Thảo Phương: Làm sao trở lại mùa Đông/ Dòng sông cây cầu đã gẫy/ Thôi đành ru lòng mình vậy/ Làm như mùa Đông đã về Thứ tư, 13/1/2010 | 11:58:38 AM
Trang chủ
Tin văn
Văn hóa - Nghệ thuật
Tiếng nói Nhà văn
Dư âm Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam
Nhà văn đang có hồ sơ xin vào Hội
Nhà văn ta đang làm gì?
Hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Lý luận - Phê bình
Tác phẩm và dư luận
Đối thoại
Nghề văn
Văn học với đời sống
VanVN.Net Giới Thiệu
Tác phẩm
Thơ
Truyện ngắn
Bút ký - Phóng sự
Tạp văn
Tiểu thuyết
Mỗi tuần một truyện ngắn, một chùm thơ
Nhà Văn Trẻ
Văn học nước ngoài
Tư Liệu Văn Học
Hội nhà văn
Cơ quan văn học
Hội viên
Di sản
Quán Văn Chương
Phiếm luận

Đọc nhiều nhất

Về cuốn hồi ký gây xôn xao trên mạng của một giáo sư

Cái tát của Lê Công Định

Sẽ còn những ai đứng đằng sau ông Huỳnh Ngọc Sĩ ?

Dư luận không giống như "Chú Thỏ" trong truyện "Cáo và Thỏ" thưa ông Đoàn Văn Kiển...

Hãy bình tĩnh, đừng quá riết róng theo kiểu “Giậu đổ bìm leo”

"Cái hèn" của người cầm bút

Ma đưa lối quỷ đưa đường hay bần cùng sinh đạo tặc... ( Về những vụ trộm cắp của người Việt bị phát hiện gần đây tại Nhật Bản)

Ăn ốc nói mò của một số người cầm bút


CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM SƠN

Xã Kiệt Sơn, huyện Tam Sơn tỉnh Phú Thọ; điện thoại: 0210 3745 002   Fax : 0210 3745 003   -   Email : - tamsontanson@yahoo.com
Đại diện tại Hà Nội: Phòng 330 Nhà K1 Khu Đô thị Việt Hưng, Long Biên Hà Nội điện thoại:  04 3652 4558 – Email: truongnd@gmail.com

  Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn (thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam) quản lý và sử dụng 10.903,1 ha thuộc địa bàn 10 Xã của Huyện Tân Sơn. Có điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc trưng của vùng miền núi trung du phía bắc rất thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.  
  Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty là: Trồng rừng NLG, khai thác, thu mua, vận tải cung ứng gỗ NLG cho Tổng công ty Giấy Việt Nam ; sản xuất kinh doanh giống cây NLG, chè búp tươi; thu mua, chế biến và tiêu thụ các loại lâm sản NLG; sản xuất, chế biến Nấm Dược phẩm (Linh Chi) và cung cấp Nấm thực phẩm sạch cho thị trường Thành Phố Hà Nội, Tỉnh Phú Thọ, các tỉnh lân cận. Sản xuất, xuất khẩu và cung ứng nội địa hàng trăm triệu đôi đũa tre mỗi năm.
  Các sản phẩm Nấm sạch của Công ty sản xuất ra luôn đảm bảo chất lượng, hàm lượng các chất dinh dưỡng, đã chinh phục được các bà nội trợ khó tính. Trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam.
  Công ty đã mở một số Đại lý, cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm  trên địa bàn các Tỉnh phía bắc
  Khách hàng có nhu cầu mua số lượng lớn hoặc mở Đại lý bán sẩn phẩm . Xin vui lòng liên hệ với Công ty .

Giám đốc     
Nguyễn Đức Sơn


 
Home / VanVN.Net Giới Thiệu
Mạc Can và chùm truyện “Cuộc hành lễ buổi sáng”
( 11/29/2009 9:40:26 PM )
 Từ khi Tấm ván phóng dao, tiểu thuyết đầu tay của ông hề già lần đầu bước vào việc viết vượt lên nhiều cây tiểu thuyết từng lừng danh trên văn đàn, giành giải nhất cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn VIệt Nam, 2005, Mạc Can  bắt đầu được khai thác nhiều trên các tờ báo với vô vàn chuyện đời, chuyện nghề rất hấp dẫn. Nhiều đến nỗi công chúng đã quen với câu thành ngữ: Danh hài già, nhà văn trẻ sinh năm 1945 này. Nhưng người trong nghề thì có vẻ chưa chịu. Có thể chỉ là ngẫu nhiên như người bỗng dưng nhặt được vàng, sau Tấm ván phóng dao thì… thôi! Nhưng hoá ra không ai nhặt được vàng ở đây, qua những đoạn trích trong bài viết của Tiểu Quyên sau đây chúng ta sẽ biết thêm quá trính lao động nhà văn nhọc nhằn của Mạc Can. Nhân thể, vanvn.net cũng giới thiệu chùm truyện ngắn của ông, để bạn đọc tiện kiểm chứng…
 
MẠC CAN
Tiểu Quyên
 
 
Mạc Can kể, ông  bắt đầu tập tành viết truyện ngắn, gửi đi các báo. Ban đầu chẳng nơi nào thèm đăng, người ta thường trả lại bản thảo cùng lá thư cám ơn đánh máy hẳn hoi - lá thư nhân bản vô tính và vô cảm. Không ít anh em đồng nghiệp cười tội nghiệp cho một lão già lẩm cẩm. Nhưng rồi viết mãi, gửi hoài thì cũng thành công. Nhờ "kinh nghiệm" trả bản thảo mà ông đã viết được Người nói tiếng chim bồ câu, sau này được in trong một tuyển tập truyện ngắn hay của NXB Hội Nhà văn. Nhân một lần đi công tác ngoài Hà Nội, Mạc Can ghé vào Hội Nhà văn để cảm ơn. Ở đây ông được mọi người khen là có cách viết lạ. Nhà văn Lê Minh Khuê tò mò nhìn vào cái túi đen to đùng của ông: "Thế trong cái túi kia có mang theo truyện nào không?". Ông hấp tấp lôi ra một bản thảo trao cho nữ nhà văn. Ít lâu sau, Lê Minh Khuê gọi điện nói với ông: "Người trong nghề nhận xét là ông viết cảm động quá! Nhưng phần sau đâu rồi?". "Tôi chưa viết" - Mạc Can đáp. "Sao vậy?" "Bởi vì tôi nghĩ rằng sẽ chẳng được đăng nên không có hứng viết tiếp". "Thế thì ông viết đi!". Mạc Can về nhà, hăm hở ngồi trước chiếc máy vi tính cũ kỹ, tay phăm phăm mổ bàn phím... Một tuần sau, ông viết xong cuốn truyện, gửi ra Bắc, với sự hồi hộp, phập phồng hy vọng. Một hôm, đang đi trên đường, Mạc Can nhận được điện thoại của nhà văn Hồ Anh Thái thông báo cuốn sách sẽ được in.
Kể đến đây, Mạc Can ngừng lại, khuôn mặt ông tràn đầy xúc động và bừng sáng niềm hạnh phúc như sự kiện ấy vừa mới diễn ra hôm qua. "Những lời động viên khen ngợi ấy đã làm cho tất cả những vất vả, cực khổ của cuộc đời tôi trước kia đều tiêu tan hết. Nghe xong cú điện thoại, tôi tấp xe vào lề đường, đứng khóc cho an toàn. Trời ơi, thì ra cuộc đời này vẫn còn nhiều điều đáng để chúng ta sống lắm! Càng khổ tâm, càng cam go, càng gay cấn thì càng đáng sống".
Đó chính là sự ra đời của Tấm ván phóng dao. Cuốn truyện đã tạo ra một dư luận. Với Mạc Can, điều này thật quá sức tưởng tượng! Ông tâm sự: "Trong cuộc đời, tôi trân trọng nhất là phụ nữ và trẻ em. Với phụ nữ, tôi thấy họ thật mong manh, yếu đuối. Thế mà trò phóng dao (hầu như ở đoàn xiếc nào cũng có) không hiểu tại sao người đứng sau tấm ván không phải thằng hề mà luôn luôn là một phụ nữ? Tôi đã bực tức, bất mãn vô cùng trước trò mua vui độc ác này. Sự trăn trở ấy ám ảnh tôi nên khi đặt bút viết, tôi thấy không khó khăn gì"…
 
Nhiều người đã ngạc nhiên về kỹ thuật của cuốn truyện, bởi nó được viết ra với một bàn tay biết sắp xếp, bố cục rất chặt chẽ và mới mẻ. Dư luận đã đề cập tới thủ pháp giãn cách, thủ pháp montage... trong cuốn truyện. Đó là những khái niệm xa lạ với Mạc Can. Ông nói: "Với tôi, đọc sách cũng như việc uống thuốc, viên thuốc phải bọc đường, bọc sôcôla mới dễ uống. Người viết phải làm sao tạo ra sự thú vị mới cuốn hút được độc giả. Nghĩ và tôi đã làm thế".
Bây giờ, trong đầu ông chỉ toàn những cốt truyện. "Với tôi, đam mê văn chương chưa đủ mà nếu không viết nữa tôi sẽ bị chết. Chết thể xác, chết tâm hồn và chết nhiều thứ nữa... Không viết, cuộc đời tôi có niềm vui nào lớn hơn?".
Nhìn khuôn mặt lo lắng của ông khi mường tượng đến ngày nào đó ông ngừng viết, chợt thấy buồn cười: người mê viết như thế mà lại sợ hai chữ nhà văn! Không dám nhận mình là nhà văn nhưng vẫn coi viết lách như một mục đích tồn tại - ông thừa tiêu chuẩn trở thành một nhà văn thứ thiệt, thưa văn sĩ Mạc Can! Vanvn.net gửi bạn đọc hai trong những truyện ngắn gần đây của Mạc Can.
              
 
 
 
 Cuộc hành lễ buổi sáng
Truyện ngắn
 
 
TTCN - Kính thưa quí độc giả, tôi là... cái bàn quèn. Tôi có ba chân bằng nhau, một chân cà thọt, cụt hơn mấy người anh em kia khoảng lóng tay. Có tật có tài. Tôi có tài “bà Tám” nhiều chuyện.
Trong quán phở một ngày biết bao người tới, tôi nghe biết bao nhiêu là chuyện. Tôi rất bận bịu, như quý khách thấy, hiện giờ trên mặt tôi đầy những dĩa rau, những chai tương, chén ớt. Và tôi đang liếc nhìn một ông khách. Sáng nào ông ta cũng từ con hẻm nhỏ đi tới cửa quán. Vẻ nôn nóng. Hôm nay nhìn thấy tôi quá bận, vì khách ăn phở hôm nay đông hơn mọi ngày, nên ông ta lui ra, ngồi đâu ở mấy cái bàn ngoài vách. Nhưng một lúc sau ông đi vào nhà, tới ngồi kế bên tôi. Giận dữ, ông lấy tay gạt đi nhiều thứ trên mặt tôi rồi ngồi cúi nhìn xuống đất, im re một lúc khá lâu. Bỗng ông ngước mặt nhìn lên trần nhà la lớn, làm cho tôi giật thót... bàn; còn các vị khách thì giật mình:
- Ăn hết ngon!
Tôi nghĩ là quí khách nghe chuyện khẽ hừ một cái, và có thể khẽ cười. Tôi phải ngưng chuyện của tôi một chút để tường thuật sốt dẻo về ông khách mặt rỗ hoa, màu da tai tái như con gà mái này. Môi ông khẽ nhếch lên, phô vài cái răng trắng nhởn. Ông ta to con, vì vậy mà... hao xăng, tốn nhiên liệu, tánh xấu đói. Người đàn bà nấu phở vội vã nói với chồng:
- Anh hỏi coi ảnh ăn gì.
Ông kia cằn nhằn:
- Hỏi mẹ gì nữa, nấu vàng ăn cũng hết ngon.
Người chồng của bà nấu phở tới đứng cạnh tôi, không nhìn ông khách cũng không hỏi ông ăn gì. Ông kia hằn học nói lớn:
- Tô khô như cũ, nước lèo, đầu gà để riêng.
Người chồng của bà nấu phở quay đi. Khi trở lại, trên tay ông là một tô phở nóng, khô queo không có nước lèo, cố ý dằn mạnh trên mặt tôi, trước mặt ông kia. Ông khách cay cú nhìn tô phở, vừa cằn nhằn, vừa nghiến răng, vừa bẻ, vừa lặt đủ thứ rau, rồi lườm lườm múc tương ớt, tương đen; bực bội bỏ giá sống (giá sống phải trụng để riêng trong cái chén cho ổng) trộn vào phở. Ông cự nự... nặn chanh. Ông lầm bầm... bỏ ớt vào tô phở “xe lửa” bự chảng. Ông hầm hừ thò đũa cuộn tròn một mớ phở, như người Tây ăn mì Ý, cho cuộn phở vô miệng, nút một phát, sợi phở chạy rột tuốt vào miệng. Sau đó hai tay ông trân trọng cầm cái tô nước lèo, tái nạm, sụn gân, tủy đuôi, nước béo, thêm mấy cái đầu gà luộc, mỏ gà vêu lên, mắt gà nhắm híp. Nâng tô nước lèo lên môi, ông uống một ngụm, khuôn mặt biến chuyển lạ kỳ. Từ lo lắng bây giờ mới giãn ra, vẻ khoái trá.
Thường thì người ta chỉ ăn mì khô hay hủ tíu Nam Vang khô kiểu nầy. Phở, tái nước hột gà ăn thêm thì có. Phở, áp chảo sốt vang cũng có. Còn phở... khô thì tôi mới thấy mỗi một mình cha này ăn một cách kỳ cục.
- Hành trần. Củ cải.
Mồ hôi nhỏ giọt trên trán, cái miệng láng mỡ. Trong lúc chờ ông ta cau có nhìn quanh, nói lớn:
- Nhìn cái gì. Tui bị lên máu biết không. Đói là hạ đường huyết, tay run vầy nè biết không. Sáng mà không ăn kịp là có khi chầu trời. Tôi vô trước kêu trước (phải, tôi thấy ông ta ngồi bên cái bàn ngoài vách) mà cả tiếng đồng hồ ngồi chờ. Chờ ngóng cổ dài râu mà... đ.m. nó, nó cứ bưng tô phở đi ngang mình rồi đưa cho người khác. Tức không. Ăn hết ngon.
Ông này dữ tánh lại háu ăn hơn người. Phục vụ trong quán phở chỉ có hai ngoe. Người đàn bà có cái mông lớn, đứng nấu phở coi cũng dữ tướng, đôi môi nhỏ màu son nâu tím Hàn Quốc lúc nào cũng mím chặt. Bà rầy ông chồng cũng to con, da màu nâu sẫm trời cho, chân mày xếch ngược lên cái trán thấp, mắt lộ trắng dã, ria mép trên cái môi dày chọc vào miệng, râu quai nón kín hàm lởm chởm ngả màu đỏ, khuôn mặt gây sự, chân đi chấm phẩy.
Bà vợ nói:
- Biết vậy thì anh bưng trước cho ổng đi, khổ quá!
Ông chồng nghiến răng:
- Tao thấy nó vô tao chết liền.
Câu nói “chết liền” mới nảy sinh trong dân gian mấy lúc gần đây; trong trường hợp nào tôi không biết nhưng ở hoàn cảnh nầy nghe suông tai.
Ông Trương Phi râu đỏ đứng cạnh vợ, phụ bỏ hành, múc nước lèo trong cái thùng bốc khói đổ vào tô. Mà coi ngộ ghê chưa, ông ta cũng vừa nghiến răng, vừa múc. Vừa chửi thề, vừa nhón tay nhúng cọng hành trần vô nước nóng. Vừa cự nự vừa vớt cọng hành lên. Vừa lầm bầm chửi vừa như muốn liệng mẹ cái muỗng lớn ra ngoài đường. Giận. Tôi lại nghĩ rằng quí độc giả hừ lên một tiếng nữa. Và cũng có thể cười nụ.
Bàn tay to lớn, mấy ngón tay như trái chuối sứ của ông Trương Phi run run, cái miệng dữ dằn rít nhỏ:
- Mày... mày mà gặp tao mấy năm trước là rửa cẳng lên bàn thờ ngồi nghe con.
Ông ta thở mạnh, cho thấy răng đang cắn chặt, nổi lên từng thớ thịt trên cái quai hàm bạnh ra. Ông cà nhắc đi tới, tay cầm cái chén hành trần với vài củ cải trắng dằn mạnh trên mặt tôi, trước mặt ông kia. Rồi lại rít nhỏ hơn qua kẽ răng:
- Mày biết bản tánh khốn nạn của tao mà. Tao giận là tao run, tao run là lên máu, tao lên máu là chém, nghe chưa.
Ông chồng thở hổn hển, cà nhắc trở lại đứng bên vợ, tay cầm con dao phở chặt vào cái thớt mòn. Bà vợ giật con dao lại, mím môi thở ra kẽ răng mấy tiếng:
- Buôn bán mà làm cái gì như ăn cướp vậy, mất khách chết đói cả đám.
Vậy là mình có hai ông bạn hiếm thấy. Một ông đói thì giận. Một ông bưng tô “nhạy cảm” thì cũng giận. Hai ông đều có bệnh giống nhau. Run tay lên máu quạu quọ. Lạ kỳ trong cái chuyện đời nhiêu khê này. Thường thường những ông sống nhờ vợ lại có tướng mạo oai phong, tánh tình quạu quọ. Trong lúc ông này bực bội, nực nội, nóng hơ bỏ ra cửa quán, tay cầm ly trà đá, tay cầm một vạt áo phe phẩy cho nguội thì ông kia cũng tự ái giận hờn, ngồi nghiến răng.
Điều lạ với người mới biết chuyện là như vầy. Ăn phở khô thì ông ta sảng khoái thấy rõ nhưng ngần ngại. Nhìn cái đầu gà luộc to tướng mà chính ông gọi, ông lo lắng moi cái óc gà nhỏ xíu bỏ vào miệng, nhắm mắt khổ sở nuốt mắt gà đục ngầu. Xong một cái lại ngần ngại cố ngậm trong miệng cái đầu con gà khác. Bóc cái mào cứng của nó, bỏ vào miệng trệu trạo nhai và nuốt trọn. Nhìn ông dùng đầu gà một cách thành kính như một lễ cúng ai cũng lạ mắt và hơi tức cười. Chân ông ta ở dưới bàn co giật, đụng mạnh vào cái chân cà thọt của tôi đang kê trên một nút khoén. Chân tôi sụp thì mặt tôi chông chênh nghiêng. Tô nước lèo sóng sánh đổ tràn ra. Ông ta vẫn cố ngậm cái đầu gà ở khoảng cái cổ dài của nó. Thành ra khi ông cúi xuống bàn nhìn cái chân thiếu thước tấc của tôi, tôi thấy bốn con mắt giống nhau; hai con mắt của ông và hai con mắt của cái đầu gà. Hình như nó chớp chớp mi mắt.
Hình như cái đầu gà còn sống và nó muốn gáy. Một chân của ông ta, ngón cái và ngón kế bên khéo léo gắp cái quai dép cũng của ổng, đẩy nhẹ chiếc dép kê vào cái chỗ hở giữa đất và chân tôi. Ông ta rùng mình trợn trắng cho tới khi cất cái đầu lên. Miệng ông đang nút cái mỏ gà, cái mỏ gà hình như cũng đang nghiến răng, nhắm mắt chịu trận. Nếu như con gà có răng... Thủ cấp con gà nòi đã chết, luộc tái. Cái mặt gà đỏ rần hung dữ gây hấn lúc còn sống bây giờ trắng nhợt nín thinh. Qua một nụ hôn môi sặc mùi hành.
***
Trở lại chuyện tôi. Tôi là cái bàn xấu xí đứng khập khễnh cuối vách tường bám đầy khói bếp và bồ hóng. Chỉ có một cái ghế khá cao, cũng sứt tai gãy gọng, suốt ngày đứng cạnh tôi. Luôn luôn đứng cạnh tôi. Vì nó cao mà mấy bàn phở kia thì thấp, không ai chuộng nó. Chuộng nó, tức là ngồi lên nó, người ăn phở phải còng lưng cúi cái mỏ xuống cho gần miệng tô, quá khó khăn khi ăn sợi phở dài. Có những điều bất tiện như vậy trong đời sống hằng ngày nhưng vẫn không thay đổi, kéo dài triền miên. Duy chỉ có Ba Gà Mổ, người khách tôi vừa kể ăn phở khô, là hay ngồi cái ghế cao và ngồi cạnh tôi cũng rất thấp, dù ông ta cũng phải còng lưng cúi sát xuống miệng tô. Tôi nghiệm ra ông ta ăn phở như cái đám giỗ nhỏ, chén dĩa đầy bàn. Nên nếu không có gì trở ngại, nghĩa là nếu tôi không quá bận bịu thì ông mặt tái luôn chọn cái góc này. Để được ngồi làm cái lễ kỳ lạ với những cái đầu gà chăng? Việc gì cũng phải có nguyên nhân của nó.
Tôi làm trong cái quán phở bèo của vợ chồng cha nội Hai Thọt khá lâu. Ông chủ của tôi cũng chân cao chân thấp. Như hồi nãy tôi có nói, người ta hay gọi loại chân kiểu nầy là chân chấm phẩy. Hai đứa tôi, tức ông Hai Thọt và cái bàn, không hề bẩm sinh mà bị què. Một hôm có vụ ẩu đả trong quán phở giữa buổi chiêu đãi của các tay đá gà độ, trong đó có Ba Gà Mổ, ông Hai trượt chân xuống bậc thềm đầy mỡ. Tức cười là mấy ngày sau, khuỷu chân nơi mắt cá của ông Hai sưng lên. Đi bó con gà ác với rượu thuốc cả tháng vẫn cứ sưng, nhức nhối chịu không thấu. Bà Hai chở ông đi Tây y chấn thương chỉnh hình, bác sĩ nói:
- Ông bị nứt xương chảy tủy ra rồi. Bệnh nầy phải mổ thôi. Mà nói trước, mổ cũng chưa chắc hết chảy tủy.
Một năm sau, chân Hai Thọt vẫn chảy tủy, sưng vù, hoại thư, phải cưa bỏ bàn chân. Người ta cười khẩy. Ông Hai “nhạy cảm” một hôm nổi hứng đá chiếc trực thăng đang bay trên cao. Sự tích châm biếm lạ lùng đó cộng thêm nét dữ tướng, thêm cái chân thọt kiểu hải tặc coi ông càng ngầu hầm. Cái cảnh một hảo hán kiểu Lương Sơn Bạc vừa cự nự vừa bưng từng tô phở chiều khách, coi buồn cười. Tôi là bạn đồng... tật với Hai Thọt nhưng tôi vẫn cứ nghĩ đây là một đòn trừng phạt khéo léo của ông Trời. Trời cao có mắt, trừng phạt khổ sai nhọc nhằn về mặt tâm lý một kẻ chuyên xài chiêu bạo lực. Giờ thì bắt buộc phải nhũn như con chi chi. Khách ăn phở tủm tỉm kín đáo cười nhìn Hai Thọt nghiến răng bưng tô nước lèo, hành trần cho Ba Gà Mổ. Sau đó lần nào Hai Thọt cũng uống trà đá.
Sự tích cái chân Hai Thọt thì vậy. Còn chân tôi thì đơn giản, như là chuyện giỡn. Tất cả đều do ông thợ mộc quên. Ông quên tề bớt ba chân kia cho bằng với chân tôi nên tôi mới què. Sự đời nhiều khi đơn giản như vậy mới chết chứ. Nói ngay vô chuyện là Hai Thọt. Con quỉ một giò này cũng là dân giang hồ có số. Lúc sau này dân anh chị bị chiến dịch truy quét hốt vô khám hơi bị nhiều, Hai Thọt cũng chung số phận. Trong khám ông ta cố gắng sống tử tế. Gỡ mấy cuốn lịch rồi khi về nhà với cái giấy tạm tha giắt trong lưng. Vậy mà sự “nhạy cảm” cũng như cũ.
Song nói thật lòng, nhờ cái giấy tạm tha, kiểu như vòng kim cô của Tam Tạng gây nhức nhối trên trán ông khỉ đột Tề Thiên, cho nên mỗi lần nổi cơn “nhạy cảm” Hai Thọt cũng chỉ dám nghiến răng, hít thở... uống trà đá. Không biết ai chỉ Hai Thọt cái chiêu này: khi nào thấy trong lòng trào dâng bức bối nóng giận, nên tự làm một ly trà đá, chịu khó uống từng ngụm nhỏ. Uống trân trọng theo kiểu trà đạo, nhưng uống ly cối và có nhiều nước đá. Rồi ra ngoài gió, phe phẩy hai vạt áo thì trong người nguội bớt nhiệt độ, bớt... “nhạy cảm”.       
***
Ba Gà Mổ là dân chơi cầu ba cẳng. Cố tật cãi cha cãi mẹ, bản chất đâm bị thóc, thọc bị gạo, ngồi đầu cầu thổi ống tiêu, đâm cha thuốc chú hãm chị dâu. Huýt gió kích động,đá cá lăn dưa đã quen. Cái môi cố tật cứ nhúc nhích rồi nhếch lên khinh bạc làm cho người ta cứ tưởng ông ta cười mỉa. Nhưng bây giờ trông ông ta không khác con gà chọi trúng thương, buồn hiu, khắc khoải. Ba Gà có nghề nuôi gà nòi, nên sân nhà của Ba tự nhiên thành trường gà mini.
Ngày chủ nhật, ông công an khu vực chạy xe ngang sân nhà Ba Gà, nhìn sơ một chút rồi thôi. Lập tức từ giờ cao điểm đó cho tới chiều tối, tiếng chửi thề vang lên cùng với tiếng gà xổ cánh, chân gà quấn cựa sắt quần thảo không dứt. Tất nhiên những con gà xấu số ngã quị trên nền đất đẫm máu trong trường gà này hằng ngày phải mười mấy trự. Ba Gà Mổ vừa bán băng keo dùng quấn cựa gà, vừa lấy xâu tiền vô nước gà. Ông thầu luôn phần thịt gà nòi mà thường các chủ gà đá thua chửi thề bỏ đi.
Hai Thọt và Ba Gà Mổ có quen nhau trong khám Chí Hòa. Và không ưa nhau cho lắm. Binh giáp rã rời sau mấy trận bị truy lùng tận số, giờ thì anh chị cách mấy cũng xụi râu về với đời thường. Ba Gà Mổ hợp đồng với Hai Thọt, cung cấp gà nòi chết cho Hai Thọt nấu cà ri bán buổi chiều. Cũng bán ngay quán phở buổi sáng của vợ y. Đổi lại, trong hợp đồng miệng này Ba Gà có nói hai ba lần, đầu gà nòi bỏ vô thùng nước phở dành riêng cho Ba dùng “làm thuốc” mỗi buổi sáng. Ai mà chịu bỏ đầu gà vô thùng nước phở của mình nhưng Hai Thọt năn nỉ vợ thông qua cũng vì món lợi xác gà nòi mà Ba cung cấp. Nói nào ngay, gà nòi da dai thịt cứng mà hầm nấu cà ri là trên cả tuyệt vời. Nhiều vị khách sành điệu cà ri gà tới ăn. Mặc dù không khí căng thẳng nhưng vợ chồng Hai Thọt sống được quán phở sáng
và cà ri chiều.
Chuyện cung cấp thịt gà đó cũng có sự tích. Một hôm Ba Gà Mổ đi coi... tướng. Ông thầy coi tướng mặt mày lạnh lẽo nhìn là ớn lạnh. Ông thầy cư ngụ trong cái miễu hoang giữa vườn chuối vùng ngoại ô. Vừa nhác thấy Ba Gà dựng chiếc xe Honda cánh én trước thềm, ông liền nói vói ra cửa; tiếng cha thầy tướng này sao cũng the thé như gà mái:
- Ông Ba nuôi gà nòi đá, mỗi ngày phạm giới sát sanh, làm chết không biết bao nhiêu mạng gà. Năm nay là năm con gà; cơ hội cho nhiều gà lãnh hộ chiếu xuất cảnh đầu thai. Nhưng nguyên tắc mới: gà không có đầu thì diêm vương không in dấu triện. Do vậy mà chính ông phải chịu hình phạt, mỗi buổi sáng phải gặm, ăn óc, nút mỏ ít nhất là ba bốn cái đầu gà. Được vậy thì may ra ông mới hết oan gia nghiệp báo. Còn nếu như cự cãi thì trước sau cũng bịnh nặng. Ngáp gió, kêu cục tác như con gà mái đẻ. Và câu lưu trở lại Chí Hòa uống trà đá, ăn bánh ình.
Chuyện như là giỡn chơi. Không hiểu sao ông thầy coi tướng mặt tủ lạnh lại biết tỏng Ba Gà chứa gà đá. Chỉ có tôi biết, là do một hôm có tay nuôi gà địch thủ của Ba Gà vô tình ngồi ăn phở đúng ngay cái bàn tôi. Anh ta nói ông thầy coi tướng Ba Gà chẳng ai xa lạ, cũng là Độc Thủ Cầu Bại móc túi, đổi giỏ trên chốn giang hồ. Ông này có gặp Ba Gà Mổ và cả Hai Thọt trong khám. Hai Thọt biết nhưng thâm không hề tiết lộ. Ba Gà Mổ không hề biết. Tội nghiệp cho kẻ gian tà, trời hại đúng thằng gian. Gặp ngay cố nhân nói rất đanh thép ngay chuyện mà ông Ba lo nhất cho hậu sự của ông.
Cho nên mỗi sáng ông ta nôn nóng tới quán phở, cố gặm cho hết ba bốn cái đầu gà nòi. Ông trời có mắt biến tấu trừng phạt. Phạt Ba Gà Mổ về cái tội đá gà độ, cờ bạc, gian manh nhiều thứ. Ba Gà Mổ coi tướng dữ dằn vậy mà nhát, thường thì cái tướng cái tánh hung dữ bất lương hay đần độn ngu si. Ông ta còn dị đoan, tin chắc chuyện gặm đầu gà sẽ cứu ông ta khỏi trở vô nhà đá.
Cho nên nói đi rồi cũng nói lại. Mỗi sáng ông Ba phải làm cái lễ. Vừa hậm hực, vừa cằn nhằn, cau có chửi rủa Hai Thọt, vừa nhẫn nại lo lắng gặm đầu gà nòi chết. Vậy đó. Và cũng đúng với câu mà con gà trống nào cũng vỗ cánh gáy mỗi buổi sáng:
- Đời... chỉ... có... thế... mà... thôi... 
NHÀ ẢO THUẬT
Truyện ngắn Mạc Can
 
Có một cậu bé muốn học vài trò ảo thuật nhưng không tìm đâu ra trường và thầy dạy. Một hôm rỗi rảnh, người cha chở cậu con trai nhỏ xíu, khoảng 10 tuổi, ngồi háo hức sau yên xe Honda.

Vòng quanh đường phố một lúc, đang bình thường thì tự nhiên chiếc xe khục khịch ho khan, dừng lại đầu hẻm như là có hẹn trước, ngay chóc tiệm thuốc tây và cái tủ bán thuốc lá. Nhưng sau cái quầy trong tiệm, và trên chiếc ghế thấp nơi tủ thuốc lá đặt nhờ ngoài hè đường, không có người bán hàng nào.

Còn lạ hơn là mọi người, trong đó có ông cha cố (ông thích đi bộ, thường ngày vẫn đi bộ và bây giờ cũng vậy, đang mỉm cười đếm bước). Cha vẫy tay chào những người khác đang chạy xe quanh đó, dù họ đi hay chạy mà tới “giới hạn” này, tức khoảng đường có tủ thuốc lá thì ai cũng... mờ đi và mất tiêu. Cha cố vẫn nghe người ta nói với ông rằng thỉnh thoảng cha cũng... biến mất, khi đó ông lại mỉm cười đồng ý. Cha có quen với “nhà ảo thuật” và cha cũng thích xem ông diễn.

Chỗ đó ngược sáng hay ánh sáng bị khúc xạ chăng, chưa phải hẳn, một bác xích lô ngồi trong chiếc xe của mình, cách tủ thuốc khá xa, mỉm cười như thông cảm: chính “nhà ảo thuật” đang ở đâu đây, sử dụng những hồi quang, gia công thêm, và làm nhiều người biến mất rồi. Mánh đó cũng nằm trong chương trình biểu diễn quốc tế của một nhà ảo thuật hiện đại, khi anh ta phù phép biến mất tượng nữ thần Tự Do. Tất cả, ông cha cố và mọi người, cười toe, lại hiện ra sau khi qua khỏi con đường.

Cậu nhỏ leo xuống xe, còn người cha thì dẫn xe lên thềm. Hôm nay là ngày chủ nhật, cậu phải ngửa mặt, dùng bàn tay che mắt mới nhìn thấy tháp chuông nhà thờ cao vút tận mây, trên chỗ cao nhất có con gà sắt, nhưng không có một con bồ câu nào - những con bồ câu giờ cứ là trốn trong cái nón cao. Còn tối hôm qua một tay ảo thuật tre trẻ tới diễn trong nhà hàng Tây, người ta đã không cho anh ta diễn trò tung khăn thành chim câu, mà trong thực đơn của nhà hàng cũng bôi bỏ tên món bồ câu ra ràng chiên bơ, tuy nhiên lũ chim bồ câu vẫn trốn trong cái nón.

Chuyện khác nữa: cậu nhỏ trố mắt khâm phục, tuy là thấy đủ các cây căm trong bánh xe sau của chiếc Honda của cha cậu mà khi sờ vào thì căm không còn ở đó. Cậu lại cười, bởi khi những chiếc căm đi vắng, cậu ta thử khẽ sờ vào thì vẫn có chúng ở đó, trong vành xe như cũ: “nhà ảo thuật khỉ khọn chỉ làm bộ biến nó mất thôi”. Ảo thuật không chỉ làm biến mất mà còn làm hiện ra, bay lên, ít hóa nhiều, lớn thành nhỏ, rất thích.

Một người xem ảo thuật hay là ngàn người xem cũng bị chính con mắt của mình lừa mình nhiều hơn, bởi những khúc xạ, những hồi quang, đèn cực tím của tiết mục màn đen, những ngăn lớp... và sau cùng là tài khéo tay. “Ông ấy có tài làm mất đi nhiều thứ, ông ấy chứ còn ai, ông làm cho chiếc xe Honda ngủ gật, khiến cho nó dụi mắt kèm rèm dừng lại, làm cho con đường vắng hoe nhé”.

Cậu nhỏ sờ vào người cha cậu, nắm bàn tay ông khi ông đang nhìn bác xích lô hỏi thăm đường vào hẻm. Ông ngạc nhiên nhìn xuống và rồi trông thấy đôi mắt nhỏ đen biết nói “Cha không sao, nhà ảo thuật không úm ba la cha mình”. Ông già, “nhà ảo thuật” mà hai cha con đang tìm, còn có thể làm hiện ra nhiều thứ khác. Nhưng chính ông cũng bị lóe đi vì những hồi quang.

Người ta hay hỏi ông một cách thách thức, chẳng hạn: “Nhà ảo thuật, ông biến tờ giấy thành tiền được không?”. Cách hỏi khó chịu như hỏi một nhà luyện kim: “Ông luyện kim, ông nấu cát thành vàng được không nào?”. Nghe nói một thời nào đó, thuật luyện kim đãi cát ra vàng nhưng người ta đã thiêu sống tay thuật sĩ, vì vàng có thể biến thái thành ra thế lực, và từ đó sẽ nảy sinh một nhà nước kiểu ngân hàng độc quyền khác. Nhà ảo thuật thì ít tai hại và cũng ít bị tai nạn hơn nhà luyện kim và văn sĩ, tuy đôi khi ông ta cũng làm cho người ta sợ, nhưng mà ông ta gần giống như một nghệ sĩ thuần túy hơn, ảo thuật hấp dẫn mà lại vô phước vì người ta không sắp cuộc vui gây tò mò này trong vòng bảy con số.

Có gì mà suy nghĩ nhiều, tiền ấy à, hiện ra thì có gì khó nhưng nó lại “có có không không” vì nó là tiền, một vật thể rờ đụng nhưng đầy bất trắc, mà ngày nay người ta gọi là ảo, có đó rồi cũng mất đó. Trong xóm nhà thờ này rất nhiều người nói vậy; vịn vào trường hợp nhà ảo thuật họ nói thêm rằng ông già ấy làm nhiều trò rất hay, một tờ giấy trắng nhé, xếp lại làm tư, bằng khổ của tờ năm trăm ngàn, mở ra thì tờ giấy biến mất, tờ giấy thành tiền, lại còn đâm toạc qua nhiều thứ.

Còn một ví dụ khác, cũng trong vòng câu chuyện tiền mất còn, như trò đánh bài ba lá (bài cào) hay là binh xập xám trong những dịp tết (bài ba tụ 12 lá). Khi biểu diễn những trò cờ bạc này, ông ảo thuật chỉ có một nước thắng không thua. Đây nhé, ông đang cho mọi người thấy trên tay ông có ba lá bài “bù” nhưng chỉ cần lật úp lưng bài xuống, lật ngửa lên nó thành “ba tây” (bồi, đầm, già đủ mặt) mà không phải là ba lá bài cắt dán kỹ xảo nhiều lớp, chỉ có ba lá trước sau.

Ông chuyên nghiệp vậy nên nhiều nhà ảo thuật khác, và có cả các tay cờ bạc bịp ngoại quốc thường biểu diễn trong hộp đêm hay là các casino, vẫn hay tìm tới ngồi im tâm phục khẩu phục, cứng mắt coi ông chơi 72 phép bài lận, nào là điểm kim, mài góc, cho vào tay áo...; coi xong họ nói: “Chưa có nơi nào trên khắp trái đất này có một ông già chơi bài lận kỳ diệu như ông Ali Woong đây”. Cái tên đầy ấn tượng này là nghệ danh của ông, các nhà ảo thuật thích hóa trang thành người khác, tên khác. Đó là thời kỳ hoàng kim của ông Woong.

Cách đây hơn 60 năm, khán giả và báo chí đặt ông cái tên Ngọ Ma, một nhân vật lạ lùng trong giang hồ, vì họ có cột trói ông, bỏ vào bao, ngâm xuống sông... ông vẫn thoát. Ngoài ra ông “có bàn tay rất khéo”, bất kỳ ai (trong đó có ông cha cố) cũng khoái ông bạn già mình biểu diễn ảo thuật (và chính cha cũng học được vài trò). Ai ai cũng nói vậy, nhiều người cũng muốn học vài trò giúp vui trong các buổi tiệc. Trở thành một nhà ảo thuật cũng hay đấy chứ.

Tuy nhiên không hẳn là chuyện vui cho lắm; có nhiều khán giả thở dài lắc đầu: “Tội nghiệp, tổ trác”. Nghề chơi nào cũng vậy, nhiều khi bể mánh. Biểu diễn bài lận coi chắc cú ăn tiền vậy nhưng nó vẫn là “ảo thuật”, khổ thay nhà ảo thuật lại không biết, do vậy mà ông đã tự làm biến mất đi, một cách thiếu cẩn trọng, rất nhiều thứ của mình: nhà cửa, vợ con, bạn bè... Trong đó quan trọng hơn là toàn bộ số tiền lớn mà ông không thể có lại lần thứ hai, bởi người ta ai cũng chỉ có một thời trẻ trên sân khấu ảo thuật, lúc đó là những năm vàng son xa xưa của ông.

Lúc đó chỉ có một mình ông một cõi; là nhà ảo thuật ngôi sao ông đã dành dụm được khá nhiều sau bao nhiêu năm dài. Đâu phải bầu bì thương xót chi cho cam, nhà ảo thuật để biến hóa được nhiều thứ cũng phải suy nghĩ, vắt kiệt tài khéo, đổ mồ hôi thâu đêm trên khắp các sân khấu đại nhạc hội, sòng bạc, hội chợ, hộp đêm, vũ trường, quán cà phê nhạc...

Tiền của ông biến mất, một đi không trở lại trong những sòng bạc, mất hẳn trong những canh bài cào, hốt me, thậm chí bầu cua cá cọp, đổ xí ngầu ngày thường và ngày tết. Ai cũng nói một người có thần có tài, bản lĩnh “ảo thuật” hớp hồn và biết điều khiển người khác như nhà ảo thuật mà khổ thay, chỉ nghe tiếng kêu lóc cóc của con xúc xắc lăn trong cái dĩa ông đã ngây ngất xiêu lòng.

Cờ bạc là bác thằng bần. Giờ thì ông ngồi sau cái tủ nhỏ bán thuốc lá, bệnh tật nghèo khổ. Ông ấy đâu rồi? Người già từng biết thì quên ông, người trẻ thì không biết ông, còn ông có thể... ảo thuật biến ra chính mình lại được không? Ông ấy đâu rồi? Cậu nhỏ nhìn vào tiệm thuốc tây. Hôm nay chủ nhật, một ngày lành dành cho sự nghỉ ngơi, có cảm giác đây là một ngày đầy “phép thuật”, ai cũng vui và không có ai lại bệnh vào ngày này, vì vậy mà người dược sĩ bán thuốc tây rỗi rảnh biến mất (thật ra anh ta ngồi ngủ sau cái quầy - không phải đâu, anh ta mới vừa được “ảo thuật” ra đó chứ).

Cậu bé hiếu kỳ và tò mò của chúng ta nghĩ vậy, và hình như đây là một trong những ý nghĩ có chất ma túy, nó gây nghiện không cưỡng lại nổi. Cũng là do chuyện này hay, hấp dẫn còn hơn tưởng tượng, cậu nhỏ mỉm cười nhìn chiếc ghế mây đan nhỏ, loại ghế mây các em bé ngồi, rách rưới, xiêu vẹo và trống không, sau cái tủ bán thuốc lá kính mờ đục, bên trong chỉ có vài bao không nhãn hiệu hờ hững. Ông ấy mượn chỗ ngồi chơi.

Ngộ nghĩnh quá, hình như đang có một em bé vô hình tinh nghịch, khỉ khọn, đang làm trò giữa khoảng không phía trước lưng ghế, tức ngang ngực một người nào đó, nơi hiện có một điếu thuốc lá vui tính, chỉ lơ lửng vậy thôi. Điếu thuốc đang bay chơi chơi đùa đùa với mấy sợi khói mỏng, thỉnh thoảng nó bay nhỉnh lên, hơi cao hơn một chút, khi đó ở đầu điếu thuốc đỏ lên như có ai đang rít thuốc. Điếu thuốc còn làm bộ “diễn” cùng những điếu thuốc khác, sau cùng cũng chỉ còn có một điếu, và có một tiếng thở dài...

Chút tàn cụt ngủn màu tro trên đầu điếu thuốc, dần dà dài hơn, cong quằn, rơi xuống biến thành chiếc gậy nhỏ. Khói nhiều hơn, ông già đang biểu diễn ảo thuật trên đường phố, mờ mờ sau một ít khói đó, hay chút khói này lẩn quẩn lần hồi vẽ nên chân dung nhà ảo thuật? Ô kìa... sau chiếc tủ thuốc lá, bây giờ đúng là có một ông già thật, ngồi bán thuốc lá vặt vãnh mà lại mặc bộ trang phục sân khấu. Ông Ali Woong danh giá kia mà, trong trang phục cũ rách nhưng tươm tất, đầu đội cái bêrê màu xanh, mình mặc áo len, chân mang dép nhựa và trên tay là bộ bài - lúc nào trên tay ông cũng có bộ bài, nay nó đã quá cũ và tang thương.

Còn một ông già nào khác lại già hơn nhà ảo thuật này. Ông đã 101 tuổi, với đôi đồng tử gần như lòa, ông nheo mắt nhìn cậu bé rồi nói: “Tới rồi, học ảo thuật à? Học gì cũng được, bóng bàn, khăn, bồ câu... tha hồ, nhưng không chơi bài nhé”. Cậu bé cũng khác thường vì cậu ta trông không giống những cậu nhỏ khác, nếu như các cậu đó có ở chung quanh.

Cậu nhỏ này thắt một cái nơ nhiều màu, ông ảo thuật đưa một ngón tay chỉ cái nơ, từ đó một con bướm bay thoát ra và biến thành cái khăn mỏng; cái khăn bay tận tháp chuông, khi nó rơi xuống lại là những quả bong bóng. Ông cha cố đi ngang qua tủ thuốc lá, đứng lại vỗ tay khen ngợi rồi nói với ông già: “Khi nào con cần đổ chuông thì nói”. Nói xong, cha cố thoắt chốc đã ở trên các bậc thang vào nhà nguyện.

Cậu bé đưa tay sờ cái nơ, chỗ con bướm nhỏ bay bay trở về sau khi nó đã lên tới chỗ cao nhất của tháp chuông, nơi có con gà sắt (chính con gà cũng bay trốn trên đó chứ sao). Còn những áng mây thì đang dừng lại ở rất xa con gà. Mây nhìn nhìn xuống con đường vắng, nơi xa kia có cậu bé đang học những trò ảo thuật, và tiếng chuông nhà thờ vui vẻ vang lên. Trên con đường, những lá bài bay phất phới úp ngửa, vui đến nỗi vị thánh giữ chìa khóa cửa vào thiên đàng cũng phải mỉm cười.
 
 
 
[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới:
   Trưởng thôn chính truyện (3/12/2009)
   Uống rượu với Nguyễn Khoa Điềm(4/12/2009)
   Chùm truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh(17/12/2009)
   Mai Ngọc Thanh và chùm thơ (24/12/2009)
   Một phần đời tôi đã thuộc về Việt Nam (25/12/2009)
   Đào nguyên(12/1/2010)
Các bài đã đăng:
   Chùm thơ “Thời kinh tế thị trường” của Đặng Ái (26/11/2009)
   Bên kia có mưa rơi(16/11/2009)
   Đặng Chân Nhân với tập Hình dung(13/11/2009)
   Lê Văn Ngăn và tập "Viết dưới bóng quê nhà"(4/11/2009)
   Lòng hải lý (trích trường ca)(29/10/2009)
   Hải Thanh với tập Thượng huyền(26/10/2009)
   Chùm thơ lục bát của Đàm Đức Lợi(19/10/2009)
   Trương Đăng Dung(15/10/2009)
   Độc hành Mai Văn Phấn(11/10/2009)
Sự kiện
Đề tài chiến tranh cách mạng sẽ vẫn là nguồn cảm hứng dồi dào cho văn nghệ sĩ
Nhân vật
Tiếng nói đáng tin cậy nhất của nước Mỹ
Bình Luận
Trách nhiệm cao đẹp của người nghệ sĩ
Giới Thiệu Sách
Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi (Tập2- văn)
Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi (Tập1- thơ)
Phát hành Văn chương Ngày nay số 3


 
 
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9448134 * Fax: (84-43) 8263777
Email: vanvn.net@gmail.com / hoinhavanvietnam@gmail.com
Tổng biên tập: Hữu Thỉnh
Giấy phép số 77/GP-TTTT- Cục Quản lý Phát thanh-Truyền hình và Thông tin Điện tử- Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 26/8/2008.
Hội Nhà văn VN giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign