Mở bài Viếng lăng Bác là đoạn dẫn vào bài nghị luận về bài thơ Viễn Phương viết tháng 4 năm 1976, khi ông từ miền Nam ra viếng Bác Hồ. Tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 9 cũ (sách giáo khoa trước năm 2018) và vẫn hay gặp trong đề ôn thi vào lớp 10. Mở bài cần nêu đúng tác giả, hoàn cảnh ra đời và tấm lòng thành kính, xót thương mà bài thơ gửi gắm. Dưới đây là 12 mẫu viết sẵn: trực tiếp, gián tiếp và theo từng đề.

Cách viết mở bài Viếng lăng Bác
- Giới thiệu đúng tác giả, hoàn cảnh: Viễn Phương (1928–2005), tên thật Phan Thanh Viễn, quê An Giang; bài thơ viết tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày miền Nam giải phóng, khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành.
- Nắm mạch cảm xúc theo trình tự cuộc viếng: đứng ngoài lăng, hòa vào dòng người, đứng trong lăng và lúc sắp trở về.
- Câu cuối mở bài phải dẫn đúng vấn đề của đề: cả bài thơ, một khổ thơ hay một hình ảnh (hàng tre, mặt trời, vầng trăng).
- Bài thơ còn được bảo hộ bản quyền: mỗi mẫu chỉ trích một, hai dòng, chép đúng chữ; tránh những dòng có nhiều bản chép khác nhau.
Mở bài trực tiếp Viếng lăng Bác
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Viếng lăng Bác của Viễn Phương là tiếng lòng của một đứa con phương Nam lần đầu được đứng trước nơi Bác Hồ yên nghỉ. Bài thơ ngắn, lời lẽ giản dị, nhưng chứa trọn niềm kính yêu, nỗi xót thương và ước mong được ở mãi bên Người của nhà thơ, cũng là của đồng bào cả nước.
Mẫu 2 – trực tiếp, đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Viễn Phương (1928–2005), tên thật là Phan Thanh Viễn, quê ở An Giang, thuộc lớp người cầm bút có mặt từ rất sớm trong hàng ngũ văn nghệ sĩ của miền Nam kháng chiến. Tháng 4 năm 1976, khi đất nước vừa thống nhất và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành, ông theo đoàn đại biểu miền Nam ra Hà Nội viếng Bác. Từ chuyến đi ấy, bài thơ Viếng lăng Bác ra đời. Bốn khổ thơ đi theo đúng trình tự một lần vào lăng, ghi lại những rung động thành kính, nghẹn ngào của người con từ phương Nam xa xôi trước người cha chung của cả dân tộc.
Mẫu 3 – trực tiếp, nêu giá trị nội dung và nghệ thuật
Trong số rất nhiều bài thơ viết về Bác Hồ sau ngày Người đi xa, Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bài được nhiều thế hệ bạn đọc thuộc lòng. Bằng thể thơ tám chữ, giọng điệu trang nghiêm mà tha thiết, cùng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi như hàng tre, trời xanh, mặt trời, vầng trăng, nhà thơ đã nói lên lòng biết ơn, niềm tự hào và cả nỗi đau âm thầm khi đứng trước di hài Bác. Tình cảm riêng của một người miền Nam vì thế hóa thành tiếng nói chung của muôn triệu trái tim Việt Nam.
Mở bài gián tiếp Viếng lăng Bác
Mẫu 4 – đi từ ngày đất nước thống nhất
Mùa xuân năm 1975, non sông liền một dải, nhưng giữa niềm vui đại thắng, cả dân tộc vẫn mang một khoảng trống không gì lấp được: Bác Hồ đã không còn để chứng kiến ngày Nam Bắc sum họp mà Người hằng mong đợi. Với đồng bào miền Nam, nỗi thiếu vắng ấy càng thấm thía. Một năm sau, nhà thơ Viễn Phương được ra Hà Nội vào lăng viếng Bác, và bao thương nhớ dồn nén suốt mấy chục năm đã kết tinh trong bài thơ Viếng lăng Bác, những câu thơ thay lời người miền Nam thưa chuyện với Bác.
Mẫu 5 – đi từ câu thơ mở đầu và hành trình Nam – Bắc
Có những chuyến đi mà người ta chờ đợi cả nửa đời. Với Viễn Phương, đó là chuyến đi từ miền Nam ra thủ đô để được một lần đứng trước lăng Bác. Bởi vậy, câu thơ đầu tiên của bài thơ Viếng lăng Bác cất lên giản dị như lời một đứa con báo tin đã về: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Không gọi là viếng mà gọi là thăm, nhà thơ như muốn tin rằng Bác vẫn còn đó. Từ cách xưng hô thân thương ấy, cả bài thơ mở ra một thế giới cảm xúc vừa thành kính vừa xót xa.
Mẫu 6 – đi từ đề tài thơ viết về Bác Hồ
Hình tượng Bác Hồ đã đi vào thơ ca Việt Nam qua nhiều thời kì: có khi là vị cha già thức trắng bên bếp lửa trong đêm chiến dịch, có khi là con người giản dị với chiếc áo nâu, đôi dép cao su. Sau ngày Bác mất, nhiều nhà thơ viết về Người bằng nước mắt. Trong dòng thơ ấy, Viếng lăng Bác của Viễn Phương có một vị trí riêng: đây là tiếng nói của đứa con phương Nam đến muộn, mang theo nỗi mong chờ của cả một vùng đất từng được Bác đặt trọn trong trái tim. Bài thơ vì thế lắng đọng mà vô cùng da diết.
Mẫu 7 – đi từ hình ảnh hàng tre
Cây tre từ lâu đã gắn với làng quê và sức sống bền bỉ của người Việt. Thật xúc động khi đến lăng Bác, điều đầu tiên nhà thơ Viễn Phương nhìn thấy lại chính là những hàng tre xanh mờ trong sương sớm. Hình ảnh ấy vừa là cảnh thực quanh lăng, vừa gợi một dân tộc kiên cường đang quây quần bên giấc ngủ của Người. Từ hàng tre ấy, bài thơ Viếng lăng Bác đưa người đọc theo bước chân nhà thơ vào lăng, chứng kiến những cảm xúc thiêng liêng của một người con trước vị lãnh tụ kính yêu.
Mẫu 8 – đi từ hình ảnh hai mặt trời
Đã có nhiều nhà thơ ví Bác Hồ với vầng mặt trời, nhưng có lẽ chưa ai đặt hai mặt trời cạnh nhau như Viễn Phương: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng / Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”. Một bên là mặt trời của trời đất, một bên là mặt trời của lòng người, cả hai cùng tỏa sáng và sưởi ấm. Sáng tạo ấy cho thấy Viếng lăng Bác không chỉ là lời tiếc thương mà còn là lời khẳng định tầm vóc lớn lao và sự bất tử của Người trong lòng dân tộc. Bài thơ vì vậy vừa trang nghiêm vừa ấm áp lạ thường.
Mẫu 9 – đi từ hồn thơ Viễn Phương và thể thơ
Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, đằm thắm, ít khi cất giọng lớn mà vẫn đi thẳng vào lòng người. Nét hồn thơ ấy kết tinh rõ nhất trong Viếng lăng Bác, bài thơ chỉ có bốn khổ, mỗi dòng phần lớn tám chữ, nhịp chậm rãi như bước chân người đi trong hàng dài vào lăng. Không cần lời lẽ hoa mĩ, tác giả chỉ ghi lại những điều mình thấy, mình nghĩ, mình mong ước trong buổi viếng, vậy mà câu thơ nào cũng thấm đẫm lòng thành kính và tình thương nhớ dành cho Bác.
Mở bài Viếng lăng Bác theo đề thường gặp
Mẫu 10 – đề phân tích khổ thơ đầu
Khổ thơ đầu của Viếng lăng Bác ghi lại những cảm xúc đầu tiên của Viễn Phương khi vừa tới lăng. Lời xưng hô con – Bác ấm áp, chữ thăm thay cho chữ viếng nhẹ nhàng, rồi hình ảnh hàng tre hiện ra trong sương sớm, đứng thẳng giữa mưa gió như cốt cách kiên trung của người Việt. Chỉ bốn câu thơ mà chứa cả niềm xúc động, sự thành kính lẫn niềm tự hào về dân tộc. Phân tích khổ thơ này, ta sẽ hiểu vì sao bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh bình dị mà lại gợi nhiều đến thế.
Mẫu 11 – đề phân tích khổ hai và khổ ba
Nếu khổ đầu là những ấn tượng bên ngoài lăng, thì hai khổ giữa của Viếng lăng Bác đưa người đọc vào chính không gian thiêng liêng nhất. Ở đó, nhà thơ Viễn Phương thấy dòng người ngày ngày lặng lẽ nối nhau như một tràng hoa kính dâng Bác, thấy Người yên nghỉ trong ánh sáng dịu nhẹ như vầng trăng, và bất chợt thốt lên nỗi đau: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc cùng cảm xúc chân thành đã làm nên hai khổ thơ xúc động nhất của bài thơ.
Mẫu 12 – đề phân tích khổ thơ cuối
Mọi cuộc viếng thăm rồi cũng đến lúc chia tay, và đó là khi cảm xúc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương dâng lên mạnh mẽ nhất. Nghĩ đến ngày mai phải trở về miền Nam, nhà thơ không giấu được nước mắt, rồi nói lên những ước nguyện thật giản dị: được làm con chim cất tiếng hót, làm bông hoa ngát hương, làm cây tre đứng canh bên lăng. Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng tấm lòng lưu luyến và lời hứa thủy chung của người con với lí tưởng của Bác.
Nên chọn mẫu mở bài Viếng lăng Bác nào?
Mười hai mẫu mở bài Viếng lăng Bác trên giúp em vào bài theo nhiều hướng: giới thiệu thẳng tác giả và hoàn cảnh năm 1976, đi từ ngày đất nước thống nhất, từ đề tài thơ viết về Bác, từ hàng tre hay hình ảnh mặt trời. Đề cảm nhận cả bài thơ nên chọn mẫu trực tiếp hoặc gián tiếp; đề phân tích một khổ thì dùng mẫu theo đề. Hãy viết lại bằng lời của mình và chép đúng câu thơ, vì đây là bài thơ còn được bảo hộ bản quyền.
Xem thêm: