Năm 1938, chàng học trò Quốc học Huế mười tám tuổi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, và cái mốc ấy đi vào thơ thành nhan đề Từ ấy. Tố Hữu (1920 – 2002), tên thật Nguyễn Kim Thành, là nhà thơ tiêu biểu của thơ ca cách mạng Việt Nam, tác giả Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, đồng thời là nhà hoạt động chính trị từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ngay đợt đầu tiên.
Làng Phù Lai, trường Quốc học và tuổi mười tám

| Tên thật | Nguyễn Kim Thành |
| Bút danh | Tố Hữu |
| Năm sinh – năm mất | 4/10/1920 – 9/12/2002 |
| Quê quán | Làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế (nay thuộc thành phố Huế) |
| Thể loại | Thơ trữ tình chính trị, tiểu luận, hồi ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Từ ấy (1937 – 1946), Việt Bắc (1947 – 1954), Gió lộng (1955 – 1961), Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977), Một tiếng đờn (1978 – 1992) |
| Giải thưởng | Giải nhất Giải thưởng Văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955 (Việt Bắc); Giải thưởng Văn học ASEAN (1996); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, 1996) |
| Trong SGK hiện hành | Lượm, Ta đi tới, Nhớ đồng, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Việt Bắc |
Ông là con út trong một gia đình nhà nho nghèo. Cha không đỗ đạt, kiếm sống chật vật nhưng mê thơ, thích sưu tầm ca dao tục ngữ và dạy con làm thơ cổ; mẹ thuộc nhiều ca dao, dân ca Huế. Mẹ mất khi ông mười hai tuổi. Năm mười ba tuổi, ông vào trường Quốc học Huế; theo Wikipedia, tại đây ông tiếp xúc với sách báo tiến bộ và những người cộng sản như Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu.
Nơi sinh của ông được ghi không thống nhất. Báo VnExpress viết ông sinh ở làng Phù Lai; Wikipedia ghi ông sinh ở Thừa Thiên, chín tuổi mới theo cha về sống ở Phù Lai; còn Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi ông sinh tại Hội An, Quảng Nam. Các nguồn chỉ thống nhất ở một điểm: quê gốc là làng Phù Lai bên dòng sông Bồ.
Bốn năm tù và tập thơ Từ ấy
Năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương ở Huế; năm 1938 được kết nạp Đảng. Những bài thơ đầu tiên của ông ra đời trong khoảng 1937 – 1938. Tháng 4 năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt, giam ở nhà lao Thừa Phủ, rồi bị đày qua Lao Bảo và các nhà tù ở Tây Nguyên. Tháng 3 năm 1942, ông vượt ngục Đắk Glei, tìm ra Thanh Hóa bắt liên lạc với tổ chức.
Những bài thơ viết trong và ngoài nhà tù được tập hợp thành Từ ấy, tập thơ đầu tay gồm 72 bài, chia ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng. Bài thơ cùng tên mở đầu bằng hai câu mà sách học trò nào cũng dẫn:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Trên Văn VN có bài bài thơ Từ ấy cùng các mẫu mở bài Từ ấy. Bài Khi con tu hú, viết trong nhà lao Thừa Phủ tháng 7 năm 1939, cũng thuộc tập thơ này, xem bài thơ Khi con tu hú.
Từ ấy đến Ta với ta: các tập thơ theo từng chặng
Thơ Tố Hữu đi song song với lịch sử: mỗi tập ứng với một chặng của cách mạng và kháng chiến. Đếm số bài trong từng tập cũng thấy nhịp viết của ông thay đổi ra sao:

| Tập thơ | Giai đoạn | Số bài |
|---|---|---|
| Từ ấy | 1937 – 1946 | 72 |
| Việt Bắc | 1947 – 1954 | 26 |
| Gió lộng | 1955 – 1961 | 25 |
| Ra trận | 1962 – 1971 | 35 |
| Máu và hoa | 1972 – 1977 | 13 |
| Một tiếng đờn | 1978 – 1992 | 74 |
| Ta với ta | 1992 – 1999 | — |
Ngoài ra còn tập Một khúc ca xuân (1977), tập thơ dịch Đợi anh về (1998), hồi ký Nhớ lại một thời (2000) và hai tập tiểu luận về văn nghệ: Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (1973), Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (1981). Phần lớn những bài nổi tiếng được tập hợp ở trang thơ của Tố Hữu; tập thơ Gió lộng có bài giới thiệu riêng.
Việt Bắc 1954 và những bài thơ học trò thuộc lòng
Cuối năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Tập Việt Bắc gom những bài thơ viết suốt kháng chiến chống Pháp, trong đó có Bầm ơi, Lượm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới và bài thơ cùng tên viết tháng 10 năm 1954, khi các cơ quan trung ương rời chiến khu về Hà Nội. Tập thơ được giải nhất Giải thưởng Văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Lối đối đáp mình – ta mượn từ ca dao làm nên giọng riêng của bài Việt Bắc:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Sau 1954, thơ ông theo sát từng chặng: Gió lộng viết về miền Bắc xây dựng và miền Nam đấu tranh, Ra trận và Máu và hoa theo suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ với những bài như Bài ca xuân 1961, Bác ơi, Tiếng chổi tre, Việt Nam máu và hoa. Đến Một tiếng đờn và Ta với ta, giọng thơ trầm lại, nhiều suy ngẫm về đời người. Một tiếng đờn được Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1996.
Ông được gọi bằng nhiều danh xưng như “nhà thơ của cách mạng”, “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng”; nguồn gốc các tên gọi ấy được giải thích ở bài Tố Hữu được mệnh danh là gì. Còn sự thống nhất giữa trữ tình và chính trị trong thơ ông được phân tích riêng ở bài phong cách sáng tác của Tố Hữu.
Nhà thơ và chính khách: từ Hội Văn nghệ đến Hội đồng Bộ trưởng
Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế; năm 1946 là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Từ đó, ông gắn với công tác văn nghệ, tuyên huấn rồi bước lên các cương vị cao nhất của Đảng và Nhà nước:
- 1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam.
- 1951 – 1955: Ủy viên dự khuyết, rồi Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- 1952 – 1954: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ, Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền.
- 1958 – 1980: Bí thư Ban Chấp hành Trung ương; nhiều năm phụ trách công tác tuyên huấn, khoa giáo, từng là Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc.
- 1976 – 1986: Ủy viên Bộ Chính trị (dự khuyết từ 1976, chính thức từ 1980).
- 1980 – 1986: Phó Thủ tướng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (từ 1981).
Năm 1986, ông thôi các chức vụ trong chính phủ và được phân công phụ trách công tác tư tưởng, văn hóa. Thời gian nắm công tác văn nghệ, ông cũng là người phê phán quyết liệt nhóm Nhân văn – Giai phẩm năm 1958; đây là phần tiểu sử thường được nhắc tới khi các nhà nghiên cứu nhìn lại văn học miền Bắc giai đoạn ấy.
Thơ Tố Hữu trong sách giáo khoa hiện hành
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Lượm | Ngữ văn 6 Cánh diều, tập 2 – Bài 7 | Soạn bài · Mở bài, kết bài |
| Ta đi tới | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 1 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Nhớ đồng | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1; Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Kính gửi cụ Nguyễn Du | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 7 (đọc kết nối chủ điểm) | Soạn bài |
| Việt Bắc | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 – Bài 4 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Kết bài |
Ở bậc tiểu học, học sinh đã gặp thơ ông qua Tiếng chổi tre, Bầm ơi, Tiếng ru trong sách Tiếng Việt. Nhớ đồng, viết trong nhà lao Thừa Phủ năm 1939, là bài được học ở cả lớp 8 và lớp 11.
Những năm cuối và các danh hiệu
Ông mất lúc 9 giờ 15 phút sáng ngày 9/12/2002 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, an táng ở nghĩa trang Mai Dịch. (Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi ngày 19/12/2002; VnExpress và Wikipedia đều ghi ngày 9/12, bài này theo mốc 9/12.) Trước đó, năm 1994, ông được tặng Huân chương Sao Vàng.
Phu nhân của ông là bà Vũ Thị Thanh, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương. Ngoài chính trường, những năm cuối đời ông vẫn làm thơ: tập Ta với ta khép lại năm 1999, hồi ký Nhớ lại một thời in năm 2000.