫn không thôi đau đớn vì mất mát. Viễn Phương đã nói hộ một cảm xúc rất thật của biết bao người con Việt Nam khi đứng trước lăng Người. Chính sự chân thành ấy làm nên giá trị lâu bền của bài thơ.
Kết bài Viếng lăng Bác theo đề thường gặp
Mẫu 9 – kết cho đề khổ thơ đầu
Chỉ với bốn câu thơ mở đầu, Viễn Phương đã dựng nên khung cảnh trang nghiêm, thân thuộc quanh lăng Bác và gửi vào đó cả tình cảm của những người phương Nam xa xôi lẫn niềm tự hào về sức sống dân tộc. Hình ảnh hàng tre đứng thẳng giữa mưa bão còn gợi nhắc phẩm chất kiên cường của con người Việt Nam, những người con luôn đứng quanh Bác. Khổ thơ đầu vì thế là phần mở rất đẹp, chuẩn bị cho những rung động sâu sắc hơn ở các khổ sau của bài thơ Viếng lăng Bác.
Mẫu 10 – kết cho đề khổ hai và khổ ba
Hai khổ thơ giữa là phần lắng đọng nhất của Viếng lăng Bác. Ở đó, Viễn Phương sáng tạo những ẩn dụ giàu sức gợi, mặt trời trong lăng, tràng hoa của lòng người, vầng trăng dịu hiền, để ngợi ca sự vĩ đại và bất tử của Bác Hồ, đồng thời để lộ nỗi đau âm thầm của người ở lại. Đọc hai khổ thơ, người đọc như cùng nhà thơ nín lặng giữa không gian thiêng liêng, thấm thía tình cảm của cả dân tộc dành cho Người.
Mẫu 11 – kết cho đề khổ thơ cuối
Khổ thơ cuối của Viếng lăng Bác mở ra bằng một dòng đầy nước mắt: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. Điệp ngữ muốn làm lặp lại như những lời thầm thì, đưa nhà thơ hóa thân vào con chim, đóa hoa, cây tre để được mãi ở cạnh Bác. Những ước nguyện nhỏ bé mà tha thiết ấy là cách Viễn Phương khép lại bài thơ bằng tấm lòng biết ơn và lời hứa son sắt, để lại trong người đọc niềm xúc động khó quên.
Mẫu 12 – kết bài học sinh giỏi
Viếng lăng Bác không phải bài thơ của những lời lớn. Viễn Phương chỉ kể một buổi viếng lăng, với hàng tre, ánh nắng, đoàn người và thứ ánh sáng dịu trong lăng. Nhưng chính từ những điều bình thường ấy, ông đã nâng cảm xúc riêng thành tình cảm chung của cả dân tộc: kính yêu, biết ơn và thủy chung với Bác. Thơ hay đôi khi không cần cầu kì; chỉ cần tấm lòng thật, như tấm lòng người con phương Nam ấy năm 1976. Đó cũng là bài học quý về sáng tạo nghệ thuật mà bài thơ để lại cho người đọc hôm nay.
Nên chọn mẫu kết bài Viếng lăng Bác nào?
Mười hai mẫu kết bài Viếng lăng Bác trên đi từ cách tổng kết giá trị, khẳng định vị trí bài thơ, trở lại hình ảnh cây tre, đến liên hệ bản thân và mở rộng sang thơ viết về Bác. Đề cảm nhận cả bài nên chọn mẫu tổng kết hoặc liên hệ; đề một khổ thơ thì dùng mẫu theo đề. Em nên viết kết bài cùng giọng với mở bài, nhắc lại tên tác phẩm, tác giả và chép đúng câu thơ trích.
Sau khi nắm nội dung, em nên đọc cảm nhận về Viếng lăng Bác để luyện cách trình bày một bài nghị luận.
Xem thêm: