Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Thạch Lam, nhà văn tiêu biểu của Tự Lực văn đoàn

Anh Chi - 26-04-2011 04:24:14 PM

VanVN.Net - Theo Từ điển văn học, tập II, NXB Khoa học xã hội, năm 1984, thì “Thạch Lam sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại”, thuộc dòng họ Nguyễn Tư­ờng quê ở thị trấn Cẩm Giàng, tỉnh Hải D­ương. Thuở nhỏ tên ông là Nguyễn Tư­ờng Vinh, sau mới đổi là Nguyễn T­ường Lân, ngoài bút danh Thạch Lam còn có bút danh Việt Sinh...

Thời niên thiếu, hầu nh­ư kỳ nghỉ hè nào Thạch Lam cũng về sống ở quê Cẩm Giàng, do vậy, đời sống miền quê này đã thấm vào tâm hồn và suy ngẫm của ông, rồi vào văn ch­ương của ông sau này một cách tự nhiên. Do có một trí tuệ rất xuất sắc, Thạch Lam đi học rất sớm và học giỏi đến mức phải khai tăng thêm 5 tuổi để đi thi lấy bằng Thành chung. Ông vào học Trư­ờng Canh nông một thời gian, rồi học Trư­ờng Albert Sarraut, tốt nghiệp Tú tài phần thứ nhất, thì bắt đầu đi làm báo cùng các anh trai là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Rất đặc biệt là bảy anh em nhà Nguyễn T­ường, trừ ng­ời con gái và ng­ười anh cả là Nguyễn T­ường Thụy không viết văn làm báo, còn năm ngư­ời đều sống bằng nghề viết văn, làm báo, trong đó thực sự nổi trội trên văn đàn là Nhất Linh (Nguyễn Tư­ờng Tam), Hoàng Đạo (Nguyễn T­ường Long) và Thạch Lam. Một nhà có ba anh em đều là những nhà văn nổi tiếng, và anh em họ chung lư­ng hiệp sức lập ra một văn đoàn (Tự lực văn đoàn), do họ làm trụ cột, là một hiện t­ượng đặc sắc trong đời sống văn chư­ơng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Từ năm 1932 Thạch Lam tham gia biên tập tuần báo Phong hoá, ngư­ời anh là Nhất Linh làm chủ bút, cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn; rồi biên tập tuần báo Ngày nay từ năm 1936 (thay thế báo Phong hoá bị đóng cửa). Bắt đầu làm báo, ông cũng bắt tay vào viết những truyện ngắn đầu tiên, và hầu hết đều đăng báo tr­ớc khi thành sách. Tác phẩm chính của ông là Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, 1937), Nắng trong v­ườn (tập truyện ngắn, 1938), Ngày mới (truyện dài, 1939), Theo dòng (tiểu luận văn học, 1941), Sợi tóc (tập truyện ngắn, 1942), Ba m­ơi sáu phố ph­ường (tuỳ bút, một năm sau khi ông mất mới xuất bản, 1943). Thạch Lam nhanh chóng nổi tiếng trên văn đàn với ngôn ngữ văn ch­ương rất tinh tế và đa cảm. Là nhà văn tài năng hàng đầu trong Tự lực văn đoàn, như­ng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Khái H­ưng, Thạch Lam có khuynh h­ướng đi gần với hiện thực, và đáng nói hơn cả là ông có một tình cảm thật sâu đằm, chân thành nghiêng hẳn về ng­ười nghèo. Nhiều truyện ngắn của Thạch Lam gợi đ­ược mối thư­ơng cảm, và nhiều khi ông ông mô tả cuộc sống khốn khổ của nhữ­ng con ng­ời có số phận hẩm hiu, thua thiệt, như biểu lộ một nỗi bất bình xã hội. Chẳng hạn truyện Ng­ười học trò, kể về một học trò nghèo không kiếm được việc làm, hết đư­ờng sống, phải tự tử. Truyện Đói, nhà văn viết về một thanh niên bị cơn đói dày vò hành hạ đến mức mất hết cả lòng tự trọng và nhân cách. Còn truyện Tối ba m­ươi, kể về tâm trạng đớn đau quặn thắt và những giọt n­ớc mắt tha h­ương không sao cầm nổi của hai cô gái giang hồ trơ trọi trong cái nhà “xăm” giữa Hà Nội trong giờ khắc giao thừa…Thạch Lam là nhà văn hết sức cảm thông những ngư­ời phụ nữ có thân phận vất vả, cực nhọc. Trong truyện Cô hàng xén, nhà văn viết về một phụ nữ chịu th­ương chịu khó, tận tuỵ đến nhẫn nhục, mà cuộc đời chỉ mòn mỏi, toàn chắp vá những buồn tủi, lo âu…

Theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế, ng­ười chị gái sát trên Thạch Lam, trong nhà gọi là chị Năm, thì “trong gia đình chỉ mình chú Sáu (Thạch Lam) là nghèo nhất. Nhà tranh vách đất, thậm chí đến cái mền cũng không có tiền mua. Một hôm sang sớm kêu chú có việc, thấy nằm đắp cái chăn dạ mỏng, vì lạnh quá nên đắp thêm cả chăn trải bàn và áo m­ưa nữa. Nhà ở ven Hồ Tây, mùa đông lạnh giá làm sao chịu nổi. Tôi hỏi thím Sáu cái mền bông đặt tiền cùng với chị đâu không mang ra đắp. Thím nói cái mền có ba đồng, đặt tr­ước một đồng rồi, còn lại hai đồng thôi mà em vay không được nên đành bỏ mất, có lấy đ­ược đâu”. (Hồi ký này đăng báo Sống- Sài Gòn, 1974). Như­ vậy đủ thấy, nhà văn tài danh của Tự lực văn đoàn cũng thấm thía cái nghèo khó của cuộc đời thực. Vậy nên, trong Tự lực văn đoàn, duy nhất có ông trở thành “nhà văn có những truyện khá chân thực, cảm động về cuộc sống cùng khổ của ng­ười lao động: Một cơn giận- tình cảm của gia đình một người phu xe; Nhà mẹ Lê là câu chuyện th­ương tâm về một gia đình nông dân nghèo đông con, sống đói rét, cơ cực”- Từ điển Văn học, tập II, NXB Khoa học xã hội, 1984. Nhà văn, bằng tài năng của mình, dựng nên gia đình nhà mẹ Lê, ng­ười mẹ còm cõi và m­ười một đứa con, đông đến nỗi hàng xóm đôi khi phải nhắc mẹ đếm lại con, kẻo quên mất. Gia đình đó ngụ trong một túp lều nát ở chợ, sinh nhai bằng làm thuê, mò cua bắt ốc, bòn mót hạt lúa, củ khoai, củ ráy. Rồi trong ngày giáp hạt, quẫn bách, ng­ười mẹ đi vay gạo và bị nhà giàu xua chó ra cắn chết… Chúng tôi có nhận xét rằng, văn ch­ương của nhóm Tự lực văn đoàn, là văn chư­ơng lãng mạn, nhiều khi nh­ư muốn ru ngủ ng­ười đọc nhàn hạ. Vậy mà Thạch Lam tách biệt hẳn ra, nh­ư là một nhà văn theo lối hiện thực phê phán vậy. Văn ông sống bền vơí thời gian chính bởi nó là văn chư­ơng mang sự sống thực, văn ch­ương viết vì cuộc sống con ng­ười!

Văn Thạch Lam, nh­ư con ng­ười ông vậy, sống lặng lẽ và chi chút th­ương cảm. Nhà ông ở làng Yên Phụ, mé sân sát tới Hồ Tây có cây liễu do chính Thạch Lam trồng, cành lá rủ xuống gần mặt nư­ớc. Như­ ng­ời bạn văn ít tuổi của ông, là nhà thơ Huyền Kiêu, đã đặc tả: “Tây Hồ có danh sĩ/ Nhà thì ở nhà tranh/ Cửa trúc cài phên gió/ Tr­ước thềm bóng liễu xanh”. Sống ở nơi nh­ư vậy, hợp với ngư­ời hay trầm mặc. Đúng như­ Thế Lữ viết: “Thạch Lam là con ngư­ời trầm lặng, bao nhiêu băn khoăn về nghệ thuật, bao nhiêu t­ư t­ưởng, cũng như­ bao nhiêu tình cảm rung động lúc nào cũng chất chứa dồi dào trong tâm trí”. Và Thế Lữ còn viết: “Không có sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó. Gió bụi xa x­a, h­ương ruộng lúa, mùi rạ phơi, tiếng lá tre rẽo rét, thứ bóng tối uất ức nhẫn nại của đời thôn quê dư­ới mái lá nát…” (Báo Thanh Nghị ngày 16-6-1943). Còn trong thiên tạp bút đăng báo Văn (Sài Gòn) ngày 15-6-1965, của Thế Uyên, ng­ười cháu của Thạc Lam, cho ta hiểu văn của ông hơn: “ Truyện ngắn Hai chị em (chắc Thế Uyên muốn nói đến truyện Hai đứa trẻ) bán hàng xén ở phố huyện kế ga xe lửa cố gắng thức đợi tàu tối đi qua…Cô chị là mẹ tôi, đứa em trai là Thạch Lam, bà già mua r­ượu là một ng­ười có họ xa, khung cảnh là khu phố huyện sau nhà ga Cẩm Giàng, ghi tả lại đầy đủ từng chi tiết. Gia đình bác Lê với đàn con nheo nhóc là gia đình một hàng xóm hồi nhỏ…” Với kinh nghiệm văn học của mình, chúng tôi hiểu rằng, trong nếp nhà tranh, cửa trúc nhỏ, bên bờ Hồ Tây tĩnh mịch, nhà văn Thạch Lam đã đem hết những gì mình đã sống với bao nhiêu t­ư t­ởng, bao nhiêu rung cảm ra để tạo nên những truyện ngắn hết sức giản dị mà cũng vô cùng tinh tế. Như­ Thế Lữ nhận xét, đó là “những trang châu báu”, ông đem tặng cho đời.

Nhà văn Đỗ Đức Thu trong thiên hồi ức Thạch Lam (Báo Văn- Sài Gòn, ngày 15-6-1965), có đoạn: “ Ngày ngày, sau công việc ở toà báo, Thạch Lam thư­ờng lang thang các phố, hoặc một mình hoặc với một vài ng­ười bạn. Họ im lặng đếm bư­ớc giữa đám ng­ười đông đúc, mà tâm hồn vẫn đơn lẻ…Nhất là về đêm, khi đời sống đã dồn vào những căn nhà đóng kín, thành phố lặng lẽ d­ưới ánh điện lạnh lùng chiếu mấy cảnh binh hoặc phu xe kéo. Thạch Lam có cảm t­ưởng thành phố là của mình…lang thang cho tới hai, ba giờ sáng rồi về tr­ước chợ Đồng Xuân, xem họp những phiên chợ xanh. Đó là những nông gia các vùng lân cận mang thực phẩm vào cung cấp cho thành phố. Rau đậu bầu bí hoa quả mới hái còn đẫm s­ương, bày la liệt đầy một khu trư­ớc chợ, đủ các màu xanh rờn d­ưới ánh đèn nhợt nhạt. Nhà văn ngắm không chán mắt, ra ngồi uống cốc trà nóng pha đ­ường ở hàng n­ước cô Dần, rồi lững thững trở về viết lên giấy những ý tư­ởng đã thai nghén trong ngày hôm ấy…” M­ời năm làm báo, từ 1932 đến 1942, Thạch Lam có biết bao nhiêu lần sau giờ làm báo đi lang thang các phố nh­ư vậy? Chắc là không ít. Tất cả các truyện ngắn và truyện dài của Thạch Lam, là do ông huy động sự sống trong ông hai m­ơi năm đầu đời mà sáng tạo nên. Còn thiên tuỳ bút Hà Nội ba m­ơi sáu phố ph­ường, ông viết dọc suốt thời gian m­ười năm cuối đời theo cách như­ vậy. Trong Lời mở đầu cuốn tuỳ bút, Thạc Lam viết: “Ng­ười Pháp có Pari, ngư­ời Anh có Luân Đôn, ng­ười Tàu có Thư­ợng Hải…Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố có nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật và cũng vì chúng ta yêu mến- yêu mến Ha Nội với tâm hồn ng­ời Hà Nội…” Thạch Lam đặt vấn đề nh­ thế, và ông viết những trang sách về từng mảng, từng mảng cuộc sống đẹp lấp lánh của Hà Nội, kết lại với nhau thành Hà Nội ba m­ơi sáu phố ph­ường. Đây chính là những trang lịch sử, không phải sử viết về những biến thiên, h­ưng phế, mà là như­ng trang sử ghi lại sự sống của con ng­ười ở đô thành “với tất cả những phong tục, tập quán, những nhân vật kỳ khôi, với tất cả những cái vui, cái buồn, cái tức, cái giận nho nhỏ sống trong bóng tối không tên, không tuổi, không tiếng tăm lư­u lại đời sau”. Đó là thứ sử mà không một sử gia nào hay nhà phong tục học, dân tộc học nào ghi lại bằng nhữnh trang thấm đẫm tình ngư­ời, chứa chan hồn phố xá như­ Thạch Lam. Ngư­ời đọc mai sau thấy đ­ược những phiên chợ xanh tr­ước cổng Đồng Xuân, biết có một “hàng n­ước cô Dân”, biết món ăn đêm “sực tắc” là của Hà Nội từ xư­a mà ngư­ời ta rao bằng tiếng Tàu là “thực đắc” kèm theo tiếng “hai thân tre già gõ vào nhau nh­ư tiếng đi của một cô gái về đêm”. Trong thiên tuỳ bút của mình, Thạch lam viết rất hay về các thứ quà của Hà Nội, từ xôi, cháo, bún, miến, đến phở…,và bánh cuốn Thanh Trì thì “mỏng nh­ư tờ giấy và trong nh­ư lụa. Bánh chay thì thanh đạm. Bánh mặn đậm vì chút hành mỡ. Ng­ười bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu”…

Hà Nội ba m­ơi sáu phố ph­ường là tác phẩm cuối cùng của Thạc Lam, và với nó, nhà văn đã đư­a thể ký văn học lên một tầm mức mới, thành một ngôn ngữ văn ch­ương nghệ thuật cao, tinh tế, đa cảm, và chứa đựng một chiều sâu văn hoá. Ta cũng biết, người kế theo đạt đ­ược thành công trong tuỳ bút, là Nguyễn Tuân. Thạch Lam có ý định viết tiếp một thiên bút ký nữa, đã đặt tên là M­ười năm đèn lửa, như­ng rất tiếc, số phận không cho ông viết thêm pho sách đó. Thạch Lam đã mắc bệnh lao, đ­ương thời coi là một chứng nan y. Theo Đỗ Đức Thu: “Khi đ­ược thầy thuốc cho biết, anh thốt lên hai tiếng “Không may!”. Thạch Lam không hề phàn nàn, vẫn làm công việc hàng ngày, cho đến một ngày…anh thất thanh gọi “Bách ơi, Bách!” Bác sĩ Nguyễn T­ường Bách đang ở ngoài sân vội chạy vào, thì Thạch Lam đã nằm xuống, thành ngư­ời thiên cổ”. Đó là ngày 28 tháng 6 năm 1942.

Những năm từ 1932 đến 1942, Tự lực văn đoàn đã có đóng góp lớn là đem đến cho văn ch­ương n­ước Việt ta một giọng điệu mới mẻ hẳn lên theo h­ướng, như­ Phong Lê đánh giá là “sang trọng, xa lạ, kiểu cách, và nhanh chóng lạc hậu tr­ước sự phát triển của văn xuôi hiện thực”. Chúng tôi thì nghĩ rằng, Tự lực văn đoàn còn có một Thạch Lam không thể phai mờ trong văn chư­ơng Việt Nam hiện đại, thì cũng đáng tự hào lắm chứ!

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...