Tìm tòi thể nghiệm

27/8
9:10 AM 2018

ĐÊM THƠ-NHẠC-KỊCH LƯU QUANG VŨ-XUÂN QUỲNH

Tối 26/8, tại Nhà hát lớn Hà Nội đã diễn ra đêm thơ- nhạc- kịch kỷ niệm 30 năm ngày mất hai nhà thơ Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh và cháu Lưu Quỳnh Thơ với sự có mặt của ông Võ Văn Thưởng UVBCT, Trưởng ban Tuyên giáo TƯ, lãnh đạo một số bộ ngành; nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn VN, nhà thơ Trần Đăng Khóa, Phó Chủ tịch HNV cùng các nhà văn, nhà thơ, bạn hữu và độc giả yêu mến 2 nhà thơ. VANVN.NET giới thiệu bài viết về thơ Xuân Quỳnh của nhà phê bình Phạm Khải.

     

NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH: CẢ TRONG MƠ CÒN THỨC

PHẠM KHẢI

Trước Cách mạng, nhắc tới những đại diện tiêu biểu ở mảng thơ tình, thường người ta vẫn kể tên hai thi nhân Xuân Diệu và Nguyễn Bính. Sau này, bên cạnh tên tuổi Xuân Diệu, người ta nhắc tới Xuân Quỳnh. Vẫn biết, ngoài hai tác giả nói trên, ở ta còn không ít người làm thơ tình hay, song về cơ bản, ai nấy đều thừa nhận Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai tiếng thơ có sức chinh phục đông đảo bạn đọc.

Cả Xuân Diệu và Xuân Quỳnh đều giống nhau ở giọng thơ nồng nàn, da diết và đều có chung tâm trạng lo lắng, cuống quít như thể tình yêu chỉ là một thứ bong bóng mong manh dễ vỡ. Năm 1962, Xuân Diệu có bài “Biển”. Một năm sau, Xuân Quỳnh cũng lại có “Thuyền và biển”. Đó là hai bài thơ tình thuộc loại nổi tiếng nhất của hai người. Chúng có cấu tứ tương đối giống nhau. Trong bài thơ của mình, Xuân Diệu ví người con trai như biển, người con gái là bờ, còn Xuân Quỳnh thì ngược lại: “Những đêm trăng hiền từ/ Biển như cô gái nhỏ/ Thầm thì gửi tâm tư/ Quanh mạn thuyền sóng vỗ”. Bài thơ của Xuân Diệu có chỗ gào thét, trào dâng nhục cảm: “Cũng có khi ào ạt/ Như nghiến nát bờ em/ Là lúc triều yêu mến/ Ngập bến của ngày đêm”. Xuân Quỳnh cũng đề cập tới chuyện này, nhưng là phụ nữ, chị kín đáo hơn: “Cũng có khi vô cớ/ Biển ào ạt xô thuyền/ (Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên)”.

Thật khó so sánh cái hơn, cái kém giữa hai bài thơ. Xuân Diệu kết thúc bài “Biển” bằng một hình ảnh có sức bung phá, rất tạo ấn tượng: “Để những khi bọt tung trắng xóa/ Và gió về bay tỏa nơi nơi/ Như hôn mãi ngàn năm không thỏa”, kèm đó là một tiếng kêu thống thiết: “Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi”. Xuân Quỳnh không biểu lộ tình cảm bộc trực như vậy. Chị không dùng chữ “yêu” nhưng các hình ảnh nhắc tới ở phần kết bài vẫn đủ giúp chị gửi đi thông điệp tình yêu của mình: “Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ/ Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió/ Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bão tố”. Cái hay ở đây là Xuân Quỳnh có cách liên tưởng vừa giàu biểu cảm vừa đảm bảo yếu tố khoa học. “Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau rạn vỡ”. Những ai theo nghề đi biển hẳn sẽ thấm thía cái hiện thực này: Khi thuyền phải nán lại trên bờ, không được “ăn muối”, ngâm nước, lại phơi mình trước nắng gió, nó rất dễ bị nứt nẻ. “Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió”. Đúng vậy, người đi thuyền chỉ ngừng ra khơi trong những ngày biển động. Còn nói “Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bão tố” thì cách nói ấy không chỉ đúng với qui luật tình cảm mà còn đúng với qui luật tự nhiên: Hầu hết mọi cơn bão đều bắt đầu được hình thành từ biển.

Sau “Thuyền và biển”, như chưa thỏa với những gì mình muốn gửi gắm, Xuân Quỳnh viết tiếp bài “Sóng”. Cùng thể thơ ngũ ngôn, bài này khá giống “Thuyền và biển” ở cả giọng điệu lẫn cấu tứ. Bài thơ hẳn sẽ có vị trí riêng trong sự nghiệp thơ của Xuân Quỳnh nếu nó không làm người đọc nhớ tới “Thuyền và biển” (có cảm tưởng như “Sóng” là một nhánh phụ của “Thuyền và biển”). Đã có lúc tôi chợt nghĩ: Giá như tác giả dồn hai bài làm một, biết đâu chị sẽ có một thi phẩm qui mô và đặc sắc hơn?

Vẫn như ở “Thuyền và biển”, trong bài “Sóng”, Xuân Quỳnh không nhận mình là bờ. “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”. Nghĩa là trong tình yêu, chị sẵn sàng ở thế chủ động. Đây là một nét đáng quý của người phụ nữ thời đại mới. Người phụ nữ đó dám “rủ” người mình yêu: “Anh có đi cùng em/ Đến những miền đất lạ…” (bài “Mùa hoa doi”), biết nhắc người mình thương: “Sao không cài khuy áo lại anh/ Trời lạnh đấy, hôm nay trời trở rét” (bài “Trời trở rét”) và biết “dọa” người mình đang “kết”: “Nếu đời anh đã xếp thành ngăn/ Em sẽ đảo tung lề thói cũ/ Điều đơn giản anh hiểu ra tất cả/ Rằng tình yêu không thể tách rời/ Khi ấy em là cơ thể anh rồi/ Nếu cắt đi anh sẽ ngàn lần đau đớn” (bài “Thơ viết cho mình và những người con gái khác”). Yêu thơ Xuân Quỳnh, trước nhất là chúng ta yêu một con người, một con người có tâm hồn đa cảm, giàu nghị lực và luôn cháy bỏng khát vọng yêu thương...

Một nhà văn phương Tây có nói đại ý: “Nếu một người nào đó không có cái gì là của riêng mình thì có nghĩa là họ không có một cái gì hết”. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thấy hầu như tác giả luôn viết cho một đối tượng cụ thể (chứ không phải cho “số đông” chung chung nào đó). Bởi có đối tượng cụ thể để mà giãi bày, để mà “trút bầu tâm sự” nên giọng thơ Xuân Quỳnh thường thủ thỉ tâm tình chứ không… lên gân. Nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ nhận xét: “Đọc thơ Xuân Quỳnh, người ta không có cảm giác tác giả “cố ý” làm thơ”. Nhiều người cũng có chung ý nghĩ như vậy. Nếu như ngoài đời, Xuân Quỳnh thường hay dị ứng, giễu cợt sự “long trọng hóa” vấn đề thì trong việc làm thơ, chị cũng không mấy quan tâm tới những đề tài được xem là “lớn” nhưng xa lạ với thế giới nội tâm của mình. Thơ Xuân Quỳnh đi vào những đề tài hẹp nhưng có tính “muôn thuở”. Số phận đưa đẩy Xuân Quỳnh có một đời sống riêng rất dích dắc. Người chồng sau của chị - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ - kém chị tới 6 tuổi, từng có một đời vợ và có con riêng. Vậy là có lúc, trong nhà Xuân Quỳnh đủ cả “con anh, con tôi và con chúng ta”. Bằng trái tim nhân hậu, trĩu nặng yêu thương, Xuân Quỳnh đã bứt lên hoàn cảnh, giải quyết ổn thỏa mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu, quan hệ mẹ kế con chồng, thậm chí còn đưa được những tình cảm ấy vào thơ (vốn dĩ, đây là những chủ đề nhạy cảm, khó nói - ca dao xưa từng viết: “Mấy đời bánh đúc có xương/ Mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng”). Các bài “Mẹ của anh”, “Cắt nghĩa” đã xóa đi mặc cảm (và ác cảm) của bao người tự bao đời về các bà mẹ chồng, mẹ ghẻ. Không những vậy, trong kho tàng thi ca Việt Nam, có thể xem “Mẹ của anh” là bài thơ hay hiếm hoi về chủ đề mẹ chồng - nàng dâu.

Là người dám sống hết mình cho tình yêu, Xuân Quỳnh đồng thời cũng là người rất biết vun vén cho hạnh phúc gia đình. Có điều gì đó hơi mâu thuẫn ở người đàn bà này? Thông minh mà thật thà, hồn nhiên và sâu sắc. Đúng là “trái tim có mắt”, đọc thơ Xuân Quỳnh, bạn đọc luôn sửng sốt trước cách thể hiện tình cảm hết sức bất ngờ và giàu cảm xúc của chị:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

(bài “Sóng”)

Chắt chiu từ những ngày xưa

Mẹ sinh anh để bây giờ cho em

(bài “Mẹ của anh”)

Con thức ban ngày, mẹ che chở cho con

Khi con mơ mẹ làm sao che chở

Trong giấc mơ chỉ mình con bé nhỏ

Chỉ mình con chống chọi với quân thù

(bài “Dải đất thuộc về tôi”).

Đó là những câu thơ không cần trang sức của ngôn từ. Nó được diễn đạt một cách trụi trần và đi thẳng tới trái tim người đọc. Nhà thơ Vũ Quần Phương từng nêu nhận xét: “Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề”. Theo tôi, cũng có khi cái tứ ấy được tác giả gói lại trong một bài thơ dài, nhưng cũng không hiếm khi chỉ vài ba câu thơ như trên đã đủ dệt thành một tứ thơ nho nhỏ. Thế mới có chuyện, đọc mấy câu sau đây của Xuân Quỳnh (bài “Em có đem gì theo đâu” viết về những ngày Hà Nội gồng mình chống lại bom đạn Mỹ): “Em có đem gì theo đâu/ Em để lại cho anh tất cả/ Thành phố tuổi thơ gạch vỉa hè đã cũ/ Thành phố tuổi thanh niên hầm hố mới đào/ Còi báo động len vào từng ngõ nhỏ/ Phút lặng im trên các nóc nhà cao/ Người thủ đô gặp nhau ít hỏi chào/ Nhưng ai đó cũng đều quen cả/ Với người này từng xếp hàng mua cá/ Với người kia cãi vã lúc đâm xe…”, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã phải chép miệng than tiếc rằng mình không biết làm thơ. Bởi chỉ một đoạn ngắn ấy thôi mà “nói” được những điều cả cuốn tiểu thuyết dày chưa chắc nói được.

Đọc thơ Xuân Quỳnh, ai cũng thấy chị là người cả nghĩ. Và điều chị nghĩ nhiều nhất, xoáy sâu nhất vẫn là về lẽ sống, về tình yêu, hạnh phúc và ý nghĩa của đời người. Ngay từ trẻ chị đã vậy: “Trước muôn trùng sóng bể/ Em nghĩ về anh; em/ Em nghĩ về biển lớn/ Từ nơi nào sóng lên” (bài “Sóng”); mà đến khi có tuổi rồi, chị vẫn không thôi trăn trở: “Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn/ Hôm nay yêu mai có thể xa rồi/ Niềm đau đớn tưởng như vô tận/ Bỗng có ngày thay thế một niềm vui” (bài “Nói cùng anh”). Chính sự cả nghĩ ấy, cộng cách diễn đạt rõ ý, rõ tứ và khuynh hướng sáng tác luôn gắn với đời thường đã giúp cho thơ Xuân Quỳnh có được một sự gần gũi, thiết thực với đông đảo bạn đọc, nhất là những bạn đọc nữ ít nhiều có sự trải nghiệm trong cuộc sống gia đình. Đây là một đóng góp nổi trội của Xuân Quỳnh so với các nữ đồng nghiệp cùng thế hệ. Tất nhiên, cái gì cũng có hai mặt: Bởi quá nệ vào hiện thực (có người nhận xét: qua thơ Xuân Quỳnh có thể biết được nhiều chuyện riêng của đời chị), lại chăm chút nhiều hơn cho việc lập tứ, Xuân Quỳnh có lúc gần như quên bẵng việc kỳ ảo hóa câu chữ cũng như ít chú ý tạo sức “bay” cho giai điệu của bài thơ. Điều này dẫn tới việc: Bên cạnh những bài thơ ấn tượng và lôi cuốn cả về ý tưởng lẫn giai điệu, tạo nên được một hiệu ứng cảm xúc trẻ trung, khoáng đạt nơi người đọc (như “Thuyền và biển”, “Sóng”, “Hoa cỏ may”), những bài thâm thúy lẽ đời và chan chứa tình yêu thương (như “Mẹ của anh”, “Bàn tay em”, “Con yêu mẹ”, “Thời gian trắng”), Xuân Quỳnh cũng còn không ít bài luẩn quẩn về đề tài, lụn vụn trong triết lý và mạch thơ thì khá…dềnh dang (thậm chí có chỗ còn…hụt hơi). Đọc những câu “Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc/ Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa/ Chi chút thời gian từng phút từng giờ/ Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt/ Tôi biết chắc mùa xuân rồi sẽ hết/ Hôm nay non mai cỏ sẽ già/ Tôi đã đi mấy chặng đường xa/ Vượt mấy núi mấy rừng qua mấy biển/ Niềm mơ ước gửi vào trang viết/ Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư” (bài “Có một thời như thế”), ta thấy cái cách viết nặng về kể lể rườm rà như thế này xuất hiện khá nhiều trong thơ Xuân Quỳnh, nó khiến bài thơ rơi vào tình cảnh không…nhạt nhưng mà…tẻ.

Mặc dù đã được bù đắp bằng một số thành công cụ thể, song nhìn tổng thể thì cách làm thơ thiên về… nghĩ và nặng về… ý cũng khiến một nữ tác giả mạnh về cảm hứng đời sống hơn là cảm hứng sách vở như Xuân Quỳnh gặp phải không ít khó khăn (có lẽ loại thơ này chỉ thật thích hợp với những tạng người như Chế Lan Viên, một nhà thơ sắc sảo, uyên bác, ưa suy luận và sự suy luận ấy luôn được hỗ trợ bởi một trí tưởng tượng siêu phàm). Thơ Xuân Quỳnh thường dài, lại nặng về ý nên đây đó đã có hiện tượng lặp ý, thậm chí có chỗ chồng ý, khiến tứ thơ ít nhiều bị phân tán. Bài “Thơ tình cuối mùa thu” là một ví dụ. Tác giả có cách mở bài rất gợi: “Cuối trời mây trắng bay/ Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/ Mùa thu đi cùng lá/ Mùa thu ra biển cả/ Theo dòng nước mênh mang/ Mùa thu vào hoa cúc/ Chỉ còn anh và em”. Nói “Mùa thu đi cùng lá” là một cách nói hay, vừa gọn vừa gợi. Cũng vậy, “Mùa thu vào hoa cúc”, để lại bên lề đời “Chỉ còn anh và em” - một đôi tình nhân tự thấy mình đã trưởng thành lên nhiều sau bao thăng trầm, trải nghiệm - những câu thơ như thế này dễ làm xao động trái tim của những người đứng tuổi còn nặng lòng yêu. Vậy mà thật tiếc khi ở khổ thơ gần kết bài, tác giả lại thả xuống những câu mòn sáo, vô vị: “Thời gian như là gió/ Mùa đi cùng tháng năm/ Tuổi theo mùa đi mãi/ Chỉ còn anh và em”. Không chỉ có sự trùng lặp về ý so với đoạn mở bài, mà cách diễn đạt cũng lộn xộn, tối nghĩa. Đã viết “Mùa thu đi cùng lá” rồi còn viết “Mùa đi cùng tháng năm” làm gì nữa. Vả chăng, nói mùa thu đi qua cũng có nghĩa là nói năm tháng đi qua, vậy nói “Mùa đi cùng tháng năm” là… thừa. “Tuổi theo mùa đi mãi” cũng là một cách viết…lười. “Thơ tình cuối mùa thu” đáng ra có thể trở thành một thi phẩm hay, rất tiếc là ở hai khổ thơ cuối, tác giả đã tỏ ra đuối sức, hụt hơi…Thật ra, việc dựng nên một bài thơ từ dày đặc các ý nghĩ là một việc làm “liều lĩnh”, bởi để có được những ý nghĩ kết nối với nhau một cách lôgíc, lại mới mẻ, độc đáo đâu phải dễ. La Bruyère - nhà thơ Pháp thế kỷ XVII chẳng đã phải thốt lên: “Tất cả đã được nói hết rồi, và chúng ta đến quá muộn. Từ 4000 năm nay đã có những con người, và họ suy nghĩ”.

Ở trên tôi đã nhắc tới trường hợp Chế Lan Viên. Điều thú vị là - theo như “bật mí” của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn (sách “Cây bút, đời người”, NXB Trẻ, 2002) - mặc dù được xem là “người tiếp tục giọng thơ Xuân Diệu”, song trong việc làm thơ, Xuân Quỳnh tìm tòi học hỏi nhiều ở Chế Lan Viên chứ không phải ở Xuân Diệu. Kể thì việc này cũng đễ hiểu. Thơ Chế Lan Viên mạnh về ý, về tứ. Nếu ai nghiên cứu kỹ quá trình Chế Lan Viên hoàn thiện “Di cảo thơ”, hẳn sẽ nhận thấy cách thức của ông như sau: Khi trong đầu nảy ra những ý hay, ông tạm ghi ra giấy, rồi trên cái nền đó, ông xoay xỏa tìm cách dồn chúng vào một khuôn thơ nào đó, cốt sao vừa có vần có điệu vừa giữ được cơ bản ý thơ. Xuân Quỳnh cũng làm thơ theo qui trình này. Chị từng thổ lộ với Vương Trí Nhàn: “Lúc viết những dòng này, tôi như người phát cuồng. Cứ phải ghi bằng hết những ý nghĩ đang ào ào kéo đến trong đầu không cần vần vèo gì vội. Còn sắp xếp lại, đặt vần, tôi làm sau, việc ấy đơn giản hơn”. 

Thơ trọng ý, trọng tứ là thứ thơ ít bị hư hao, “thất thoát” khi chuyển sang một ngôn ngữ khác. Trong quá khứ, thơ Xuân Quỳnh từng được dịch in ở Nga, Đức, Pháp…Thiết nghĩ, với những câu: “Con thức ban ngày, mẹ che chở cho con/ Khi con mơ mẹ làm sao che chở” thì dịch thế nào cũng vẫn gây được xúc động nơi người đọc. Thậm chí, với một bài được viết bằng thể thơ lục bát thấm đẫm hồn cốt dân tộc như “Mẹ của anh” thì những ý thơ hay như “Bây giờ tóc mẹ trắng phau/ Để cho mái tóc trên đầu anh đen”, qua bản dịch vẫn đủ sức chinh phục người đọc. Đó là cái hay được gây dựng từ sự đối lập của hai mái tóc đen, trắng. Lẽ nào, độc giả Việt Nam từng yêu thích câu thơ của thi sĩ Pháp Louis Aragon “Đêm hết đen thì tóc bạc trên đầu” mà độc giả Pháp lại không yêu thích câu thơ nói trên của nữ thi sĩ Việt Nam Xuân Quỳnh?

 

                                                                          28-8-2012

 

THUYỀN VÀ BIỂN

 

Em sẽ kể anh nghe

Chuyện con thuyền và biển:

 

“Từ ngày nào chẳng biết

Thuyền nghe lời biển khơi

Cánh hải âu, sóng biếc

Đưa thuyền đi muôn nơi.

 

Lòng thuyền nhiều khát vọng

Và tình biển bao la

Thuyền đi hoài không mỏi

Biển vẫn xa…còn xa.

 

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Thầm thì gửi tâm tư

Quanh mạn thuyền sóng vỗ.

 

Cũng có khi vô cớ

Biển ào ạt xô thuyền

(Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên?)

 

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu, về đâu.

 

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

 

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau - rạn vỡ.

 

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió.

 

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố.

 

                             4-1963

 

 

SÓNG

 

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

 

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.

 

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

 

- Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau.

 

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được.

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.

 

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh - một phương.

 

Ở ngoài kia đại dương

Trăm nghìn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở.

 

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa.

 

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.

 

     Biển Diêm Điền, 29-12-1967 

 

 

MẸ CỦA ANH

 

Phải đâu mẹ của riêng anh

Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi

Mẹ tuy không đẻ không nuôi

Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong

Ngày xưa má mẹ cũng hồng

Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau

Bây giờ tóc mẹ trắng phau

Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Đâu con dốc nắng đường quen

Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần

Thương anh thương cả bước chân

Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao

Lời ru mẹ hát thuở nào

Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh:

Nào là hoa bưởi hoa chanh

Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca

Đi về dối mẹ để mà yêu nhau

Mẹ không ghét bỏ em đâu

Yêu anh em đã là dâu trong nhà

Em xin hát tiếp lời ca

Ru anh sau mỗi âu lo nhọc nhằn

Hát tình yêu của chúng mình

Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng

Giữa ngàn hoa cỏ núi sông

Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ

Chắt chiu từ những ngày xưa

Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.

 

 

BÀN TAY EM

 

Gia tài em chỉ có bàn tay

Em trao tặng cho anh từ ngày ấy

Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy

Quá khứ dài là mái tóc em đen

Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em

Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng

Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng

Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay?

 

Bàn tay em ngón chẳng thon dài

Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả

Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ

Hái rau rền rau rệu nấu canh

Tập vá may, tết tóc một mình

Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ.

 

Đường tít tắp không gian như bể

Anh chờ em cho em vịn bàn tay

Trong tay anh, tay của em đây

Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ

Trời mưa lạnh tay em khép cửa

Em phơi mền vá áo cho anh

Tay cắm hoa, tay để treo tranh

Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc

Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc

Tay em dừng trên vầng trán lo âu

Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau

Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả

Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ

Lấy thời gian đan thành áo mong chờ

Lấy thời gian em viết những dòng thơ

Để thấy được chúng mình không cách trở…

Bày tay em gia tài bé nhỏ

Em trao anh cùng với cuộc đời em. 

 

 

HOA CỎ MAY

 

Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ

Không gian xao xuyến chuyển sang mùa

Tên mình ai gọi sau vòm lá

Lối cũ em về nay đã thu.

 

Mây trắng bay đi cùng với gió

Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ

Đắng cay gửi lại bao mùa cũ

Thơ viết đôi dòng theo gió xa.

 

Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may

Áo em sơ ý cỏ găm dày

Lời yêu mỏng mảnh như màu khói

Ai biết lòng anh có đổi thay?

 

 

CON YÊU MẸ

 

- Con yêu mẹ bằng ông trời

Rộng lắm không bao giờ hết.

 

- Thế thì làm sao con biết

Là trời ở những đâu đâu

Trời rất rộng lại rất cao

Mẹ mong bao giờ con tới.

 

- Con yêu mẹ bằng Hà Nội

Để nhớ mẹ con tìm đi

Từ phố này đến phố kia

Là con gặp ngay được mẹ.

 

- Hà Nội còn là rộng quá

Các đường như nhện giăng tơ

Nào những phố này phố kia

Gặp mẹ làm sao gặp hết!

 

- Con yêu mẹ bằng trường học

Suốt ngày con ở đấy thôi

Lúc con học, lúc con chơi

Là con cũng đều có mẹ.

 

- Nhưng tối con về nhà ngủ

Thế là con lại xa trường

Còn mẹ ở lại một mình

Thì mẹ nhớ con lắm đấy.

 

Tính mẹ cứ là hay nhớ

Lúc nào cũng muốn bên con

Giá có cái gì gần hơn

Con yêu mẹ bằng cái đó.

 

- À mẹ ơi có con dế

Luôn trong bao diêm con đây

Mở ra là con thấy ngay

Con yêu mẹ bằng con dế.

 

 

THỜI GIAN TRẮNG

 

Cửa bệnh viện, ngoài kia là quá khứ

Những vui buồn khao khát đã từng qua

Nào chỉ đâu những chuyện ngày thơ

Con đường gạch, ao bèo hoa tím ngắt

Những ô ăn quan, que chuyền, bài hát

Những mùa hè chân đất tóc râu ngô

Quá khứ em không chỉ ngày xưa

Mà ngay cả hôm nay thành quá khứ

Quá khứ của em ngoài cánh cửa

Gương mặt anh, gương mặt các con yêu…

 

Em ở đây không sớm không chiều

Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng

Trái tim buồn sau lần áo mỏng

Từng đập vì anh vì những trang thơ

Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ

Chỉ còn đập cho mình em đau đớn

Trái tim này chẳng còn có ích

Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè.

 

Khi cuộc đời trôi chảy ngoài kia

Thời gian trắng vẫn ngừng trong bệnh viện

Chăn màn trắng, nỗi lo và cái chết

Ngày với đêm có phân biệt gì đâu

Gương mặt người nhợt nhạt như nhau

Và quần áo một màu xanh ố cũ

Người ta khuyên “lúc này đừng suy nghĩ

Mà cũng đừng xúc động, lo âu”

Phía trước, phía sau, dưới đất, trên đầu

Dường trong suốt một màu vô tận trắng…

 

Muốn gánh đỡ cho em phần mệt nhọc

Tới thăm em, rồi anh lại ra đi

Đôi mắt lo âu, lời âu yếm xẻ chia

Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ

Anh thuộc về những người ngoài cánh cửa

Của con đường, trang viết, câu thơ

Mùa vải thiều lại tới mùa dưa

Mùa hoa phượng chắc rơi hồng mái phố

Đường cuốn bụi bờ đê tràn ngập gió

Những phố phường lầm lụi với lo toan.

 

Dù cùng một thời gian, cùng một không gian

Ngoài cánh cửa với em là quá khứ

Còn hiện tại của em là nỗi nhớ

Thời gian ơi sao không đổi sắc màu.

 

                                             Tháng 6 -1988

 

(Tất cả những bài thơ trích dẫn ở phần trên được chúng tôi chọn theo bản in trong cuốn “Xuân Quỳnh - thơ và đời”, NXB Văn hóa - Thông tin, 2004)

 

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *