Từ đời vào văn

27/9
2:47 PM 2016

THAM LUẬN HỘI NGHỊ NHÀ VĂN TRẺ: NHỮNG KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI NGƯỜI VIẾT VĂN XUÔI TRẺ DTTS Ở CAO BẰNG TRONG NHỊP SỐNG HIỆN ĐẠI

NÔNG QUỐC LẬP - Theo nghiên cứu của nhà văn Hữu Tiến thì “ở Cao Bằng khoảng 80% các tác giả viết văn xuôi là người dân tộc Tày. Những người viết chủ yếu lấy Tiếng Việt làm ngôn ngữ biểu đạt cho các sáng tác của mình.

                                                       Ảnh minh họa (nguồn:Internet)

Song Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ, vì vậy người viết cần phải vượt qua cửa ải ngôn ngữ mới nghĩ đến việc sáng tác. Về lĩnh vực ngôn ngữ nếu các tác giả người Kinh cố gắng một thì các tác giả là người dân tộc phải cố gắng mười”.

Thật vậy, đối với người dân tộc học Tiếng Việt cũng không khác gì học một môn ngoại ngữ. Những năm học từ khi học tiểu học cho đến những năm học phổ thông, lớp người độ tuổi chúng tôi giờ học nói tiếng phổ thông, lúc ra chơi, giờ tập thể dục hay những buổi dã ngoại, khi ở nhà đều sử dụng ngôn ngữ Tày, Nùng làm phương tiện giao tiếp chính. Chuyện thầy cô giáo người miền xuôi lên dạy học, nhất là các thầy cô giáo dạy lớp một, lớp hai gặp không ít khó khăn khi lên lớp, bởi khi đứng trên bục giảng thầy cô không chỉ dạy Tiếng Việt mà còn phải biết chuyển ngữ để học trò dể hiểu và tiếp thu.

Sáng tạo tác phẩm là việc đánh vật với những con chữ, sáng tạo ngôn ngữ, một việc nhọc nhằn đầy vất vả gian truân. Hồi học đại học, tôi đã sáng tác những tác phẩm đầu tay, trước khi cầm bản thảo viết tay, đạp xe đạp đưa đến tòa soạn một số tờ báo tôi đã đưa cho bạn bè đọc. Bạn tôi nói “ông viết khá, nhưng ông cần viết dựa trên tư duy và suy nghĩ của dân tộc ông. Ông không nên viết bằng tư duy người Kinh, ông sẽ không thành công”. Sau này khi được gặp nhà thơ Y Phương, nhà văn Cao Duy Sơn, hai tác giả thành danh, được nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, được đọc tác phẩm của hai người con đất Co Xầu, tôi mới thấy lời nhận xét của bạn rất đúng.

Biết rõ như vậy nhưng thể hiện ý tưởng, tư duy của mình ra trên giấy là một việc không dễ, nhất là việc biểu đạt dùng ngôn ngữ Tiếng Việt. Hơn nữa người viết trẻ cần phải viết khác so với lớp nhà văn tiền bối. Tự mở lối đi cho riêng mình, con đường lắm chông gai. Đến nay tôi đã ra được một số đầu sách, một số tác phẩm được in trên các báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương, nhưng mỗi khi đọc lại tôi đều chưa thấy hài lòng với chính mình. Nhiều khi thấy nản lòng không muốn tiếp tục sáng tạo, bởi những nguyên nhân:

Thứ nhất, khi hoàn thành tác phẩm, chỉnh sửa xong gửi in ở các tờ báo, tạp chí văn nghệ ở Trung ương, các tác giả ở xa không có điều kiện trao đổi trực tiếp với các nhà văn làm công tác biên tập ở tòa soạn, không biết “đứa con tinh thần” của mình có những khiếm khuyết nào cần phải chỉnh sửa ra sao để có thể cho ra mắt độc giả? Về tác phẩm in trên các báo, tạp chí chuyên sâu về văn nghệ như báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, Văn nghệ công an… theo cảm quan của tôi thì tác phẩm của các tác giả dân tộc thiểu số tần suất xuất hiện có phần lép vế rất nhiều so với các tác giả là người Kinh. Có thể việc không quen biết, việc ở xa không có điều kiện trao đổi, gặp gỡ trực tiếp với người biên tập ảnh hưởng đến việc in ấn tác phẩm chăng? Hay tác phẩm viết chưa đạt chất lượng để có thể in? Nếu được trao đổi trực tiếp, tác giả tự chỉnh sửa, viết lại theo một hướng mới để tác phẩm mang tầm vóc mới, có thể chuyển tải trên mặt báo.

Hiện nay những người viết văn trẻ ở Cao Bằng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Họ viết khá đa dạng, tập trung hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ những hủ tục lạc hậu đến tiêu cực trong xã hội. Lớp người viết trẻ có lợi thế thành thạo công nghệ thông tin so với lớp người viết trước, do đó họ hiểu rõ truyền thống và hiện đại hơn. Nhiều người viết đã không ngừng cố gắng để vượt qua chính mình. Song chưa đạt được kết quả như mong muốn. Là một người viết trẻ (dù tuổi đời không còn trẻ), chúng tôi thường xuyên tìm đọc những truyện ngắn của những người dân tộc thiểu số, những tác giả người Kinh viết về vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Đọc tác phẩm của họ chúng tôi có cảm giác như họ viết ở một giai đoạn nào đó của thế kỷ trước, chứ không phải viết về xã hội hiện tại. Miền quê tôi là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài Tày, Nùng còn có các dân tộc H’mông, Dao, Lô Lô…, nhưng chúng tôi thấy cuộc sống, nếp nghĩ, cách làm của họ đã tiến bộ rất nhiều. Đành rằng ở đâu đó vẫn còn những tập tục lạc hậu, nhưng đó không phải là chuyện phổ biến, điển hình. Song nếu viết về sự đổi thay của cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số thì nó lại quá phổ biến và không lạ do đó tác phẩm khó in?

Thứ hai, đối với việc in sách, ngày nay việc in sách thuận lợi hơn trước rất nhiều. Có đủ tác phẩm là có thể ra sách, in bằng tiền túi, bằng tiền tài trợ hằng năm của hội địa phương, Trung ương. Song sách in ra chất đống ở góc nhà, sách chủ yếu để biếu thư viện, tặng các bạn thơ văn là chính. Những nhà văn sinh sống và sáng tác ở Cao Bằng khi ra tập truyện ngắn, tiểu thuyết… gần như không bán được sách. Các tác giả đã thành danh sách in ra còn không bán được, những người viết trẻ như chúng tôi, bản thân sinh sống ở miền biên giới xa xôi, dù có bản thảo có thể in sách nhưng với cái tên xa lạ thì liệu có nhà xuất bản, nhà sách nào dám bỏ tiền ra để in ấn tác phẩm? Vậy là các tác giả in sách bằng nguồn tài trợ hằng năm của hội địa phương, Hội Văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam… Những cuốn sách được tặng, tác giả chỉ mong người được tặng dành chút ít thời gian để đọc, nhưng không phải ai được tặng cũng dành thời gian đọc. Nhìn những quyển sách còn nguyên trên giá, hoặc những quyển sách được tặng bị đem nhóm bếp mà người viết ra nó vô tình nhìn thấy, biết được không khỏi xót xa. Việc quảng bá, tổ chức buổi lễ ra mắt, ký tặng tác phẩm đối với tác giả dân tộc thiểu số sinh sống ở tỉnh lẻ là một chuyện mơ ước, xa vời. Tác giả không thể tự tổ chức bởi người viết văn không có kinh phí để thực hiện.

Thứ ba công việc sáng tạo là việc âm thầm lặng lẽ, vất vả, nhọc nhằn không ai biết và dễ cảm thông. Bản thân tôi là người sinh sống ở làng quê, huyện biên giới xa xôi, hội văn nghệ địa phương quan tâm, tạo điều kiện cho đi dự trại sáng tác, in ấn tác phẩm trên tạp chí. Nhưng tạp chí in với số lượng khiêm tốn, phát hành khá hạn hẹp nên không có nhiều người biết đến. Ở làng bản tôi đang sống không có người nào biết tôi đang tập tẹ viết văn, họ càng không hiểu khái niệm nhà văn là như thế nào. Câu cửa miệng của họ nói ra khi gặp chúng tôi “nhà văn nói láo, nhà báo nói phét”, họ bảo ông viết văn chắc tán gái giỏi lắm nhỉ? Trong suy nghĩ của họ là người viết văn chỉ được cái giỏi tán gái và nói láo.

Cán bộ lãnh đạo xã chỉ quan tâm đến chuyện thu nhập, chuyện cơ cấu cán bộ, chẳng cần quan tâm đến sách báo, văn chương. Họ chỉ quan tâm đến tiền bạc, không cần quan tâm đến chuyện đời sống văn hóa, khi họ nghe được khái niệm đứt gãy văn hóa dẫn đến chuyện suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống thì tỏ ra rất đỗi ngạc nhiên, xa lạ, xem nó đang ở đâu đó rất xa còn lâu mới đến với họ. Báo chí cấp phát về địa phương họ còn để chất đống không đọc thì làm sao họ bỏ tiền ra mua tác phẩm văn chương? Tờ tạp chí của tỉnh được gửi về các xã, nhưng chẳng mấy người quan tâm để ý. May mắn có người nhòm ngó tới, lôi ra nhưng họ chỉ lướt qua chứ không đọc vì… không có thời gian và quá dài. Trong khi đó họ lại có thời gian lướt web, vào mạng xem phim trực tuyến!

Không chỉ có cán bộ cơ sở không quan tâm đến đời sống văn học nghệ thuật trong tỉnh mà ngay cả một số cán bộ đang công tác ở các sở ngành cũng không biết đến đời sống văn học nghệ thuật ở địa phương mình. Một số người còn hỏi “nhà văn họ làm những công việc gì?”, hay Hội văn học nghệ thuật nằm dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Sở văn hóa, thể thao và du lịch… Xem ra cái gọi là “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” không được quan tâm coi trọng. Vật chất quyết định ý thức, văn hóa dường như luôn đi sau kinh tế, bị kinh tế chi phối.

Văn hóa đọc ngày càng xuống cấp, những người viết văn, sách của họ in ra chỉ mong có người đọc. Nhưng số người đam mê đọc những tác phẩm văn chương hiện không còn được mấy người. Tác phẩm chưa thật sự hay không thu hút được người đọc cũng là một nguyên nhân. Song cuộc sống hiện đại ngày nay có quá nhiều yếu tố tác động đến việc suy giảm đáng kể độc giả tham gia đọc sách, báo. Đề cao giá trị kinh tế, tiền bạc, xem nhẹ văn hóa, những người viết văn trẻ càng hiếm. Bởi ngay từ khi còn ngồi trên ghế phổ thông trung học họ đã định hướng đi vào các trường có thể kiếm được nhiều tiền, dễ xin việc sau này.

Những người ngoại đạo không biết đến đời sống văn chương của tỉnh nhà đã đành, những người trong giới văn chương cũng không mấy quan tâm đến thực trạng, tình hình sáng tạo văn học tại địa phương. Nhiều người khi họp hội văn nghệ vẫn hỏi “ông ra mấy đầu sách rồi?”. Có người còn ngạc nhiên thốt lên “ông đã ra bằng này đầu sách rồi á?”. Có không ít trong số họ đã được tác giả ký tặng sách. Đây là một thực trạng đáng buồn. Một số nhà văn tiền bối có tâm huyết với văn học nghệ thuật địa phương khi nghe được những câu hỏi đầy ngạc nhiên đã phải thốt lên “trong giới cầm bút với nhau còn không biết, không quan tâm đến chuyện bếp núc của nhau thì đừng mong được người ngoài, độc giả biết đến mình”.

Cũng cần phải nói thêm rằng việc quan tâm, bồi dưỡng nhằm tìm ra những người trẻ có năng khiếu văn chương, gợi mở, cho con đường văn chương của họ cũng chưa được hội văn nghệ địa phương quan tâm đúng mức, khiến cho người viết cảm thấy lẻ loi trên con đường lắm chông gai, chắc trở. Nhiều năm qua ở hội địa phương chúng tôi không mở được các trại sáng tác nào dành cho những người có khiếu văn học nghệ thuật dành cho tuổi teen, những người viết trẻ, việc này có thể bỏ xót, không phát hiện được cây viết trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường. Những người trẻ tuổi họ có cái nhìn mới mẻ, trong sáng về nhịp sống hiện đại. Chúng tôi đã được đọc những trang viết của một số em học sinh giỏi văn, những trang viết của các em chưa thể gọi là tác phẩm văn chương, nhưng nếu được những nhà văn có kinh nghiệm góp ý, gợi mở vấn đề nhất định họ có thể viết tốt hơn.

Tham dự hội nghị lần này, mong muốn của tôi là các nhà văn, các tờ báo, tạp chí văn nghệ ở Trung ương cần quan tâm đến sáng tác của các tác giả người dân tộc thiểu số hơn nữa. Tạo điều kiện để tăng cường, giao lưu giữa người viết văn xuôi dân tộc thiểu số với các tác giả người Kinh và các nhà văn tiền bối thành danh thông qua các hội nghị, trại sáng tác văn học nhằm nâng cao kỹ năng sáng tạo cho những người viết trẻ.

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *