Đỗ Trung Lai: Cha m ẹ đã thành ra cổ tích/ Cỏ nằm kể mãi dưới chân nhang Thứ sáu, 29/1/2010 | 5:57:38 PM
Trang chủ
Tin văn
Văn hóa - Nghệ thuật
Tiếng nói Nhà văn
Dư âm Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam
Nhà văn đang có hồ sơ xin vào Hội
Nhà văn ta đang làm gì?
Hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Lý luận - Phê bình
Tác phẩm và dư luận
Đối thoại
Nghề văn
Văn học với đời sống
VanVN.Net Giới Thiệu
Tác phẩm
Thơ
Truyện ngắn
Bút ký - Phóng sự
Tạp văn
Tiểu thuyết
Mỗi tuần một truyện ngắn, một chùm thơ
Nhà Văn Trẻ
Văn học nước ngoài
Tư Liệu Văn Học
Hội nhà văn
Cơ quan văn học
Hội viên
Di sản
Quán Văn Chương
Phiếm luận

Đọc nhiều nhất

Về cuốn hồi ký gây xôn xao trên mạng của một giáo sư

Cái tát của Lê Công Định

Sẽ còn những ai đứng đằng sau ông Huỳnh Ngọc Sĩ ?

Dư luận không giống như "Chú Thỏ" trong truyện "Cáo và Thỏ" thưa ông Đoàn Văn Kiển...

Hãy bình tĩnh, đừng quá riết róng theo kiểu “Giậu đổ bìm leo”

"Cái hèn" của người cầm bút

Ma đưa lối quỷ đưa đường hay bần cùng sinh đạo tặc... ( Về những vụ trộm cắp của người Việt bị phát hiện gần đây tại Nhật Bản)

Ăn ốc nói mò của một số người cầm bút


CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM SƠN

Xã Kiệt Sơn, huyện Tam Sơn tỉnh Phú Thọ; điện thoại: 0210 3745 002   Fax : 0210 3745 003   -   Email : - tamsontanson@yahoo.com
Đại diện tại Hà Nội: Phòng 330 Nhà K1 Khu Đô thị Việt Hưng, Long Biên Hà Nội điện thoại:  04 3652 4558 – Email: truongnd@gmail.com

  Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn (thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam) quản lý và sử dụng 10.903,1 ha thuộc địa bàn 10 Xã của Huyện Tân Sơn. Có điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc trưng của vùng miền núi trung du phía bắc rất thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.  
  Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty là: Trồng rừng NLG, khai thác, thu mua, vận tải cung ứng gỗ NLG cho Tổng công ty Giấy Việt Nam ; sản xuất kinh doanh giống cây NLG, chè búp tươi; thu mua, chế biến và tiêu thụ các loại lâm sản NLG; sản xuất, chế biến Nấm Dược phẩm (Linh Chi) và cung cấp Nấm thực phẩm sạch cho thị trường Thành Phố Hà Nội, Tỉnh Phú Thọ, các tỉnh lân cận. Sản xuất, xuất khẩu và cung ứng nội địa hàng trăm triệu đôi đũa tre mỗi năm.
  Các sản phẩm Nấm sạch của Công ty sản xuất ra luôn đảm bảo chất lượng, hàm lượng các chất dinh dưỡng, đã chinh phục được các bà nội trợ khó tính. Trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam.
  Công ty đã mở một số Đại lý, cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm  trên địa bàn các Tỉnh phía bắc
  Khách hàng có nhu cầu mua số lượng lớn hoặc mở Đại lý bán sẩn phẩm . Xin vui lòng liên hệ với Công ty .

Giám đốc     
Nguyễn Đức Sơn


 
Home / Tin văn
Hội thảo sôi nổi, chân thành và thiết thực
Văn Chinh, Thuỵ Anh và Nguyễn Đức Huệ ( 1/6/2010 9:25:52 PM )
Hôm nay, các đại biểu dự Hội nghị Quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam đã tham gia các hội thảo theo chủ đề: Văn học cổ Hán Nôm, Văn xuôi, Thơ và Văn học Trẻ.
Hội thảo Văn xuôi Việt Nam hiện đại:
Tại đây, BTC đã nhận được rất nhiều tham luận hết sức phong phú, đến mức nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó chủ tịch Hội, chủ trì hội thảo đã phải đề nghị các đại biểu chỉ nên tóm tắt ý chính trong khoảng dăm ba phút.
 
PHONG LÊ: Trong ngoài 5 phút mà nói về một vấn đề văn xuôi là cực khó, trong đó mất một nửa là dịch. Trong một thế kỷ có 7 thế hệ viết, trong đó có thế hệ viết chữ Hán, chữ quốc ngữ tiền cách mạng, thế hệ cách mạng, thế hệ chống Pháp, chống Mỹ, hậu chiến tiền đổi mới và đổi mới. Thư mục đã dịch mà Hội cung cấp cho các bạn là quá ít so với thực thể nền văn học. Dân tộc VN trong thế kỷ này mất 40 năm chiến tranh, sống nghèo khó; chỉ còn 10 năm được hoà bình và no; đề tài chiến tranh, do đó mà bao choán văn học hiện đại
Dịch giả, giáo sư CHÚC NGƯỠNG TU (Trung Quốc, ảnh đầu bài) Tôi là người TQ gần gũi với văn học Việt Nam rất lâu, đọc nhiều tác phẩm của các nhà văn, có thể nói biết tên mà không biết mặt, nay gặp nhiều nhà văn nhưng lại biết mặt mà không biết tên. Trước khi dịch Ông cố vấn tôi đã dịch thử Chí Phèo, định đặt là Ông Chí, nhưng lại quá già, Anh Chí thì không ổn. Tôi tin chắc chắn rằng, văn học VN không thiếu tác phẩm hay và khả năng dịch của tôi cũng không quá tồi. Qua thành công dịch Ông cố vấn tôi có 3 điều tâm đắc. Đầu tiên là tác phẩm văn học phải rất Việt Nam, hai là phải được hỗ trợ bởi cơ quan công quyền về bản quyền và phải có sự liên hệ giữa dịch giả và tác giả.
Gần đây Mạc Ngôn có nói một câu chí lý: Những tác phẩm nổi tiếng phải được dịch bởi dịch giả nổi tiếng
Tại TQ ít bóng dáng văn học VN, tại VN thì văn học TQ được dịch nhiều. Tại sao thế? Là tác động của thị trường,lợi ích của dịch giả, NXB. Nhuận dịch ở TQ rất thấp, 30 tệ cho 1000 chữ (dịch kinh tế 200 tệ cho 1000 chữ) vì thế, dịch giả giỏi ngại dịch.
Làm thế nào để vh Vn được giới thiệu ở nước ngoài: đề nghị Nhà nước VN lập một quỹ dịch văn học, mừng là VN đã giầu hơn, không khó để bỏ món tiền nho nhỏ để tài trợ cho VH. đề nghị đặt giải thưởng Dịch VH VN. Và khuyến khích dịch giả VN kết hợp với người nước ngoài. Vn nên tự giới thiệu tác phẩm ra nước ngoài. Không để dịch giả phải lo mọi khâu, phải có sự hỗ trợ, để dịch giả chỉ chuyên dịch.
SIM VANNA, Chủ tich Hội Nhà văn Khơme: Để biết và hiểu về nền văn hoá, văn minh của từng chủng tộc được rõ ràng, không thể khác, chúng ta cần sưu tầm nghiên cứu các văn bản mà văn học khái quát được. Vì những văn bản ấy là lời biện giải ý chí, quan điểm cùng tầm kiến thức của từng dân tộc. Campuchia, Việt Nam, Lào cùng khối ASEAN là những quốc gia lân bang rất thân thiết trên mọi lãnh vực, kể cả văn học nữa.
ĐỖ CHU: Các cụ ta có câu, hữu xạ tự nhiên hương, nhưng là nước nhỏ, tưởng cũng không thẹn gì cái việc tự lo cho tác phẩm mình đến được với người ta. Cho nên hội nghị này là một việc cần và tốt. Tự tôi thấy mừng mà cũng lo, viết cũng chưa thật hay, tôi không ảo tưởng; phải cố lắm mới mong có được vài trang, nếu bây giờ dịch tôi ngay, tôi cũng không vui mừng.
FRANK GERKE (Đức) Tôi học tiếng Việt để nghiên cứu văn học Việt Nam, nó chưa được dịch thật nhiều ở Đức; trong số ít ỏi các tác phẩm được dịch ấy lại phần lớn là của nhà văn Bắc. Vì vậy, tôi tìm nhà văn Nguyễn Quang Sáng, ông là nhà văn có giọng đặc Nam bộ, nhân vật và thiên nhiên đều rất Nam bộ; tôi đã dịch mấy truyện ngắn của ông đăng ở Tạp chí Orientierugen và bây giờ đang dịch “Đất lửa”. Năm ngoái, tôi đã theo ông đi thăm, để cùng sống, cùng hít thở bầu không khí mà các nhân vật “Đất lửa” từng sống, để văn hoá miền Tây Nam bộ thấm vào người.     
     ĐẶNG ANH ĐÀO: Với tiêu đề “Truyền thống và đổi mới trong văn xuôi VN hiện đại” GS Đặng nói: Nếu chỉ nói đổi mới không thì mình không thể nào bằng Tây được, người ta viết dòng ý thức, kể lại cả cuộc đời trong 24 h đã từ lâu. Bên cạnh truyện ngắn là thể loại gây ấn tượng mạnh, cần phải kể đến ký sự, thư từ, hồi ký…như chùm pháo sáng phóng liên tục vào đêm dài ký ức hoặc sự mù mịt của tâm thức con người hiện đại. Về kết cấu truyện, âm hưởng của văn học dân gian vẫn trường tồn trong văn xuôi tự sự VN, nó kết cấu dựa trên ranh giới thiện ác, kéo dài qua hiện thực XHCN (“sự thể hiện cuộc sống trong quá trình cách mạng của nó”) gần đây nó mới chuyển dần sang kết cấu mở. Về diễn ngôn tự sự, văn xuôi VN lợi dụng dấu giọng, tạo ra sự “hỗn đồng” là cái đặc sắc phương Đông. Một sự kết hợp những yếu tố nghịch dị, sự đan cài cái của cái kỳ ảo và cái grotesqque đã mang lại ma lực cho nhiều truyện, hình thức nhại (parodie) trong đề tài lịch sử, tạo ra loại văn học giả - lịch sử, giả - huyền thoại.
Trưởng phòng đối ngoại Hội Nhà văn Nga: Chúng tôi đã mất những chuyên gia dịch tiếng Việt giỏi, họ đã ra đi mất rồi. Hôm qua trong triển lãm sách, tôi gặp lại Niculin và thương quá. Đã đến lúc cần đào tạo lại, đào tạo gấp một thế hệ dịch giả tiếng Việt để dịch nền văn học rất quan trọng, văn học VN.
Chúng tôi có mấy định nghĩa nhà văn: thế hệ lạc lõng nổi loạn, thế hệ sex, thế hệ pepsi, ích kỷ, tự kỷ. Ở thế kỷ XIX có thế hệ phủ nhận sạch trơn, như giữa thế kỷ XX có thế hệ trung uý; thị trường chọn nhà văn của nó, nó giúp nhà văn trẻ hội nhập vào đại gia đình văn học, quan trọng không ở tài năng, mà là quảng cáo lăng xê.
Phó chủ tịch Hội Nhà văn Lào PHIULAVANH LUANGVANNA: Chúng tôi đã có sách giáo khoa dạy văn học VN, có số tiết nhiều nhất; sách báo văn học VN sang Lào bằng tiếng Việt thì nhiều, nhưng bằng tiếng Lào thì ít. Có cả một mảng văn học VN viết về Lào, đó là kết tinh tình nghĩa lâu dài giữa hai nước, đọc cảm động lắm. Tôi đã đọc Trước giờ nổ súng của Lê Khâm – Phan Tứ. Tôi đã đến nhà bác Văn Linh, bác cho xem chồng bản thảo dày lắm, viết về Lào. Làm sao để nhà văn Lào viết về Lào không ít hơn các nhà văn VN (bao gồm cả các vị tướng tá) viết về Lào. Mong rằng, sự hợp tác giữa hai hội
LINHNGA NIETDAM: Tôi người Ede đến từ Tây nguyên. Tôi đồng ý với ông Đỗ Chu là cứ viết cho hay đi, giới thiệu là việc của người khác. Nhưng xin cho bổ sung là những vấn đề Tây nguyên như Bauxit, café, bạo loạn…tại sao không thấy có mặt trong văn học? Tại sao Tây nguyên bây giờ không có Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh, tôi cảm thấy tủi thân lắm. Tại sao có Hội đồng Dịch mà lại chỉ dịch từ ngoài vào mà không có một Hội đồng ngược lại? Đã có dự án hàng tỉ in văn học dân gian để nó không bị mối mọt, tại sao Hội ta không có tiền để quảng bá? Hy vọng, tương lai gần có sự khởi động của Hội, sớm thông báo kết quả cho chúng tôi.
THẾ DŨNG (định cư tại Đức) đọc toàn văn bài tham luận công phu và có sức thuyết phục, đã được giới thiệu tại giao diện này đầu tuần trước.
TRẦN THANH GIAO: Tham luận của ông có cái tên ngộ nghĩnh: Tiểu ngạch hay chính ngạch, trình bầy lối đi của tác phẩm của ông đến với bạn bè thế giới. Có sự hẫp dẫn của tác phẩm đối với các nghiên cứu sinh tiếng Việt, tự họ thấy hay thì dịch; cũng có cả sự chủ động của ông rồi sau đó, người ta dịch lại.
NGUYỄN VĂN THÁI (định cư ở Balan): Hội nhà văn cần nghiên cứu mô hình Viện sách của Balan xem có nên ứng dụng vào nước ta hay không. Viện sách là cơ quan Nhà nước, trực thuộc Bộ Văn hoá, thành lập từ 2004 với mục tiêu giáo dục văn hoá đọc cho công dân và quảng bá văn học Ba Lan ra nước ngoài. Năm 2005 và 2009 đã tổ chức gặp gỡ các dịch giat văn học Ba Lan trên toàn thế giới, cung cấp thông tin, tài trợ những bản dịch tốt, giới thiệu sách mới, mời các dịch giả đến Ba Lan làm việc, giúp liên hệ với các tác giả giải quyết các vấn đề của bản quyền, hội thảo chuyên đề, giữ liên lạc với các dịch giả.
NGUYỄN TRÍ HUÂN: Có hai cụm ý kiến: 1, Các tham luận đều tập trung khẳng định giá trị của văn xuôi VN hiện đại, tập trung vào hai đề tài lớn là chiến tranh và nông thôn. Có ý kiến đề nghị quan tâm đến đề tài miền núi, rất chính đáng. Một ý kiến lưu ý khi chọn dịch là dịch cái người ta cần, chứ không phải dịch cái mình có, cụ thể nên dịch truyện ngắn, bút ký là cái ta mạnh. Các ý kiến đều thống nhất, quảng bá văn học tựu chung là quảng bá hình ảnh dân tộc; đều cho rằng ta có chuông nhưng cần người đánh chuông và thỉnh chuông.
Cụm ý kiến thứ hai xoay quanh những vấn đề dịch thuật, cái khó về chuyển tải ngôn ngữ, người nước ngoài thạo tiếng Việt quá ít. Cũng có ý kiến cho rằng văn ta chưa hay, chưa hấp dẫn người ta. Nếu không có tài trợ của Nhà nước thì việc dịch văn học Việt chỉ sẽ dừng lại ở hội nghị này mà thôi. Thay mặt Hội, xin cảm ơn các tác giả tham luận hoặc đã hoặc chưa kịp đọc tại đây. Dau Hội nghị này, chúng tôi sẽ kiến nghị với Nhà nước, xây dựng đề án trình Chính phủ giới thiệu văn học VN ra nước ngoài. Xin cảm ơn tất cả các anh, chị và các bạn.
Văn Chinh thực hiện
 
 
 
Hội thảo Giao lưu và giới thiệu văn học trẻ
 
Cuộc hội thảo giới thiệu văn học trẻ do nhà thơ Trần Đăng Khoa cùng các nhà văn nhà thơ trong Ban công tác nhà văn trẻ làm chủ tọa. Mở đầu cuộc hội thảo, cử tọa được nghe ông Gustafsson Styrbojoern, đại diện cho NXB Tranan, Thụy Điển nói về thực trạng xuất bản các tác phẩm văn học Việt Nam hiện nay ở đất nước của ông. Đã có một số tên tuổi các tác giả được biết đến, tuy chưa thật nhiều như Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư…. Vì thế, NXB của ông đặt ra mục tiêu khi đến với Hội nghị này là tìm hiểu và lựa chọn những tác giả trẻ của Việt Nam để đưa đến cho bạn đọc Thụy Điển những hiểu biết bao quát hơn về văn học Việt Nam đương đại. Hiện giờ, hỗ trợ tài chính của chính phủ Thụy điển đối với VN đang giảm, vì thế phải tìm các nguồn đầu tư khác để hợp tác dịch thuật. Ông cũng đề xuất việc xây dựng một quỹ dịch thuật để tìm nguồn tài trợ xuất bản.
 
Ý kiến này của ông được rất nhiều đại biểu và chủ tọa Trần Đăng Khoa ủng hộ. Trong bài đề dẫn của mình, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã khẳng định chất “trẻ” là đặc điểm rất quan trọng và đáng quý trong buổi tọa đàm hôm nay. Các nhà văn trẻ Việt Nam bây giờ có nhiều ưu thế, ngoài chất trẻ, đó là khả năng nắm vững ngoại ngữ, đó là các cách tiếp cận thông tin trong thời đại công nghệ mới, sự giao lưu văn hóa- văn học của Việt Nam với thế giới sẽ được khăng khít và có những cập nhật kịp thời hơn. Thêm nữa, từ khi “mở cửa” đến nay, văn học Việt Nam ngày càng trở nên sinh động và khởi sắc. Những cây bút trẻ đã và đang không để mình lạc hậu so với thế giới, tìm hiểu và thể nghiệm mình trong các trào lưu mới như trào lưu văn học hiện đại hay hậu hiện đại, nhưng mang màu sắc Việt Nam và để lại những dấu ấn cá nhân độc đáo. Ông hy vọng và tin tưởng rằng, các cây bút trẻ trong những tác phẩm của mình sẽ tìm cách nói được những điều mà toàn nhân loại đang quan tâm để có thể “vượt qua dãy núi quê hương mà vươn ra thế giới, bước nửa bước là đến với nhân loại” như rất nhiều tác gia nổi tiếng trên thế giới.
 
Có rất nhiều tham luận của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam về văn học trẻ, thực trạng và những đặc điểm của văn trẻ, thơ trẻ trên văn đàn trong mối tương quan với văn học của thời kỳ trước. Đó là những tham luận “Văn trẻ bình tĩnh và vững tâm” của nhà văn Võ Thị Xuân Hà, “Thơ trẻ và sự chuyển động” của nhà thơ Trần Quang Quý,  các tham luận đặt ra những vấn đề bức xúc của văn học trẻ qua phát biểu của nhà phê bình văn học Nguyễn Chí Hoan, nhà văn Phong Điệp… Ngoài ra, buổi Hội thảo dành rất nhiều thời gian bàn về việc dịch văn học Việt Nam – những cái được và chưa được của công việc này trên thế giới, những khó khăn và những đề xuất rất thú vị. Các ý kiến của một số đại biểu được đưa ra khá trực diện, thẳng thắn (nhà thơ Hữu Việt, nhà văn Võ Thị Hảo, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Chí Hoan, dịch giả Trần Thiện Đạo, dịch giả Vũ Phong Tạo, dịch giả và nhà văn Hiệu Constantin …). Những câu hỏi họ đặt ra cho những dịch giả và những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam là: họ dựa vào tiêu chí nào để xác nhận giá trị những tác phẩm mà họ muốn dịch và giới thiệu với bạn đọc của mình; các nhà văn trẻ VN được phát hiện qua kênh nào, người dịch văn học VN hiện cần gì, muốn tìm hiểu điều gì ở các cây bút trẻ VN… Đại biểu Vũ Phong Tạo đưa ra một thực tế là, chúng ta cứ kêu ca là văn học Việt chưa được biết đến nhiều trên thế giới, nhưng thực ra ở đâu đó người ta vẫn dịch mình mà chính chúng ta không biết. Vậy tất cả những thông tin hai chiều như thế, làm sao có thể tiếp cận được một cách hệ thống – đó cũng là một câu hỏi. Chỉ có sự giao lưu, hiểu biết lẫn nhau sâu sắc mới khiến cho công việc dịch thuật và giới thiệu nền văn học một nước ra nước khác thực sự có hiệu quả.
 Cũng đồng ý kiến với dịch giả Vũ Phong Tạo, bà Hàm Anh, tùy viên văn hóa ĐSQ Việt Nam tại Ấn Độ chia sẻ với hội nghị một số câu chuyện xung quanh chủ đề ngoại giao văn hóa. Bà kêu gọi các nhà văn Việt Nam muốn quảng bá mình hãy tích cực “lợi dụng” các đại sứ quán, những nhà ngoại giao, coi họ là một trong những chiếc cầu quan trọng cho văn học Việt Nam vươn ra thế giới. Bà đề nghị Hội nhà văn và Bộ ngoại giao thành lập một kênh thông tin văn hóa khăng khít thường xuyên cập nhật cho nhau để có thể hợp tác hiệu quả trong việc này. Bà đề xuất việc thành lập tủ sách văn học Việt Nam ở các đại sứ quán Việt Nam ở các nước. Để làm được việc đó, nên có cơ chế cụ thể và một khoản tài chính nhất định. Đó cũng là một trong những cách quảng bá văn học ra nước ngoài đơn giản mà hiệu quả.
 
 
Điều đặc biệt ở Hội thảo này là càng về cuối, các đại biểu dường như nói hăng hơn, trúng trọng tâm hơn, và người nghe thì ngày càng chú ý tập trung hơn, hội trường gần như không có chỗ trống! Cử tọa càng sôi nổi khi nghe các ý kiến tham luận của các dịch giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu và giới thiệu văn học Việt Nam ở nước bạn.
 
Bà Catherine Cole (Úc) – giáo viên Văn -  kể về quá trình bà làm việc với các tác phẩm văn học Việt Nam, bắt đầu từ năm 1994, khi bà lần đầu đến nước này và cộng tác với NXB Thế giới. Là một nhà giáo, bà thường xuyên lấy văn học Việt Nam làm công cụ giảng dạy. Bà giới thiệu với cử tọa về các dự án của mình: Dự án thứ nhất là phỏng vấn các nhà văn VN với sự trợ giúp của NXB Thế Giới. Dự án thứ hai là mời các nhà văn quốc tế sang sống và làm việc ở Úc vài ba tháng và kế hoạch đưa các sinh viên RMIT (thành phố Hồ Chí Minh) sang Úc để sáng tác. Bà nhấn mạnh: “Với tư cách là dịch giả và người nghiên cứu văn học Việt Nam, tôi đã và vẫn làm hết sức mình để giới thiệu nền văn học nước các bạn. Tôi từng hiệu đính bản dịch tập thơ “Sông Hương” bao gồm thi phẩm của nhiều tác giả. Chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm các bản dịch thơ tiếng Anh của các tác giả Việt Nam, nhất là các cây bút người Việt Nam ở nước ngoài. Việc liên lạc với tác giả để mua bản quyền rồi mới tiến hành dịch, đối với chúng tôi cũng là một điều bất cập. Qua Hội nghị này, chúng tôi muốn tìm kiếm thông tin, địa chỉ liên lạc của các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn trẻ để có thể trao đổi từ xa – Muốn tiếp cận các nhà văn trẻ VN, các cây bút của những trào lưu văn học mới và các trường phái cách tân đa dạng”.
 
Một ý kiến độc đáo nữa rất được chú ý là bài phát biểu của ông Chúc Ngưỡng Tu, dịch giả người Trung Quốc đã chuyển ngữ “Ông cố vấn” của nhà văn Hữu Mai, người, nói theo cách nói của ông, suốt đời “làm ăn” bằng tiếng Việt. Để nhấn mạnh về sự gắn bó của mình với văn học Việt Nam, ông kể câu chuyện rất vui về sự ra đời của đứa cháu nội đầu tiên của mình – đúng vào ngày quốc khánh Việt Nam 2-9. Hình như việc dịch văn học Việt Nam là “số phận” của ông và ông khẳng định sẽ luôn theo dõi văn học Việt và làm hết sức để giới thiệu các tác phẩm mới đến với bạn đọc Trung Quốc. Ông đưa ra những thông tin khái quát về quá trình dịch văn học Việt Nam ra tiếng Trung. Ông cho rằng quá trình này, tuy có những dấu ấn nhất định, vẫn còn rất mờ nhạt. Có hai yếu tố chi phối việc này. Một là lực lượng dịch thuật còn mỏng, tiền nhuận dịch thì quá thấp. Yếu tố thứ hai là yếu tố nhà xuất bản. Hiện nay tại Trung Quốc có hơn 300 NXB. Họ thực hiện cơ chế thị trường, đặt vấn đề lãi suất lên hàng đầu, vì thế việc chọn dịch tác phẩm văn học VN chưa chắc đã là mục tiêu của họ. Ông cũng chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân của mình trong việc giới thiệu văn học Việt Nam. Ông nói: “Tôi đã trải qua hai lần thất bại trong việc này. Lần đầu là với tác phẩm “Chí Phèo”, lần thứ hai là với tác phẩm của tác giả Lại Văn Long “Kẻ sát nhân lương thiện” – đều không được NXB tiếp nhận. Hai lần thất bại ấy không làm tôi nản chí.”. Ông cũng nói lên sự biết ơn của mình với cố nhà văn Hữu Mai, người đã đem lại cho ông rất nhiều khi ông được hân hạnh làm việc với các tác phẩm của nhà văn, và tuy chưa từng gặp mặt, ông đã coi Hữu Mai là người thày, người bạn thân thiết của mình.
               
 
Bà Anna Gustafsson Chen (Thụy Điển) đến Hội thảo với tham luận “Dịch văn học Việt Nam cho trẻ em và các bạn đọc trẻ” cũng đưa ra nhiều ý kiến quý báu, góp ý cho việc quảng bá văn học Việt ra nước ngoài. Bà đã dịch 25 đầu sách của nước ngoài ra tiếng Thụy Điển, trong đó có hai tác phẩm của Việt Nam là “Dế mèn phiêu lưu ký” và “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”. Bà cho rằng người viết trẻ Việt Nam đừng quá căng thẳng khi nghĩ về vấn đề tự quảng bá mình. Bà nói: “Các bạn hãy là mình, hãy tự thể hiện bản thân mình thật tốt chứ đừng tự quàng vào cổ trách nhiệm phải đại diện cho một đất nước hay một nền văn học bởi chính những gì các bạn viết một cách sâu sắc tự chúng đã mang giá trị dân tộc và sẽ được bạn đọc thế giới quan tâm”…
 
Còn khá nhiều những ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề các phương cách giới thiệu văn học trẻ đến với độc giả nước ngoài mà chúng tôi hy vọng sẽ tổng kết được tỉ mỉ sau Hội nghị. Đây là những “thu hoạch” quý giá của Hội nghị lần này.
 
Thụy A
 
 
 
Hội thảo thơ
 
 
                Ngắn gọn và đầy đủ, nhà thơ Vũ Quần Phương đã mở đầu Hội thảo bằng những nhận xét khá xác đáng của mình về Thơ Việt Nam thế kỉ 20. Bắt đầu từ Tản Đà học trường Nho làm thơ quốc ngữ, là nhịp cầu nối xuất sắc giữa cổ điển và hiện đại, cả về nội dung lẫn hình thức thơ. Tiếp đó là phong trào Thơ Mới với những tên tuổi lớn sau này đi theo cách mạng, tạo nên nền thơ kháng chiến với sứ mạng lịch sử cao cả, chủ yếu là miêu tảbình luận về cuộc chiến với những chi tiết sống động, những cảm xúc lịch sử, chính trị, nhân văn... Thơ thực sự là vũ khí và cần thiết như cơm gạo. Vóc dáng nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy là biểu tượng cho giai đoạn thơ ca này. Giai đoạn tiếp sau thơ có nhiều biến động, nhất là khi thực hiện công cuộc đổi mới tạo nên bước chuyển quan trọng: Thơ quan tâm đến cái cá thể, thân phận con người. Mọi bi kịch và nguyện vọng của nó được thơ biết đến, được chia sẻ và bênh vực. Thơ tôn trọng hiện thực như nó vốn có, mọi phương pháp, thủ pháp đều được vận dụng, do đó thơ giai đoạn này trở nên nhân đạo hơn, chân thực hơn và phong phú hơn. Những đặc điểm này đã tạo nên bước tiến chân thiện mĩ của cả nền thơ Việt. Tuy nhiên, có thể do hướng nội, hướng ngoại chưa chính xác, thơ trẻ hiện nay hơi ít có tiếng dội của những sự kiện lớn có tầm nhân loại hoặc những mong mỏi cháy bỏng của chính nhân dân mình.
                Không khí trở nên sôi động hơn khi dịch giả Nguyễn Bá Chung (định cư tại Mỹ) dịch lại toàn văn bản tham luận quan trọng này của nhà thơ Vũ Quần Phương, giúp cho các nhà thơ nước ngoài hiểu rõ về những chặng đường thơ Việt Nam hiện đại. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tọa Hội nghị đã tỏ lời cám ơn ông Nguyễn Bá Chung và trân trọng mời ông làm nhịp cầu bè bạn trong cuộc giao lưu hiếm có này.
                Nhà thơ Cu Ba Alex flettn cho rằng đây là một dịp may tuyệt diệu để ông được chia sẻ với các bạn thơ Việt nam về một dự án tuyên truyền thơ ca của Cu Ba ra thế giới. Ông dẫn ra một chuyện kể của José Martí có tiêu đề “Một chuyến du hành tới đất nước người An Nam”, rằng người An Nam mặc áo dài có màu sắc cạnh tranh với chất lượng ánh sáng, họ là những người thợ kim hoàn tài hoa trong tất cả các thứ họ làm ra bằng gỗ, xà cừ, vũ khí, đồ dệt, đồ sơn, đồ thêu và cày bừa. “Như vậy nhà trí thức thiên tài sinh ra ở Hòn đảo Cu Ba đã dạy chúng tôi biết tôn trọng và đoàn kết với một dân tộc mà giờ đây tiếp đón chúng tôi một cách rất hảo tâm. Dự án của chúng tôi là sự ra đời của Tạp chí Amnios, xuất bản ở La Habana, trong đó các bạn sẽ thấy tên tuổi các nhà thơ Việt Nam bên cạnh các nhà thơ nhiều nước trên thế giới.” - Alex flettn kết luận bài nói của mình như vậy.
                Sau bài phát biểu đầy ấn tượng về Các vấn đề về thơ Ấn Độ của nữ thi sĩ Manicé Vatsco và tham luận về Văn chương và trường học của nhà thơ Phillippin Magioli, nhà thơ Việt Nam Thanh Thảo đã khéo léo lái mũi thuyền Hội thảo vào vấn đề trọng tâm của nó. Với tựa đề “Dịch thơ Việt Nam ra ngôn ngữ khác”, ông nhấn mạnh rằng để tác phẩm dịch đạt chất lượng cao, tới chuẩn tín đạt nhã là cả một vấn đề,  cần phải có ngân sách tài trợ cho công tác dịch thuật trong quá trình chuyển ngữ, phải hợp tác cùng các nhóm dịch thuật tìm “đầu ra” cho tác phẩm dịch tại các Nhà xuất bản. Có một kênh rất quan trọng có thể liên kết được là các trường đại học, nhất là ở Mỹ, họ đang có nhu cầu dịch thơ Việt và họ có đầu ra, chính là các sinh viên của họ và hệ thống thư viện của họ. Cứ dịch tốt đi, còn chất lượng thơ Việt tới đâu, người đọc các tác phẩm qua ngôn ngữ dịch ấy sẽ có ý kiến sau.
                Bài nói của nhà thơ Thanh Thảo đã hướng các đại biểu tập trung hơn vào chủ đề mọi người cùng quan tâm. Nhà thơ Hàn Quốc Ahn Kyung Hwan say sưa nói về quá trình dịch thơ Hồ Chủ tịch khiến cả hội trường cảm động. Hai nhà thơ Mỹ Bruce Weigl và Fred Marchant kể lại quá trình dịch thơ hiện đại Việt Nam, đặc biệt là thơ Trần Đăng Khoa với nhiều tình tiết khá hấp dẫn.
                Giờ giải lao. Hành lang Hội nghị vẫn tiếp diễn những cuộc trao đổi về thơ và công việc dịch thơ. Trong khi mấy chục nhà báo xúm vào phỏng vấn các vị khách nước ngoài, các nhà thơ Việt vẫn theo thói quen cố hữu, cặp đôi cặp ba thi nhau nhận xét về các bản tham luận vừa được nghe. Góc này Trần Nhuận Minh, Vũ Duy Thông, Hoàng Vũ Thuật, Thành Đức Trinh Bảo, góc nọ Đặng Huy Giang, Đinh Quang Tốn, Thế Dũng (Định cư tại Đức), góc khác Ngô Thế Oanh, Trần Trương, Phạm Đức, góc khác nữa Nguyễn Đức Mậu, Lê Thành Nghị, Vũ Từ Trang... Cà phê và bánh ngọt và táo và huyên náo ồn ào vui vẻ. Cả Văn phòng Hội nhà văn hôm nay đều có mặt phục vụ các nhà thơ một cách tận tình. Điều đó làm Nguyễn Trọng Tạo có phần cảm động, hỉ hả đóng vai phó nháy, cùng Nguyễn Đình Toán đi hết chỗ này chỗ nọ, ra lệnh cho mọi người xếp hàng chụp vài kiểu làm kỉ niệm, về post lên Bloc cá nhân chơi.   
                Phiên họp buổi chiều diễn ra như một cuộc đối thoại. Cứ một nhà thơ Việt Nam lại đến một nhà thơ nước bạn. Sau phát biểu của nhà thơ Giang Nam với một tập thơ dày của nhiều tác giả thời kháng chiến được dịch ra nước ngoài từ những năm bảy mươi của thế kỉ trước là tâm sự rất đỗi chân thành của nhà thơ Ấn Độ Jecman, từ một người thất học do hoàn cảnh khó khăn, mới chưa hết phổ thông trung học đã phải tự mình kiếm sống, giống như đa phần các nhà thơ Việt trong hai cuộc chiến tranh, do lòng yêu nước, yêu thơ mà trở thành người cầm bút, rồi được bầu làm Chủ tịch Hội Văn Hóa Hữu nghị Ấn Việt. Phát biểu của ông được cả Hội trường cổ vũ nồng nhiệt.
                Đi sâu vào các vấn đề học thuật, nhà thơ Hoàng Hưng trở lại việc dịch thơ với quan điểm riêng mình nhưng lại mang tính phổ quát cao, được nhiều người đồng thuận. Theo ông Thương hiệu cho văn học Việt Nam chỉ có được một khi có những tên tuổi đủ sức chinh phục công chúng thế giới. Mà muốn chinh phục thế giới, trước nhất phải độc đáo - sự độc đáo của văn hóa và hiện thực Việt Nam nhưng thể hiện ở tận mức cá nhân chứ không chỉ là “đậm đà bản sắc dân tộc” nói chung. Nhưng sự độc đáo ấy phải mang một tư tưởng nhân văn cao sâu ở tầm nhân loại. Một đóng góp thực sự vào văn học thế giới phải là sản phẩm “3 trong 1” (cá nhân – dân tộc – nhân loại).
                Là giảng viên văn học bậc đại học ở Mindanao, miền nam Phillippines, chuyên giảng dạy văn học thế giới và văn học Châu Á, nhà văn Anthony L.Tan cho biết những năm trước, trong quá trình giảng dạy, ông chưa từng thấy một tác phẩm văn chương nào của Việt Nam cả. Lần đầu tiên ông tiếp xúc với một nhà văn đến từ Việt Nam là khi chị Nguyễn Bảo Chân được mời làm diễn giả tại một Hội thảo quốc tế về thơ đương đại và bản địa được tổ chức tại Manila, và khi được nghe nói về thơ Hồ Xuân Hương, ông thấy hơi bất thường khi sinh viên Phillippines có thể trích dẫn thơ bốn câu của Omar Khayyam mà không hề biết đến thơ của nữ sĩ Việt Nam hết sức độc đáo này. Bây giờ ông có thể đưa các bài thơ của bà vào tài liệu giảng dạy văn học Châu Á và tin rằng các sinh viên của mình sẽ thấy thú vị khi hiểu được thơ của Hồ Xuân Hương.
                Là người từng dịch nhiều tác phẩm văn học, triết học của nhiều nước trên thế giới sang tiếng Việt, đặc biệt chuyên nghiên cứu về nhà văn Nga Maiakopxki, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến phát biểu về những kinh nghiệm của mình trong công việc dịch thuật. Thật lý thú khi ông kể về việc Maia đã sửa lại một bản dịch tiếng Nga một bài thơ tiếng Anh mặc dù ông không biết tiếng Anh. Đó là bài thơ của Whitman, trong đó có câu :”Đêm đêm có những người đàn bà đứng vỉa hè bán xác thịt để nuôi miệng...”. Maia đã sửa lại câu thơ bằng cách bỏ đi chữ xác, vì ông nghĩ rằng một nhà thơ lớn như Whitman xót xa cho thân phận ê chề của những cô gái điếm, chỉ có thể viết về những người đàn bà đứng đường bán thịt, nói về họ là bán xác thịt thì tầm thường quá.
                Câu chuyện tưởng như đùa nhưng lại nói lên một điều vô cùng hệ trọng: “Người dịch thơ phải có tâm hồn đẹp, phải có cách cảm cách nghĩ tương đồng với nhà thơ. Không phải chỉ biết ngoại ngữ là đã dịch văn chương được.”.
                Các nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng (định cư tại Liên bang Nga), Trần Ninh Hồ Phui Lavanh (Lào), Paven Cupiac (Ba Lan) đều lần lượt tham gia thảo luận về các vấn đề giới thiệu văn học Việt nói chung và thơ Việt nói riêng với bạn bè quốc tế. Làm sao để :”Việt Nam! Tên của tôi thành tên của bạn/ Việt Nam! Tên của bạn thành tên của tôi.”
- Xin cám ơn tất cả các bạn. - Đó là lời cuối của nhà thơ Hữu Thỉnh, khép lại bài phát biểu của mình, cũng là khép lại một ngày sôi động, cởi mở và sang trọng của Hội thảo này.
 
Nguyễn Đức Huệ thực hiện
               
                  
 
                 
 
HỘI THẢO QUỐC TẾ VĂN HỌC VIỆT NAM VỚI CÁC GIÁ TRỊ CỔ ĐIỂN
Phạm Viết Đào.
 
Cả ngày 6/1/2010, tại hội trường khu biệt thự Tây Hồ, Hội thảo về Văn học Việt Nam với các giá trị cổ điển đã được tổ chức.
Tham dự hội thảo về chủ đề này, chúng tôi thấy sự có mặt của các đoàn nhà văn Ấn Độ, Romania, Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Mông Cổ...
Các đại biểu đã gửi tới Ban tổ chức các tham luận sau đây:
-Nhà văn Larry Heinemann (Mỹ) tham luận với chủ đề: Văn học Việt Nam và văn học dân gian;
- Nhà văn Lady Borton ( Mỹ ) Giới thiệu một số cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lý Thái Tổ vừa xuất bản tại nước ngoài;
- Sonomish Dashtevel ( Mông Cổ ): Văn học Việt Nam đối với độc giả Mông Cổ;
- Porpen Hantrakool ( Thái Lan ): So sánh hai nhà thơ lớn của Việt Nam và Thái Lan: Nguyễn Du và Sunthoon về các khía cạnh nội dung, hoàn cảnh xuất thân và bút pháp...;
- Chănthy Deausavanh ( Lào ): Văn học Việt Nam với độc giả Lào;
- Constantin Lupeanu ( Romania ): Thơ Hồ Xuân Hương và khát vọng sống cá nhân;
-Geetesh Sharma ( Ấn Độ ): Điểm qua thơ Việt Nam...;
- Karner Pete ( Hungari ): Vấn đề giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài;
Trên một chục bản tham luận của các nhà văn Việt Nam đề cập đến các vấn đề liên quan tới việc cần thiết tăng cường dịch và giới thiệu văn học Việt Nam nhất là văn học cổ điển, những giá trị đã được thời gian khẳng định ra nước ngoài.
Tại hội thảo, dịch giả Thúy Toàn cho biết: Hiện nay mặc dù số lượng dịch giả tham dự hội thảo ít hơn các chuyên đề khác nhưng theo dõi tình hình dịch văn học Việt Nam ra tiếng nước ngoài thấy: trong mấy năm gần đây, số lượng các tác tác phẩm văn học cổ điển vẫn là những số đầu sách được nhiều nước dịch. Dịch giả Thúy Toàn cho biết, trong mấy năm gần đây đã có trên 10 nước dịch và giới thiệu Thơ Hồ Xuân Hương; riêng Truyện Kiều dịch và xuất bản ở Hàn Quốc lần đầu năm 2004, đến nay đã tái bản lần thứ 3...
Mặc dù dịch văn học cổ điển Việt Nam là một công việc rất khó và khá mạo hiểm nhưng chúng ta hết sức hoan nghênh các dịch giả nước ngoài đã làm công việc này. Vấn đề chất lượng bản dịch cần được nâng và hoàn thiện dần.
Mở đầu hội thảo vào buổi sáng, nhà văn Constantin Lupeanu, nguyên là Đại sứ Romania tại Hà Nội nhiệm kỳ 2000-2004, ông là dịch giả và tổ chức xuất bản cuốn Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Romania.
Do ông là người hiểu tiếng Trung Quốc nên đã đọc Nhật ký trong tù từ nguyên văn chữ Hán và dịch Thơ Hồ Xuân Hương từ văn bản chữ Nôm; ông có tham khảo các bản dịch tiếng Anh khi dịch...
Dịch giả Constantin đã đánh giá cao các giá trị nhân văn của thơ Hồ Xuân Hương; tại Việt Nam hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo, trước bà và sau bà đều không có ai. Ông là người am hiểu văn học Trung Quốc, am hiểu văn học Pháp, Anh và cả nền văn học Romania; theo ông ở các nền văn học kể trên, ông không tìm thấy một hiện tượng thơ nào có thể so sánh được với Hồ Xuân Hương...Chính vì thế mà Thơ Hồ Xuân Hương trở nên vô cũng giá trị.
Việc dịch Thơ Hồ Xuân Hương không chỉ đưa được giá trị có tính bản sắc của văn học Việt Nam ra với thế giới mà còn góp phần làm giàu cho các giá trị nhân văn của thế giới, trong đó có Romania bằng chính những vần thơ của Hồ Xuân Hương...
Sau khi tham luận của nhà thơ Lupeanu nêu vấn đề dịch thơ Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên, Nguyễn Khắc Phi, Phạm Tú Châu trao đổi giải thích thêm với các nhà văn nước ngoài về cái khó của việc dịch thơ cổ điển Việt Nam trong đó có thơ Hồ Xuân Hương. Đối với thơ cổ điển Việt Nam nói chung và Thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Du nói riêng ngay đối với giới học giả văn học Việt Nam cũng phải trao đi đổi lại nhiều lần, nhiều năm, nhiều công trình nghiên cứu mà vẫn chưa ngã ngũ với nhau về ý nghĩa của một câu thơ, một tứ thơ nào đó.
Đặc điểm chung của thơ cổ Việt Nam là hàm súc điển tích; đối với Thơ Hồ Xuân Hương thì bà còn đưa vào nghệ thuật thơ của bà trò chơi chữ dân gian ví như lối nói lái của dân Nghệ Tĩnh; do vậy các dịch giả nước ngoài muốn tiếp cận, muốn dịch được thơ cổ Việt Nam thì nên có sự hợp tác với các nhà văn hóa Việt Nam có vốn am hiểu về kho tàng văn học Hán Nôm...
Trong các tham luận về vấn đề các giá trị văn học cổ điển, nhà nghiên cứu trẻ Trung Quốc Hạ Lộ có một bản tham luận đề cập so sánh các giá trị của truyện Nôm khuyết danh, Truyện Kiều với những tiểu thuyết tài tử giai nhân của Trung Quốc xuất hiện trong thời Minh-Thanh...
Nhà nghiên cứu lịch sử-triết học Thái Lan Porpen Hantrakool tỏ ra khá dày công và nghiên cứu sâu về Truyện Kiều của Nguyễn Du và công trình cũng đã đưa ra một số nhận định khá sắc sảo và khá sâu sắc.
Bà có đặt dấu hỏi và kết luận: Bản thân Nguyễn Du là người chịu ảnh hưởng của Nho giáo, tác phẩm của ông cho thấy sự ảnh hưởng của Nho giáo đến mức nào đối với đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Nguyễn Du sống vào giai đoạn Nho giáo ở Việt Nam đã không còn còn thiêng liêng như giai đoạn trước đó; đã bắt đầu xuất hiện những vết rạn nứt giữa lễ giáo Khổng Mạnh với đời sống thực của người dân và kể cả đối với tầng lớp kẻ sĩ như Nguyễn Du.
Thân phận của nàng Kiều liệu đó có phải chính là thân phận của Nguyễn Du, không được trung trinh với người mình yêu, do hoàn cảnh cuộc sống dẫn tới phải bán mình chuộc cha bởi chữ tình chữ hiếu? Đó là bi kịch của tác phẩm, bi kịch của Nguyễn Du hay cũng chính là nỗi đau, bi kịch con người của thời đại ông.
Theo nhà nghiên cứu Thái Lan, mặc dù Nguyễn Du chịu ảnh hưởng nặng của Nho giáo nhung cuối cùng, cái kết của Truyện Kiều lại khẳng định sức sống của Phật giáo, đó là: Tu là cõi phúc, tình là giây oan...
Nàng Kiều hay chính Nguyễn Du cuối cùng đành phải chấp nhận quy y theo Phật mặc dù có nguồn gốc xuất thân là Nho giáo...
Tại hội thảo này các dịch giả nước ngoài và các nhà văn Việt Nam đều bảy tỏ sự hoan nghênh việc tổ chức Hội nghị giới thiệu văn học của Hội Nhà văn Việt Nam; đây là dịp vừa quảng bá văn học và đồng thời để đưa hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam với thế giới.
Tại hội thảo này, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã góp ý với Ban Tổ chức: nên biến hội nghị này thành hội nghị khách hàng, là dịp để giới thiệu về văn học Việt Nam để bạn bè có cơ sở tiếp cận. Rất nhiều tham luận vẫn đi lạc đề bàn sang khâu bếp núc về nghề dịch. Lý ra cần có những tham luận có những nét khái quát, toàn cảnh để cung cấp thông tin cho các dịch giả nước ngoài nắm được nhừng nét cơ bản nhất về tình hình văn học Việt Nam, tác giả và tác phẩm như những thứ dữ liệu, nguyên liệu, “hàng mẫu” để các nhà dịch giả nước ngoài có nhiều cơ hội, thông tin để lựa chọn dịch giới thiệu văn học Việt Nam.
P.V.Đ
[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới:
   PHÁT BIỂU CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ VHTTDL – HOÀNG TUẤN ANH TẠI TIỆC CHIÊU ĐÃI CÁC ĐẠI BIỂU THAM DỰ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ “GIỚI THIỆU VĂN HỌC VIỆT NAM”(6/1/2010)
   Trao Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật(8/1/2010)
   Đêm thơ xao động Hạ Long(10/1/2010)
   Bế mạc Hội nghị Quốc tế Giới thiệu Văn học Việt Nam: Tràn đầy tình anh em và hy vọng(11/1/2010)
   THÔNG BÁO VỀ CHUYẾN ĐI ẤN ĐỘ(24/1/2010)
   Chúc mừng các hội viên mới (25/1/2010)
   Nguyễn Ngọc Hưng, người có số phiếu tuyệt đối (26/1/2010)
   Thông báo Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 14, Khoá VII (2005-2010) (26/1/2010)
Các bài đã đăng:
   DIỄN VĂN KHAI MẠC: HỘI NGHỊ QUỐC TẾ "GIỚI THIỆU VĂN HỌC VIỆT NAM"(5/1/2010)
   Lễ khai mạc Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam(5/1/2010)
   DIỄN TỪ CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG NGUYỄN THIỆN NHÂN TẠI HỘI NGHỊ QUỐC TẾ (5/1/2010)
   Hội nghị Quốc tế Giới thiệu Văn học Việt Nam: Tất cả đã sẵn sàng(4/1/2010)
   (31/12/2009)
   Để Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam thành công tốt đẹp(30/12/2009)
   Giao lưu Văn học cũng chính là Ngoại giao Văn hóa(28/12/2009)
   Gặp mặt tình nguyện viên Hội nghị Dịch thuật Giới thiệu Văn học VN(26/12/2009)
   Đại hội IV Hội Nhà văn Lào(26/12/2009)
Sự kiện
10 nhân vật có ảnh hưởng nhất thập kỷ
Nhân vật
Tiếng nói đáng tin cậy nhất của nước Mỹ
Bình Luận
Trách nhiệm cao đẹp của người nghệ sĩ
Giới Thiệu Sách
Nhiệt đới buồn
Mùa xuân với “Lời ru ngọn cỏ”
Chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay


 
 
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9448134 * Fax: (84-43) 8263777
Email: vanvn.net@gmail.com / hoinhavanvietnam@gmail.com
Tổng biên tập: Hữu Thỉnh
Giấy phép số 77/GP-TTTT- Cục Quản lý Phát thanh-Truyền hình và Thông tin Điện tử- Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 26/8/2008.
Hội Nhà văn VN giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign