Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Truyện thiếu nhi: “Bên trong là vỏ trấu” – Lê Toán

21-08-2014 08:30:49 AM

Văn chỉ là nơi tôn nghiêm của làng. Hàng năm, các dòng họ trong làng đều tổ chức tuyên dương, rồi phát quà cho học sinh giỏi. Học trò được tuyên dương, rồi được chạm ngón tay vào lòng bàn tay của bức tượng trên bệ thờ. Đó là cách cầu mong để học ngày càng giỏi hơn.        

Qua mấy trăm năm, lòng bàn tay mòn vẹt lớp mạ bên ngoài. Cốt tượng bên trong lộ ra đất sét! Học trò kinh ngạc thấy pho tượng thiêng lại bằng đất sét. Không phải tượng bằng vàng hay đồng? Học trò xúm xít vây xung quanh các cụ già, hỏi:      

- Các cụ ơi! Pho tượng hiếu học của làng mình bằng đất sét?      

Các cụ già vuốt râu, cười khà khà:      

- Cụ kỵ truyền kỳ tượng bằng đất sét. Thực tình, hôm nay chúng ta mới tận mắt thấy điều đó!      

Pho tượng hiếu học được dựng từ thời lập làng. Thời ấy, hổ vào tận chuồng bắt lợn. Hổ tha lợn bước thong dong trên đường làng.      

Pho tượng là cậu bé thật thà như lúc chăn trâu ngoài đồng. Trải qua mấy trăm năm mà pho tượng chẳng già đi. Cằm tượng chẳng hề mọc râu. Đôi má bầu bĩnh. Tóc trái đào. Mắt nheo nheo tinh nghịch. Pho tượng chứa chất nguyên khí của làng. Bàn tay có những vết chai chăn trâu, cắt cỏ. Bây giờ,tay cầm bút chấm đẫm mực. Bút viết lên trời toàn chuyện khơi ngòi, cấy lúa. Người đời sau nhận xét:    

- Tay của tượng cầm bút từa tựa tay trẻ con cầm dây từng giong trâu ra đồng.    

Những khi nông nhàn, pho tượng lại đếm tuổi của mình. Mỗi mùa hè lại thêm một tuổi. Vậy là thấm thoát  đã qua hơn ba trăm mùa hè. Đã có bao nhiêu học trò được tuyên dương trong văn miếu? Bao nhiêu người giúp đời kinh bang tế thế? Bao nhiêu trò giỏi mặc áo nâu cày ruộng?      

Vào một đêm hè trăng thanh, gió mát, pho tượng vươn vai hóa thân trở lại bản thân mình cách đây hơn ba trăm năm. Cậu bé hít một hơi dài hương gió đồng. Tiếng dế re re bên bờ ruộng. Ba trăm năm trôi nhanh tựa nước lũ chảy trên sông. Cậu bé bồi hồi kê tờ giấy lên đầu gối để ghi lại chuyện ngày xưa ấy.        

Ngày xưa ấy, cả làng, cả tổng xôn xao về một cậu bé chăn trâu vừa đỗ thủ khoa ở Kinh đô. Đó người đầu tiên trong làng đỗ đạt cao về học chữ. Lúc ấy cậu mới mười lăm tuổi. Ngựa, võng xênh xang về làng. Mũ áo vua ban lụng thụng trên thân hình bé nhỏ, da cháy nắng. Hổ ngồi bên đường cúp tai, cúi đầu chào cậu bé. Sau hôm ấy, hổ cúp đuôi lẩn vào rừng sâu.       

Đất nước gặp nạn ngoại xâm. Cậu bé viết một bài văn mà đuổi sạch lũ giặc ra khỏi bờ cõi đất nước.       

Lúc đoàn quân thắng trận trở về, người dân trong làng liền xây văn chỉ. Văn chỉ là nơi khích lệ trẻ chăn trâu về đường học chữ. Thông thường thì văn miếu, văn chỉ thờ tượng Khổng Tử. Các cụ già bàn bạc:        

- Ông Khổng Tử là người ở nơi khác. Ông ấy biết gì về làng nước chúng ta!        

Cụ già được kính trọng nhất trong làng bởi tài cao, đức trọng, nói:        

- Người làng ta cày ruộng là vì làng, vì nước. Người làng ta học chữ cũng vì nước, vì làng. Vậy sao lại không đúc tượng cậu bé chăn trâu của làng ta vừa đỗ đại khoa!         

Trẻ chăn trâu chầu rìa xung quanh chiếu ngồi của các cụ. Được nghe cụ già phán bảo, lũ trẻ reo lên:         

-  Hô hô! Làng ta đúc tượng anh Củ Khoai!          

Cậu bé chăn trâu trong làng vừa đỗ đại khoa tận Kinh đô tên là Củ Khoai. Phong tục trong làng, các bậc ông bà, bố mẹ khi đặt tên cho con cháu thường lấy tên mộc mạc, quê mùa. Tên người mong tới sự no ấm. Bởi vậy trẻ mang tên là Củ Khoai, Củ Sắn, HạtThóc, Hạt Vừng…           

Tin anh Củ Khoai được đúc tượng thờ tại văn chỉ râm ran khắp làng trên, xóm dưới. Mọi người đến ngôi nhà tranh xiêu vẹo tận cuối làng để chúc mừng. Người già, người trẻ cười nói. Bố mẹ Củ Khoai thì khóc òa vì quá vui mừng.           

Giữa làng có cây mít cổ thụ. Cây mít đứng ở đó qua mấy đời người. Mọi người muốn hạ cây mít tạc tượng anh Củ Khoai. Cụ già tài cao, đức trọng lại nói rằng:         

- Đất là Mẹ. Anh Củ Khoai sinh trưởng từ đồng đất quê mình. Vậy sao không lấy đất ruộng mà đắp tượng đại khoa!          

Trẻ chăn trâu chầu rìa quanh chiếu ngồi, nghe thấy vậy thì mừng râm ran. Chúng chạy ra giữa sân giương súng bẹ chuối lên trời nổ “Bạch! Bạch! Bạch!”…           

Vào một ngày đẹp trời, người trong làng lập lán đắp tượng. Đất sét ruộng trộn với giấy bản thật nhuyễn để đắp tượng. Đất là quê hương. Giấy là sự học truyền đời. Tượng được đắp vào ban đêm như hình hài được hình thành trong bụng mẹ. Chiều cao pho tượng bằng anh Củ Khoai sau đi thi trở về làng. Cánh tay dài đúng bằng cánh tay anh Củ Khoai. Đôi mắt sáng hệt đôi mắt anh Củ Khoai. Giống nhau đến nỗi pho tượng đất sét lại tưởng mình là anh Củ Khoai thật. Vì thế, sau này ngồi trên bệ thờ một mình cũng buồn, pho tượng cúa nhìn ra cánh đồng làng. Bãi thả trâu đắm đuối biết bao kỷ niệm ấu thơ. Có lúc quên mình là đất sét, pho tượng chạy ra bờ đê chơi thả diều với trẻ chăn trâu. Trẻ chăn trâu thấy một trai tóc để trai đào rất lạ. Chúng lại tưởng đó là kiểu tóc mới của trai thị trấn vào làng chơi. Thoáng sau, hình dáng anh Củ Khoai lại hóa thân trở về văn chỉ, ngự trên bệ thờ. Bệ thờ mấy lần nhắc nhở:          

- Anh Củ Khoai bây giờ là thần. Thần thì không nên rong chơi với trẻ chăn trâu ngoài đồng như thế!             

Pho tượng cười khúc khích:          

- Nhìn lại ta xem. Ta là thần mấy trăm năn rồi nhưng vẫn là cậu bé chăn trâu của làng.          

Bệ thờ nghe vậy cười rang rảng. Kèo, cột, cũng cười cọt kẹt…          

Có điều bí mật ẩn bên trong tượng qua hơn ba trăm năm. Pho tượng luôn trăn trở: Có nên mở điều bí mật ấy ra không? Thực ra, pho tượng nào cũng ẩn trong thân bí mật. Đấy là bí mật gắn cục vàng làm phép cho tượng linh thiêng.          

Các cụ già nói với nhau:           

- Qúy báu nhất đối với người làng ta là lúa gạo. Vậy thì lấy cái quý báu ấy nén vào bên trong tượng.            

Các cụ già chọn vỏ trấu thóc nếp cái hoa vàng tinh khôi, thơm nức nhồi chặt vào ruột pho tượng. Mỗi vỏ trấu như một mảnh hồn đồng ruộng. Vì thế, tượng anh Củ Khoai linh thiêng rất hay hóa thân đi chơi.             

Trẻ chăn trâu bây giờ cũng biết dùng máy vi tính. Pho tượng  anh Củ Khoai bây giờ cũng dùng máy vi tính đánh chữ thay bút viết. Nhờ thông tin trên máy vi tính mà biết: trong triệu triệu pho tượng trên thế giới, duy nhất pho tượng anh Củ Khoai nhồi trấu bên trong.           

Mái ngói che nắng mặt trời nên biết rất rõ điều bí mật ấy. Viên ngói nóc từng trải dãi dầu mưa nắng hơn ba trăm năm, cả những biến cố về chữ trong thế gian. Viên ngói nóc nói:            

- Chữ càng nén chặt thì nghĩa càng nhiều! Việc ấy giống như  nén vỏ trấu trong ruột pho tượng anh Củ Khoai vậy!                      

 

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Các tin mới hơn