Cảm nhận về Sông nước Cà Mau là đề văn quen thuộc của Bài 19 sách Ngữ văn 6 tập hai chương trình cũ. Đoạn trích từ Đất rừng phương Nam đưa người đọc ngồi lên con thuyền nhỏ cùng bé An, lướt qua bao con kênh, một dòng sông lớn và một khu chợ nổi ở mũi đất cuối trời Nam. Bài viết gồm dàn ý chung và 6 bài văn mẫu, mỗi bài chọn một góc nhìn riêng để em tham khảo.
Trước khi viết, em có thể ôn nhanh tác giả, xuất xứ, bố cục ở bài Sông nước Cà Mau (Đoàn Giỏi): tác giả, tác phẩm; những bài khác dành cho học sinh lớp 6 nằm ở chuyên mục Ngữ văn lớp 6.
Dàn ý cảm nhận về đoạn trích Sông nước Cà Mau
Dàn ý bám theo đường đi của con thuyền: từ ấn tượng bao trùm, tới những con kênh, dòng sông lớn, rừng đước và cuối cùng là chợ Năm Căn.

1. Mở bài
– Giới thiệu Đoàn Giỏi, nhà văn gắn bó với đất và người Nam Bộ, tác giả cuốn Đất rừng phương Nam.
– Giới thiệu đoạn trích Sông nước Cà Mau và nêu cảm nhận chung: bức tranh vùng đất mũi vừa hoang sơ, hùng vĩ vừa trù phú, đông vui.
2. Thân bài
a. Cái nhìn đầu tiên: một thế giới sông nước
+ Kênh, rạch, sông, ngòi nhiều không đếm xuể, đan vào nhau như mạng nhện.
+ Trời, nước, cây cối chung một sắc xanh; bên tai là tiếng rừng xào xạc, tiếng sóng rì rầm.
+ Cảm giác mênh mông, đơn điệu, có phần buồn ngủ, mê hoặc.
b. Những cái tên dân dã
+ Rạch Mái Giầm, kênh Ba Khía, kênh Bọ Mắt: tên gọi lấy từ chính cây cối, con vật của từng nơi.
+ Gợi thiên nhiên phong phú, hoang dã và cách sống mộc mạc, gần gũi tự nhiên của người dân.
c. Dòng sông Năm Căn và rừng đước
+ Sông rộng mênh mông, nước đổ ra biển ầm ầm, cá bơi hàng đàn giữa sóng.
+ Rừng đước dựng cao hai bên bờ, nhiều tầng màu xanh khác nhau.
+ Những động từ chỉ đường đi của con thuyền được chọn rất chuẩn.
d. Chợ Năm Căn
+ Gỗ chất cao, lò than, nhà bè, thuyền bán hàng len lỏi; ban đêm đèn sáng như phố nổi.
+ Người nhiều dân tộc, nhiều giọng nói, trang phục: không khí đông vui, giàu bản sắc.
e. Nghệ thuật
+ Quan sát bằng cả mắt và tai, đi từ bao quát đến cụ thể.
+ So sánh độc đáo, dùng từ chính xác, kết hợp tả cảnh với giới thiệu hiểu biết về địa phương.
3. Kết bài
– Khẳng định vẻ đẹp của Cà Mau qua ngòi bút Đoàn Giỏi.
– Bày tỏ tình cảm: thương mến, tự hào về mảnh đất mũi, mong một lần được đến.
Cảm nhận về Sông nước Cà Mau ngắn gọn – mẫu 1
Cà Mau là mảnh đất cuối cùng của dải đất hình chữ S. Em chưa từng đến đó, nhưng sau khi học Sông nước Cà Mau của Đoàn Giỏi, em có cảm giác như mình đã cùng ngồi thuyền, lướt dọc từng con kênh, nghe tiếng rừng rì rào hai bên.
Ấn tượng đầu tiên là sông ngòi nhiều vô kể. Nhà văn tả những con kênh, con rạch “bủa giăng chi chít như mạng nhện”. Phóng tầm mắt ra xa, đâu đâu cũng một màu xanh, từ bầu trời, mặt nước đến rặng cây, tất cả hòa lại thành một sắc “lặng lẽ một màu xanh đơn điệu”. Rồi con thuyền ra tới sông Năm Căn, nơi nước sông cuồn cuộn chảy ra cửa biển, rừng đước hai bờ sừng sững như bức tường thành. Cuối hành trình là chợ Năm Căn họp ngay trên mặt nước, gỗ chất từng đống, thuyền bè tấp nập, tiếng nói cười rộn rã.
Đọc đoạn trích, em vừa thấy choáng ngợp trước thiên nhiên hoang dã, vừa thấy ấm lòng trước cuộc sống sôi động của con người nơi đây. Em thấy thương và hãnh diện về Cà Mau, mảnh đất xa xôi mà giàu có của Tổ quốc mình.
Cảm nhận về vùng đất Cà Mau qua đoạn trích Sông nước Cà Mau – mẫu 2
Có những vùng đất ta biết đến qua bản đồ, có những vùng đất ta biết đến qua trang văn. Với em, Cà Mau là vùng đất thứ hai. Nhờ ngòi bút của Đoàn Giỏi trong đoạn trích Sông nước Cà Mau, mảnh đất ở mũi cực Nam hiện lên thật rõ nét, vừa lạ lẫm vừa thân thương.
Đoạn trích được kể qua cái nhìn của bé An, cậu bé đang ngồi thuyền xuôi giữa xứ sở sông nước. Vì vậy, cảnh vật không đứng yên mà nối nhau hiện ra như những thước phim. Mở đầu là toàn cảnh. Cà Mau là xứ của kênh rạch, sông ngòi, nhiều tới mức nhà văn phải ví chúng “bủa giăng chi chít như mạng nhện”. Không gian ngập trong sắc xanh của trời, nước và rừng. Âm thanh cũng chỉ có tiếng rì rào của cây, tiếng rì rầm của sóng biển, đều đều không dứt. Cảm giác của người đi đường thật lạ: mênh mông đến mức thấy mình nhỏ bé, đều đặn đến mức muốn chìm vào giấc ngủ.
Rồi những cái tên đất, tên sông khiến em thích thú. Ở đây, người ta không đặt tên cho đẹp, cho kêu, mà gọi theo đúng những gì mắt thấy: rạch Mái Giầm vì mọc đầy cây mái giầm, kênh Ba Khía vì ba khía bám đỏ hai bờ. Những cái tên mộc mạc ấy cho em hình dung một vùng thiên nhiên còn nguyên sơ, nơi con người sống chan hòa với cây cỏ, muông thú.
Càng đi, cảnh càng rộng lớn. Dòng sông Năm Căn “rộng hơn ngàn thước”, nước chảy ầm ầm ra biển. Hai bên bờ, đước mọc san sát, cao vút, màu xanh chuyển dần từ non tươi đến sẫm đậm. Thiên nhiên ở đây mang một vẻ đẹp hùng vĩ, khỏe khoắn, khác hẳn những dòng sông hiền hòa của miền Bắc hay miền Trung.
Cuối cùng, con thuyền dừng ở chợ Năm Căn. Thiên nhiên hoang dã nhường chỗ cho cuộc sống tấp nập. Gỗ chất thành đống, nhà bè nối nhau, thuyền bán hàng len lỏi khắp nơi, người mua bán thuộc nhiều dân tộc, nhiều giọng nói khác nhau. Ban đêm, đèn trên các nhà bè thắp sáng mặt sông như một khu phố nổi. Đến đây, em mới thấy Cà Mau không chỉ đẹp mà còn giàu có, sung túc.
Khép lại đoạn trích, trong em đọng lại hình ảnh một Cà Mau hoang sơ mà đầy sức sống. Em thầm mong một ngày được tận mắt nhìn thấy những con kênh, dòng sông và rừng đước ấy.
Cảm nhận về màu xanh và âm thanh của Cà Mau – mẫu 3
Đọc Sông nước Cà Mau, em nhớ nhất không phải một chi tiết cụ thể, mà là một cảm giác: cảm giác bị bao bọc bởi màu xanh và những âm thanh đều đều không dứt. Đoàn Giỏi đã dùng chính cảm giác ấy để mở đầu đoạn trích, khiến người đọc như bị cuốn vào vùng đất mũi ngay từ những dòng đầu tiên.
Trước hết là màu xanh. Ở Cà Mau, nhìn đâu cũng thấy xanh. Trên đầu là trời xanh, dưới thuyền là nước xanh, hai bên bờ là cây xanh. Màu xanh ấy không có điểm dừng, cứ trải mãi đến tận chân trời. Nhà văn gọi đó là “lặng lẽ một màu xanh đơn điệu”. Chữ đơn điệu thoạt nghe có vẻ chê, nhưng thực ra lại rất thật. Khi một màu sắc phủ kín không gian, mắt người sẽ thấy nó đều đều, không có gì nổi bật. Chính sự đơn điệu ấy làm nên nét riêng của vùng đất, nơi thiên nhiên còn chưa bị con người chia cắt.
Thế nhưng, khi con thuyền vào gần rừng đước, màu xanh ấy lại không còn đơn điệu nữa. Đoàn Giỏi chỉ ra từng lớp xanh: lớp đước non mang màu lá mạ, lớp già hơn ngả sang màu rêu, lớp lâu năm đậm như màu chai lọ. Em rất phục con mắt của nhà văn. Phải là người sống lâu với rừng mới phân biệt được những sắc xanh tinh tế như vậy. Một màu xanh tưởng như giống nhau hóa ra có biết bao nhiêu tầng bậc.
Bên cạnh màu sắc là âm thanh. Trên đường đi, bên tai người đi đường chỉ có tiếng rừng xào xạc và tiếng sóng biển vỗ đều. Không có tiếng xe cộ, tiếng người ồn ã như ở thành phố. Những âm thanh ấy cứ lặp đi lặp lại, như một bài hát ru, khiến người ta dễ buồn ngủ. Đến đoạn sông Năm Căn, âm thanh trở nên dữ dội hơn: nước đổ ra biển “ngày đêm như thác”, ầm ầm không ngớt. Âm thanh đổi khác cũng báo hiệu cảnh vật đã đổi khác.
Nhờ kết hợp thị giác với thính giác, Đoàn Giỏi đã vẽ nên một bức tranh có cả màu lẫn tiếng. Người đọc không chỉ nhìn thấy Cà Mau mà còn nghe thấy Cà Mau. Đó là lí do đoạn trích có sức sống lâu bền đến vậy trong lòng học trò.
Sau khi học bài, mỗi lần nhìn thấy một mảng xanh thật rộng, em lại nhớ đến Cà Mau, nhớ đến cậu bé ngồi trên thuyền, ngơ ngác trước một thế giới chỉ toàn sắc xanh.
Cảm nhận về dòng sông Năm Căn và rừng đước – mẫu 4
Trong đoạn trích Sông nước Cà Mau, có một đoạn văn em thuộc lòng lúc nào không hay: đoạn tả con thuyền ra khỏi kênh hẹp để đến với dòng sông Năm Căn. Ở đó, ngôn ngữ của Đoàn Giỏi đạt đến độ chính xác và giàu hình ảnh hiếm thấy, giúp em cảm nhận được vẻ hùng vĩ của thiên nhiên phương Nam.
Câu văn mở đầu đoạn này là một câu kể về đường đi của con thuyền: “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông cửa lớn, xuôi về Năm Căn”. Ba động từ nối nhau, mỗi động từ ứng với một chặng. Chèo thoát qua cho thấy con kênh hẹp, thuyền phải gắng sức mới vượt được. Đổ ra gợi cảm giác thuyền theo dòng nước đột ngột đi vào khoảng không rộng lớn. Xuôi về thì nhẹ nhàng, êm ả, thuyền đã thuận dòng. Nếu đổi chỗ các động từ ấy, câu văn sẽ sai với đường đi thực tế. Chỉ một câu thôi mà em thấy được sự cẩn trọng của nhà văn trong từng chữ.
Dòng sông Năm Căn hiện ra thật hùng vĩ. Sông “rộng hơn ngàn thước”, một con số làm em phải dừng lại hình dung. Nước “ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác”, như thể cả vùng đất đang dồn hết sức mình về phía biển khơi. Giữa dòng nước ấy, cá bơi hàng đàn, nhô lên rồi lặn xuống “như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng”. Hình ảnh so sánh vừa ngộ nghĩnh vừa sinh động, làm dòng sông vốn dữ dội bỗng trở nên tràn trề sức sống.
Dọc hai bờ sông, đước mọc dày, vươn cao, nhà văn ví chúng “như hai dãy trường thành vô tận”. Trường thành là bức tường thành dài, kiên cố. So sánh như vậy, rừng đước không chỉ cao mà còn vững chãi, như đang canh giữ dòng sông, canh giữ vùng đất. Màu xanh của rừng cũng được tả kĩ lưỡng, lớp non, lớp già nối tiếp, khiến bức tranh có chiều sâu.
Đọc đoạn văn ấy, em có cảm giác được ngồi giữa một khung cảnh vĩ đại của thiên nhiên. Con người bé nhỏ trên con thuyền vừa choáng ngợp vừa say mê. Em hiểu vì sao Đoàn Giỏi lại yêu vùng đất này đến thế, và em cũng bắt đầu yêu nó qua những trang văn của ông.
Cảm nhận về cảnh chợ Năm Căn trong Sông nước Cà Mau – mẫu 5
Nếu phần đầu đoạn trích Sông nước Cà Mau là thế giới của thiên nhiên hoang dã, thì phần cuối lại là thế giới của con người. Cảnh chợ Năm Căn mà Đoàn Giỏi miêu tả đã để lại trong em ấn tượng về một cuộc sống sôi động, giàu có và rất riêng của vùng đất cực Nam.
Chợ Năm Căn không giống những phiên chợ em từng đi. Chợ không họp trên một bãi đất hay trong một dãy nhà, mà họp ngay trên sông. Dọc bờ là “những đống gỗ cao như núi”, cho thấy nguồn lợi khổng lồ từ những cánh rừng đước. Ven bờ có cả lò than hầm gỗ đước, khói bay lên nghi ngút. Trên mặt nước, những ngôi nhà bè nối nhau, những chiếc thuyền chở hàng len lỏi khắp nơi. Người ta mua bán ngay trên thuyền, không cần bước chân lên bờ.
Điều làm em thích thú là cảnh chợ lúc về đêm. Khi trời tối, đèn trên các nhà bè đồng loạt sáng lên, soi xuống dòng sông lấp lánh. Cả khu chợ trông như một dãy phố nổi giữa mặt nước. Hình ảnh ấy vừa lộng lẫy vừa thơ mộng, làm em liên tưởng đến những thành phố trên sông mà em chỉ thấy qua phim ảnh.
Chợ Năm Căn còn đông vui bởi con người. Khách mua, người bán đến từ nhiều dân tộc, mỗi người một giọng, mặc nhiều kiểu áo quần. Sự đa dạng ấy cho thấy Cà Mau là nơi hội tụ, nơi các cộng đồng cùng nhau sinh sống, làm ăn trong hòa thuận. Tiếng rao, tiếng chào mời, tiếng mặc cả hòa với tiếng nước, tạo nên một bản nhạc rộn rã của cuộc sống.
Đặt cảnh chợ sau những trang tả thiên nhiên, nhà văn cho thấy một điều: vùng đất hoang sơ ấy đã được con người khai phá, làm cho giàu đẹp. Con người không bị thiên nhiên khuất phục, mà biết khai thác sản vật của rừng, của sông để xây dựng cuộc sống no ấm.
Cảnh chợ Năm Căn làm em thêm yêu Cà Mau. Không chỉ là rừng, là sông, Cà Mau còn là nơi có những con người cần cù, phóng khoáng, đang ngày ngày làm cho quê hương mình thêm sung túc.
Cảm nhận về nghệ thuật miêu tả trong Sông nước Cà Mau (bài học sinh giỏi) – mẫu 6
Đoàn Giỏi từng được biết đến như một cây bút am hiểu tường tận đất và người Nam Bộ. Cuốn Đất rừng phương Nam của ông đã dẫn biết bao em nhỏ đi khắp rừng tràm, sông nước miền Tây. Đoạn trích Sông nước Cà Mau, rút từ chương XVIII của cuốn truyện, là một trong những trang văn miêu tả đẹp nhất về vùng đất mũi. Đọc đoạn trích, em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của Cà Mau mà còn thấy được tài năng quan sát và dùng từ của nhà văn.
Điều đầu tiên em nhận ra là trình tự miêu tả rất hợp lí. Người kể ngồi trên thuyền, nên cảnh vật lần lượt hiện ra theo đường đi. Nhà văn không tả lan man mà đi từ cái chung đến cái riêng: trước hết là ấn tượng bao trùm về một vùng sông ngòi chằng chịt, ngập trong sắc xanh; kế đến là những con kênh mang tên riêng; rồi dòng sông lớn và rừng đước; cuối cùng là khu chợ đông người. Trình tự ấy giúp người đọc dễ hình dung như đang trực tiếp đi cùng nhân vật.
Thứ hai, nhà văn huy động cả mắt lẫn tai để cảm nhận cảnh vật. Ở phần đầu, mắt thấy kênh rạch “bủa giăng chi chít như mạng nhện”, thấy trời, nước, cây cùng chung sắc xanh; tai nghe tiếng rừng rì rào, tiếng sóng đều đặn. Hai giác quan bổ sung cho nhau, tạo nên cảm giác mênh mông, đều đều, như ru người vào giấc ngủ. Cảnh vật không chỉ được nhìn mà còn được nghe, được cảm.
Thứ ba là cách dùng từ chính xác đến từng chữ. Câu văn “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông cửa lớn, xuôi về Năm Căn” cho thấy rõ điều này. Ba động từ không thể hoán đổi, vì mỗi từ diễn tả một trạng thái khác nhau của con thuyền ở từng chặng. Khi tả rừng đước, nhà văn cũng không dùng chung chung một chữ xanh, mà phân ra màu lá mạ, màu rêu, màu chai lọ theo tuổi của cây. Sự chính xác ấy chỉ có được khi nhà văn thật sự hiểu và yêu cảnh vật mình tả.
Thứ tư là những phép so sánh độc đáo, gần gũi. Rừng đước đứng “như hai dãy trường thành vô tận”, đàn cá bơi “như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng”, gỗ chất “cao như núi”. Mỗi so sánh vừa gợi hình vừa gợi cảm, làm cảnh vật trở nên sinh động, có hồn.
Cuối cùng, nhà văn còn khéo kết hợp tả cảnh với giới thiệu hiểu biết về vùng đất. Đoạn kể chuyện dân địa phương gọi tên kênh rạch theo cây cối, con vật cho thấy Đoàn Giỏi không chỉ là người tả cảnh mà còn là người am tường phong tục, lối sống của quê hương. Nhờ vậy, trang văn không khô cứng mà giàu thông tin, giàu chất đời.
Nhờ những nét nghệ thuật ấy, hiện lên trước mắt em là một Cà Mau vừa hoang dã, hùng vĩ, vừa trù phú, đông vui. Qua bức tranh ấy, em thấy được tấm lòng tha thiết của nhà văn với mảnh đất cực Nam. Và em tin rằng, bất cứ ai đọc Sông nước Cà Mau cũng sẽ thấy lòng mình thêm gắn bó với quê hương đất nước.
Kết luận
Viết bài cảm nhận về Sông nước Cà Mau, em nên men theo hành trình con thuyền, dừng lại ở vài chi tiết đắt để bình: màu xanh bao trùm, những cái tên dân dã, câu văn có ba động từ, các so sánh về rừng đước, cảnh chợ trên sông. Cuối bài, hãy nói rõ tình cảm của em với vùng đất mũi để bài văn có giọng riêng.
Xem thêm: