Mở bài Từ ấy là phần dẫn dắt khi viết về bài thơ Tố Hữu sáng tác năm 1938, xếp ở phần Máu lửa của tập Từ ấy; tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 11 cũ (sách giáo khoa trước 2018), nay không còn trong ba bộ sách mới nhưng vẫn hay gặp trong đề ôn luyện. Một mở bài tốt cần nêu được ý nghĩa của bài thơ: niềm vui của chàng trai mười tám tuổi khi gặp lí tưởng cách mạng và lẽ sống gắn mình với mọi người. Bài viết gồm 12 mẫu mở bài trực tiếp, gián tiếp và theo đề.

Cách viết mở bài Từ ấy
- Nêu đúng thông tin: Tố Hữu (1920–2002), tên thật Nguyễn Kim Thành, quê Thừa Thiên Huế; năm 1938 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và viết bài thơ Từ ấy.
- Nói rõ vị trí của bài thơ: nằm trong phần Máu lửa, phần đầu của tập Từ ấy (gồm Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng), được xem là cột mốc mở đầu đời thơ gắn với đời cách mạng của Tố Hữu.
- Câu cuối mở bài phải nêu vấn đề khớp đề: cả bài thơ, khổ 1 (niềm vui gặp lí tưởng), khổ 2 (lẽ sống mới) hay khổ 3 (tình cảm với những kiếp người lao khổ).
- Bài thơ còn được bảo hộ bản quyền: chỉ trích một, hai dòng thơ thật cần thiết và chép đúng chữ trong sách.
Mở bài trực tiếp Từ ấy
Mẫu 1 – mở bài trực tiếp, ngắn gọn
Từ ấy của Tố Hữu là bài thơ ghi lại khoảnh khắc chàng thanh niên Huế mười tám tuổi bắt gặp lí tưởng cộng sản và quyết định dành cả đời cho cách mạng. Chỉ với ba khổ thơ bảy chữ, Tố Hữu đã nói được niềm vui sướng ngập tràn của mình, rồi nói lên cách nhìn mới về lẽ sống: gắn cái tôi riêng với cuộc đời chung của những người lao khổ.
Mẫu 2 – mở bài trực tiếp, đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 ở Thừa Thiên Huế, đến với phong trào cách mạng từ thời còn là cậu học trò trường Quốc học. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và bài thơ Từ ấy ra đời như một trang nhật kí ghi dấu ngày trọng đại ấy. Về sau, bài thơ được xếp vào phần Máu lửa, mở đầu tập thơ đầu tay mang cùng tên. Qua Từ ấy, người đọc thấy được niềm hân hoan của một tâm hồn trẻ khi lí tưởng soi rọi, cùng những điều chàng trai trẻ ngộ ra về cách sống và tình cảm giai cấp.
Mẫu 3 – mở bài trực tiếp, nêu giá trị nội dung và nghệ thuật
Trong sự nghiệp của Tố Hữu, Từ ấy có ý nghĩa như lời tuyên bố đầu tiên của một hồn thơ trữ tình chính trị. Từ ấy kể lại bước ngoặt năm 1938, khi người thanh niên yêu nước tìm thấy con đường cho đời mình, rồi từ đó mở ra những suy nghĩ về cách sống, cách yêu thương. Hình ảnh ẩn dụ giàu ánh sáng, nhịp thơ bảy chữ sôi nổi và những điệp từ dồn dập đã giúp Tố Hữu biến một sự kiện chính trị thành tiếng hát chân thành, say mê. Tìm hiểu Từ ấy là tìm hiểu điểm khởi đầu của cả một đời thơ gắn với cách mạng Việt Nam.
Mở bài gián tiếp Từ ấy
Mẫu 4 – đi từ tuổi trẻ đi tìm lẽ sống
Tuổi mười tám là lứa tuổi người ta hay tự hỏi mình sẽ sống vì điều gì, sẽ đi về đâu giữa cuộc đời rộng lớn. Với chàng thanh niên Nguyễn Kim Thành ở Huế những năm cuối thập niên ba mươi, câu trả lời đã đến khi anh gặp ánh sáng của lí tưởng cộng sản. Niềm vui của buổi gặp gỡ ấy được Tố Hữu giữ lại trong bài thơ Từ ấy, viết năm 1938. Đọc bài thơ, ta không chỉ gặp một tâm hồn trẻ đang bừng tỉnh mà còn thấy một lẽ sống đẹp: sống là gắn bó, là yêu thương và dấn thân vì những con người khốn khổ quanh mình.
Mẫu 5 – đi từ bối cảnh Thơ mới 1932–1945
Những năm 1932–1945, thơ ca Việt Nam rực rỡ với phong trào Thơ mới, nơi cái tôi cá nhân được giải phóng nhưng nhiều khi cũng lạc lõng, buồn bã, tìm cách thoát khỏi thực tại. Giữa không khí ấy, một giọng thơ khác vang lên từ xứ Huế: giọng thơ của Tố Hữu, người thanh niên đã tìm thấy con đường cách mạng. Bài thơ Từ ấy, viết năm 1938, cho thấy cái tôi của nhà thơ không quay về ốc đảo riêng mà mở lòng hòa vào quần chúng cần lao. Chính sự khác biệt đó làm nên giá trị đặc biệt của Từ ấy trong thơ ca trước Cách mạng tháng Tám.
Mẫu 6 – đi từ con đường thơ song hành con đường cách mạng
Hiếm có nhà thơ nào mà mỗi chặng đời thơ lại trùng khít với một chặng đường cách mạng như Tố Hữu. Các tập thơ của ông nối tiếp nhau ghi lại những bước đi của dân tộc, và điểm xuất phát của hành trình ấy là tập Từ ấy. Bài thơ cùng tên, viết năm 1938, chính là lúc người chiến sĩ và người nghệ sĩ trong Tố Hữu cùng ra đời. Ở đó, ta nghe thấy niềm say mê lí tưởng, ý thức gắn bó với nhân dân và cả giọng điệu trữ tình chính trị sẽ theo ông suốt đời.
Mẫu 7 – đi từ hình ảnh ánh sáng mặt trời
Mặt trời vốn là nguồn sống của muôn loài, nhưng trong thơ Tố Hữu, có một mặt trời không mọc ở phương đông mà mọc lên trong lồng ngực một chàng trai trẻ. Mở đầu bài thơ Từ ấy, nhà thơ viết: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ / Mặt trời chân lí chói qua tim”. Thứ ánh sáng rực rỡ của mùa hạ ấy là lí tưởng cách mạng mà chàng trai mười tám tuổi đón nhận năm 1938. Từ khoảnh khắc được soi rọi đó, cả tâm hồn lẫn cách nghĩ về cuộc đời của Tố Hữu đều đổi khác, và bài thơ đã ghi lại trọn vẹn sự đổi thay kì diệu này.
Mẫu 8 – đi từ câu hỏi sống để làm gì
Sống để làm gì và sống thế nào cho có ý nghĩa? Đó là câu hỏi mà mỗi thế hệ thanh niên đều phải tự trả lời. Hơn tám mươi năm trước, chàng thanh niên Tố Hữu đã trả lời câu hỏi ấy bằng cả cuộc đời mình, và lời đáp đầu tiên được viết thành bài thơ Từ ấy năm 1938. Không còn băn khoăn lạc lối, nhà thơ tự nguyện gắn đời mình với nhân dân lao khổ, coi họ là người thân ruột thịt. Bài thơ vì thế vừa là tiếng reo vui khi gặp lí tưởng, vừa là bản tự bạch về lẽ sống của một người chiến sĩ trẻ.
Mẫu 9 – đối sánh với Vội vàng của Xuân Diệu
Gần như cùng một thời, khoảng năm 1938, có hai chàng trai trẻ đều yêu đời tha thiết nhưng chọn hai lối sống khác nhau. Xuân Diệu trong Vội vàng muốn ôm trọn sắc hương trần thế, vội vã tận hưởng tuổi xuân trước khi thời gian trôi qua. Còn Tố Hữu, khi viết Từ ấy năm 1938, lại tìm thấy niềm vui ở lí tưởng cách mạng và ở sự gắn bó với những kiếp người lầm than. Đặt hai bài thơ bên nhau, ta càng thấy rõ vẻ đẹp riêng của Từ ấy: đó là tình yêu đời được nâng lên thành lẽ sống vì mọi người.
Mở bài Từ ấy theo đề thường gặp
Mẫu 10 – đề phân tích khổ 1: niềm vui gặp lí tưởng
Khổ thơ đầu của Từ ấy là khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong đời Tố Hữu, được kể lại bằng cả tấm lòng của chàng trai mười tám tuổi. Chỉ trong bốn dòng thơ, nhà thơ dựng lên hai hình ảnh đối ứng nhau: một nguồn sáng rực rỡ chiếu vào tim và một tâm hồn bừng nở như khu vườn đầy hương sắc, tiếng chim. Qua các hình ảnh ẩn dụ và so sánh ấy, khổ một nói lên niềm hạnh phúc, say mê không gì sánh được của Tố Hữu khi đón nhận lí tưởng cộng sản năm 1938.
Mẫu 11 – đề phân tích khổ 2: lẽ sống mới
Nếu khổ đầu bài Từ ấy là tiếng reo của một tâm hồn vừa bừng tỉnh, thì khổ thơ thứ hai là lúc Tố Hữu bình tâm suy nghĩ về con đường mình sẽ đi. Câu thơ “Tôi buộc lòng tôi với mọi người” như một lời tự nguyện: nhà thơ chủ động vượt khỏi giới hạn cái tôi nhỏ hẹp để sống chan hòa với quần chúng. Trong cảm nhận của ông, chỉ khi các tâm hồn đau khổ gần nhau thì sức mạnh của cả khối người mới lớn lên. Phân tích khổ hai là làm rõ quan niệm lẽ sống mới mẻ ấy của người chiến sĩ trẻ.
Mẫu 12 – đề phân tích khổ 3: tình cảm với những kiếp người lao khổ
Khép lại bài thơ Từ ấy, Tố Hữu không nói về mình bằng những từ ngữ trừu tượng mà bằng những tiếng gọi rất đỗi gia đình: người con, người em, người anh. Nhà thơ coi mình là thành viên trong đại gia đình của hàng vạn con người nghèo khổ, từ những mái nhà lam lũ đến những em nhỏ thiếu áo thiếu cơm. Ở khổ cuối, lí tưởng cách mạng đã chuyển hóa thành tình thương cụ thể, ấm áp. Đây cũng là đỉnh cao cảm xúc của Từ ấy, nơi tình cảm giai cấp được nói lên bằng giọng thơ chân thành, xúc động.
Nên chọn mẫu mở bài Từ ấy nào?
Mười hai mẫu mở bài Từ ấy ở trên giúp em vào bài theo nhiều hướng: giới thiệu thẳng tác giả và hoàn cảnh năm 1938, đi từ tuổi trẻ đi tìm lẽ sống, từ bối cảnh Thơ mới, từ hình ảnh mặt trời hay đối sánh với Vội vàng. Đề phân tích cả bài nên dùng mẫu trực tiếp hoặc gián tiếp; đề về từng khổ thơ thì chọn mẫu theo đề. Dù chọn mẫu nào, em hãy viết lại bằng lời của mình và để câu cuối mở bài nêu đúng vấn đề đề bài yêu cầu.
Xem thêm: