Thảo Phương: Làm sao trở lại mùa Đông/ Dòng sông cây cầu đã gẫy/ Thôi đành ru lòng mình vậy/ Làm như mùa Đông đã về Thứ ba, 26/1/2010 | 10:50:35 PM
Trang chủ
Tin văn
Văn hóa - Nghệ thuật
Tiếng nói Nhà văn
Dư âm Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam
Nhà văn đang có hồ sơ xin vào Hội
Nhà văn ta đang làm gì?
Hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Lý luận - Phê bình
Tác phẩm và dư luận
Đối thoại
Nghề văn
Văn học với đời sống
VanVN.Net Giới Thiệu
Tác phẩm
Thơ
Truyện ngắn
Bút ký - Phóng sự
Tạp văn
Tiểu thuyết
Mỗi tuần một truyện ngắn, một chùm thơ
Nhà Văn Trẻ
Văn học nước ngoài
Tư Liệu Văn Học
Hội nhà văn
Cơ quan văn học
Hội viên
Di sản
Quán Văn Chương
Phiếm luận

Đọc nhiều nhất

Về cuốn hồi ký gây xôn xao trên mạng của một giáo sư

Cái tát của Lê Công Định

Sẽ còn những ai đứng đằng sau ông Huỳnh Ngọc Sĩ ?

Dư luận không giống như "Chú Thỏ" trong truyện "Cáo và Thỏ" thưa ông Đoàn Văn Kiển...

Hãy bình tĩnh, đừng quá riết róng theo kiểu “Giậu đổ bìm leo”

"Cái hèn" của người cầm bút

Ma đưa lối quỷ đưa đường hay bần cùng sinh đạo tặc... ( Về những vụ trộm cắp của người Việt bị phát hiện gần đây tại Nhật Bản)

Ăn ốc nói mò của một số người cầm bút


CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM SƠN

Xã Kiệt Sơn, huyện Tam Sơn tỉnh Phú Thọ; điện thoại: 0210 3745 002   Fax : 0210 3745 003   -   Email : - tamsontanson@yahoo.com
Đại diện tại Hà Nội: Phòng 330 Nhà K1 Khu Đô thị Việt Hưng, Long Biên Hà Nội điện thoại:  04 3652 4558 – Email: truongnd@gmail.com

  Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn (thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam) quản lý và sử dụng 10.903,1 ha thuộc địa bàn 10 Xã của Huyện Tân Sơn. Có điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc trưng của vùng miền núi trung du phía bắc rất thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.  
  Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty là: Trồng rừng NLG, khai thác, thu mua, vận tải cung ứng gỗ NLG cho Tổng công ty Giấy Việt Nam ; sản xuất kinh doanh giống cây NLG, chè búp tươi; thu mua, chế biến và tiêu thụ các loại lâm sản NLG; sản xuất, chế biến Nấm Dược phẩm (Linh Chi) và cung cấp Nấm thực phẩm sạch cho thị trường Thành Phố Hà Nội, Tỉnh Phú Thọ, các tỉnh lân cận. Sản xuất, xuất khẩu và cung ứng nội địa hàng trăm triệu đôi đũa tre mỗi năm.
  Các sản phẩm Nấm sạch của Công ty sản xuất ra luôn đảm bảo chất lượng, hàm lượng các chất dinh dưỡng, đã chinh phục được các bà nội trợ khó tính. Trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam.
  Công ty đã mở một số Đại lý, cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm  trên địa bàn các Tỉnh phía bắc
  Khách hàng có nhu cầu mua số lượng lớn hoặc mở Đại lý bán sẩn phẩm . Xin vui lòng liên hệ với Công ty .

Giám đốc     
Nguyễn Đức Sơn


 
Home / Dư âm Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam
Truyền thống và đổi mới trong văn xuôi hiện đại Việt Nam
Đặng Anh Đào ( 1/11/2010 9:38:54 PM )
Bởi sự xác định giới hạn thời gian của văn xuôi hiện đại ở Việt Nam không chỉ bao quát một trường độ dài bất tận, chưa khép lại (từ sau 1930 đến nay), mà còn trải qua nhiều thăng trầm, rẽ ngoặt, phân tranh (kể cả trong không gian) và nội hàm của nó chứa đựng rất nhiều loại hình nên bản báo cáo này cũng chỉ có thể giới hạn ở văn xuôi tự sự và ở một ấn tượng về bức tranh toàn cảnh, mà bản thân người viết đã có chứng thực qua nhiều bài nghiên cứu phê bình từ những năm 1980 tới nay: đó là sự kết hợp, chung đúc, truyền thống và đổi mới (bao hàm nét hiện đại) qua một số hình thức tự sự.
1. Thể loại gây ấn tượng nhất trải qua non một thế kỷ của lịch sử văn chương, hiện tượng nổi bật về chất và lượng, vẫn là truyện ngắn. Mở đầu với những tên tuổi như Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài… đến nay, nếu muốn nêu tên những cây bút sáng giá, quả là có thể lấp đầy một trang giấy, mà vẫn có thể gây ra những ý kiến bất đồng vì sự lựa chọn. Chí ít, trong giới hạn của vấn đề, có thể nêu vài hiện tượng chung đúc được truyền thống và đổi mới: đó là Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Trần Thuỳ Mai, Lê Minh Khuê, Lê Văn Thảo…
2. Một vài thể loại tự sự khác, thường xuất hiện trước tiên trên báo chí nay trở thành một hiện tượng có hiệu quả tức thì, mà sức chấn động vẫn rất sâu xa. Các loại ký, gần đây, giống như chùm pháo sáng phóng liên tục vào đêm dài của ký ức hoặc sự mù mịt trong tâm thức con người hiện đại - vốn đuổi theo nhu cầu bản năng mà quên đi chính những vấn đề lẽ ra phải là thường trực, cấp thiết, thường nhật của mình. Tôi muốn nói đến các loại ký, phóng sự và cả tản văn nữa.
- Đã có những ký sự, thư từ, nhật ký từ cuộc kháng chiến 1945 - 1954 của Trần Đăng, Nam Cao… Những tài năng mệnh yểu…Trong khói lửa chiến tranh, biết bao nhiêu tư liệu đã bị thiêu rụi bởi không có tiếng kêu "Đừng đốt"! Nhưng vượt qua khoảng cách của lãng quên, những con chim lửa tái sinh từ tro tàn ấy, những nhật ký, những bức thư thất lạc ấy, loại "tác phẩm" đối thoại với chính bản thân tác giả ấy, bởi chính sự trung thực riêng tư của nó lại nhóm lên ngọn lửa trong tim của bao con người đang sống, đã "già" hơn họ tới mấy thập niên.
- Giao thời giữa hai thế kỷ cũng là thời khắc chiêm nghiệm của thế hệ người Việt đã trải qua ba biến cố dồn dập: Một cuộc cách mạng và hai cuộc chiến. Việc nêu tên các nhà văn viết hồi ký cũng dễ gây tranh luận bởi một lý do giống với trường hợp truyện ngắn - dẫu số lượng tác phẩm ở đây ít hơn. Nếu tiêu chí vẫn là sự chung đúc truyền thống và đổi mới, tôi có thể kể những tác giả như Tô Hoài- chỉ lấy một ví dụ như Cái bản thảo bị mất, vỏn vẹn trong vài trang báo, đã dựng lại cả một bầu trời khói lửa, đánh thức những địa danh, lối nói đằm thắm, duyên dáng của người Kẻ chợ, vùng Kinh Bắc đang bị phôi pha trong ký ức của người hiện đại. Rồi Nguyễn Khải, với lối nói, phong thái của "bộ đội cụ Hồ", kể cả trong một cuốn ông ghi là "Tiểu thuyết", nhưng tôi lại thấy đó là hồi ký (cuốn Thượng đế thì cười)…Bản thân nó là một loại tự hư cấu - rất mới ở Việt Nam.
- Trong liên hệ và tác động trực tiếp tới nhiều vấn đề ngổn ngang nhức nhối của thời sự, phóng sự là một hình thức mũi nhọn, nó thức tỉnh lương tri của những con người trước những vấn đề thường nhật cũng là sống còn của họ. Nếu nhân vật trung tâm của ký sự, phóng sự thời chiến là những con người làm nên lịch sử, thì phóng sự ngày nay còn có thêm một hướng mới: những nhân vật là nạn nhân không chỉ của những lực lượng bên ngoài, mà là nạn nhân của chính họ. ở đây tôi không thể kể hết tên tuổi của đội ngũ phóng viên rất trẻ, tràn đầy sinh lực, có đủ sức mạnh thể chất và tinh thần, để đi tới những miền hoang dã nhất, nhiều khi chỉ để lên tiếng SOS về sự biến mất của hoang dã! Mỗi một tờ báo đều có ít nhất vài tên tuổi đã quen thuộc và đầy hứa hẹn. Cái mới không chỉ ở "chiến trường" mới, mà còn ở "võ thuật"mới: chỉ riêng về ngôn ngữ, họ mang về chất thơ của phương ngữ, sự đa dạng của tiếng lóng, nghề nghiệp, chất bụi bặm của đủ loại người, từ những dân chích choác, gái gọi thượng lưu hoặc quán đèn mờ, các vị khách Tây ba lô, tới các vị "có máu mặt", đại gia hoặc quan chức…
- Tản văn ở Việt Nam hiện nay cũng là một hình thức gắn với báo chí, và cũng thể thấy nó thường trực trên báo chí, thậm chí có khi mang hơi hướng của phóng sự. Không phải ngẫu nhiên mà nó đã cuốn hút một số tên tuổi của thơ và truyện ngắn (Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Duy, Phan Thị Vàng Anh…). Tản văn có cái hàm súc của truyện ngắn và bay bổng của thơ, mà lại có cái nóng hổi của thời sự, bởi ngày nay, từ suy tưởng miên man về những chuyện "đi trên đường cái quan", về chuyện "tô tượng" ở chùa chiền, tới những hoài niệm về món ăn Việt của người xa xứ, ta thấy cả sức mạnh của linh hồn Việt.
3. Tiểu thuyết đang bị coi là còi cọc, "chậm phát triển" ở ta, về số lượng cũng như chất lượng - đặc biệt là trong bối cảnh đương đại. Có lẽ so với thế giới, tiểu thuyết Việt Nam thuộc loại sinh sau đẻ muộn nhất (kể cả ấn Độ). Bởi vậy, nó cũng không thể được coi là một thể loại truyền thống. Đạt tới đỉnh cao vào thời kỳ trước cách mạng, đứt quãng trong một thời gian dài, sự trở về đáng ghi nhận của nó lại in dấu ấn của những tác phẩm, tác giả thể nghiệm chiến tranh: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khải, Chu Lai, Bảo Ninh…- dẫu có khi, tiếng vọng chiến tranh chỉ là bè trầm cho những âm hưởng xô bồ của cuộc sống thời bình. Những ngày này, ta cũng đang chứng kiến sự trở lại của tiểu thuyết lịch sử, với giải thưởng cao nhất của Hội nhà Văn. Song dường như nếu xét về góc độ người tiếp nhận, nó ít thu được tiếng vang hơn là những tiểu thuyết tâm lý xã hội - ngay cả ở giới thuộc về trường ốc, khoa bảng: hầu như tỷ lệ áp đảo của các luận văn, luận án là dành cho tác giả truyện ngắn, sau đó đến loại tiểu thuyết tâm lý xã hội.
Một loại rất hiện đại là tiểu thuyết trinh thám, không có truyền thống ở Việt Nam mà nó còn chịu một số phận đẻ non, chết yểu (chỉ xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ trước với vài tác giả của Tự Lực Văn Đoàn). Đến nay vẫn chưa thấy có sự đầu thai lại, dù đã có một tờ báo bán chạy treo giải thưởng khá lớn - nhưng rút cục thậm chí không có một truyện nào được lên khung trong năm 2004!
4. Sự trở về nguồn cuội diễn ra song song với đổi mới trong kết cấu tự sự và ngôn từ của văn xuôi hiện đại.
Chúng tôi muốn kết thúc bản báo cáo bằng một nhận định bao quát các hình thức thể loại đã điểm ở mục 1,2,3.
Về kết cấu truyện: Âm hưởng của văn học dân gian vẫn trường tồn trong văn xuôi tự sự Việt Nam, tuy một vài phương thức không phù hợp với hướng dân chủ hoá quan hệ giữa ngưới phát - người tiếp nhận đã bị xóa mờ ở cuối thế kỷ XX. Tôi muốn nói đến hai dạng kết cấu cốt truyện. Một là: lối kết cấu dựa trên ranh giới Thiện và ác, vốn tồn tại dai dẳng trong một thời kỳ dài độc tôn của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (ở miền Bắc), nay đã nhường chỗ cho một kết cấu mờ nhoè. Hai là, lối kết thúc đóng kín, hoặc hẹp hơn, theo thuật ngữ đạo lý, là kết thúc có hậu - cũng dai dẳng biến hoá qua "sự thể hiện cuộc sống trong quá trình cách mạng của nó" (châm ngôn của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa) nay đã nhường chỗ cho những kết thúc mở.
- Về diễn ngôn tự sự: Sự bảo tồn âm hưởng "nghe" rất trường tồn ở văn xuôi tự sự. "Những mối liên hệ hình thức biểu thị sự song song về âm điệu" (Jean Louis Calvet)[1] "một điều kì thú của phương Đông (…) nguồn nuôi dưỡng từ tiếng nói có dấu nhấn của họ (…) thứ ngôn ngữ theo đợt giật (…) gợi nhớ tới bàn tay vỗ và chân dậm giật"[2] (theo Lịch sử các nền văn học - Etiemble chủ biên) và Phan Ngọc cũng xác định, "tính hỗn đồng" này "được duy trì liên tục (…) với một vai trò khác hẳn ở châu Âu"[3]. Bản thân tôi cũng đã suy ngẫm về hiện tượng này qua những bài viết về "Cụm từ bền vững", về những tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, về Trần Thuỳ Mai[4]… Chính vì nét đặc sắc này, tác phẩm của họ rất khó chuyển ngữ.
Một sự kết hợp những yếu tố nghịch dị cũng đã khiến so với thời trước cách mạng và chiến tranh, văn tự sự giờ đây đổi khác: nó không thuần tuý một giọng điệu nữa. ở đây tôi muốn nói đến hai hiện tượng. Thứ nhất, sự đan cài của cái kỳ ảo và cái grotesque đã mang lại ma lực cho truyện của các nhà văn trẻ (như Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thuỳ Mai…). Thứ hai, hình thức nhại (parodie) trong đề tài lịch sử, truyền thuyết vốn tôn nghiêm, chính xác (?) đã tạo ra một làn sóng "giả - lịch sử", "giả - huyền thoại" mở đầu với Nguyễn Huy Thiệp.
Có lẽ hình thức duy nhất gần như không phát triển ở văn xuôi tự sự Việt Nam, đó là biếm hoạ (caricature). Tôi coi cuốn Ba người khác của Tô Hoài là một hình thức biếm hoạ. Nó đã gây tranh cãi và dường như là mẫu vật duy nhất của hình thức này, trong một thời gian dài, kể từ sau cách mạng - chí ít ở độ dài văn bản của nó. Còn lại, chỉ là những tiểu phẩm.
Bản báo cáo này chỉ trình bày những hiện tượng thuộc phần ngọn mà chưa đi sâu vào được phần gốc. Đó là chưa kể nó vẫn bỏ qua một loại hình văn xuôi tự sự rất hiện đại và có gốc rễ trong truyền thống: đó là những văn bản kịch. Về không gian và thời gian, mảng văn học ở Miền Nam 1945 - 1975 và văn xuôi hải ngoại cũng chưa được khảo sát. Đó là những khoảng trống đáng tiếc ở báo cáo này. Mong có sự phản biện và bổ sung từ các bạn.


 


[1] Louis - Jean Calvet (1997) La tradition orale, PUF, tr.21
[2] Etiemble (Chủ biên) (1956), Histoire des Littératures (T1), Pléiade, tr.129
[3] Phan Ngọc (2001) Suy nghĩ về vai trò của văn học dân gian trong Đông Nam á lục địa, in: Vấn đề văn học so sánh: Lý luận và ứng dụng, Nxb Khoa học Xã hội, tr.156
[4] Đặng Anh Đào (2007), Việt Nam và phương Tây: Tiếp nhận và giao thoa trong văn học, Nxb Giáo dục
[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới:
   Ân tình dư ba(12/1/2010)
   A River Poem (Bài thơ dòng sông), Mother And Me (Mẹ và tôi)(14/1/2010)
   Tôi xin lấy tinh thần lạc quan, vui tươi…(14/1/2010)
   Chănthy Deasavanh ở Hạ Long(15/1/2010)
   Ngồi lại với báo chí(22/1/2010)
   Các dịch giả nước ngoài tại Hội nghị Quốc tế giới thiệu văn học VN nói gì?(24/1/2010)
Các bài đã đăng:
   KHOẢNG TRỐNG CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TRÊN VĂN ĐÀN NGA(10/1/2010)
   Hồ Xuân Hương với những khát vọng sống cá nhân(2/1/2010)
   Thơ cổ điển Việt Nam ở Ba Lan(30/12/2009)
   Cần một tầm nhìn xa, đầu tư có chiều sâu(25/12/2009)
   Aminios - Một dự án truyền bá thơ Cuba ra thế giới (AMNIOS, UN PROYECTO DE DIFUSIÓN DE POESÍA, DESDE CUBA PARA EL MUNDO(22/12/2009)
   Kinh nghiệm dịch thơ và dịch triết văn(22/12/2009)
   Trong các xung lực của ngoại giao văn hóa…(21/12/2009)
   Thơ Lưu Trọng Lư song ngữ Hán - Việt ở Trung Quốc(21/12/2009)
   Khách quốc tế đến Hội nghị Quốc tế Giới thiệu Văn học Việt Nam(17/12/2009)
Sự kiện
10 nhân vật có ảnh hưởng nhất thập kỷ
Nhân vật
Tiếng nói đáng tin cậy nhất của nước Mỹ
Bình Luận
Trách nhiệm cao đẹp của người nghệ sĩ
Giới Thiệu Sách
Nhiệt đới buồn
Mùa xuân với “Lời ru ngọn cỏ”
Chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay


 
 
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9448134 * Fax: (84-43) 8263777
Email: vanvn.net@gmail.com / hoinhavanvietnam@gmail.com
Tổng biên tập: Hữu Thỉnh
Giấy phép số 77/GP-TTTT- Cục Quản lý Phát thanh-Truyền hình và Thông tin Điện tử- Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 26/8/2008.
Hội Nhà văn VN giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign