Chế Lan Viên: Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa (…) Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?
Gửi thư    Bản in

Bút ký: “Vàng đen”

Kiều Xuân Thủy - 27-07-2011 01:34:57 PM

VanVN.Net - Đến Công ty tuyển than Cửa Ông, chúng tôi gồm 6 người, nhưng 3 người trong số đó: nhà thơ Quang Khải, nhà văn Đỗ Thị Hiền Hoà và tôi xung phong đi một chuyến tàu lấy than cùng với mấy anh em thợ ở phân xưởng vận tải. Nhà thơ Quang Khải bảo, đi theo tàu để tìm cảm hứng thơ. Nhà văn Đỗ Thị Hiền Hoà thì mấy hôm nay đang hào hứng tìm một bài viết thật đắc địa ở phân xưởng này. Tôi tất nhiên cũng ham muốn khám phá người thợ than. Qủa thật, nếu bạn không leo lên tàu đi than, bạn sẽ còn hiểu phiến diện về họ lắm…

Có thể ví địa điểm đặt trạm điều khiển chạy tàu ở phân xưởng đây không khác gì một trung tâm điều độ ở một ga lớn của ngành đường sắt. Chúng tôi ngồi trong gian điều độ nhỏ bé với một cô công nhân nhỏ bé, trẻ trung. Bộ quần áo bảo hộ màu xanh lam không làm cô đẫy lên mà ngược lại. Gầy thế, nhưng cô là “vị chỉ huy” tối cao của mạng lưới những con tàu chở than ra vào đổ than và ra đi ăn than ở đây. Nếu không có sự thoăn thoắt, thành thạo và nhanh nhẹn, hết ra ngoài vẫy cờ lại vào trong gian gọi điện thoại hướng dẫn, thì mọi việc sẽ xáo trộn mất. Cô làm tất cả những việc đó một cách thành thục, vừa làm vừa trả lời những câu hỏi từ những vị khách ngồi trên ghế phía sau đặt ra. Là người quan sát, tôi còn cảm thấy cuông cuống, lo lo hộ cô: hết ra lại vào, hết gọi điện lại phất cờ. Thế mà xem ra cô vẫn trả lời gẫy gọn đâu vào đấy. Công việc nào cũng có những vất vả, đau đầu, đòi hỏi sự tập trung cao độ không thể coi thường, đặc biệt trong vị trí của cô. Cô nói rằng lương chính của cô khoảng 4,5 triệu chưa kể các khoản phụ cấp, các con cô còn nhỏ, còn gửi trẻ, đi học, vợ chồng đều làm thợ ở Công ty than. Cô nói, đây là điểm trung tâm nhất về điều độ để tàu chở than từ các mỏ phía Tây như Cọc 6, Cẩm Phả… về, từ các mỏ phía Đông như: Cao Sơn, Mông Dương … lên. Tầu than thì to sù sụ, mỗi tàu khoảng 25 toa trung bình, mỗi toa nặng 20 tấn, đi trên những thanh ray cách nhau 0,8 mét. Cứ đều đặn như thế, trung bình 27đôi tầu đi về/ngày đêm. Điều độ sao cho đi về không chen lấn, tranh đường, nhờ lập trình chuẩn, nhờ sự chính xác các khẩu lệnh của cô điều vận nhỏ bé, nhờ sự bẻ ghi chuẩn xác của thợ và biết bao những người bịt kín mặt mũi, mặc những bộ bảo hộ màu xanh đã than hoá khác.

Bữa ăn giữa ca của công nhân mỏ

Kỹ sư phó quản đốc phân xưởng vận tải  xách trên tay một gói những hộp sữa nhỏ dẫn chúng tôi lên tàu đi ăn than ở mỏ Cao Sơn. Nắng, nóng, bụi vô kể. Nhìn nhà thơ Quang Khải khó nhọc leo lên toa tàu cao ngồng ngỗng mà ái ngại. Nhà văn Đỗ Thị Hiền Hoà cũng bịt kín mặt, chỉ để lộ hai con mắt. Phân xưởng đã chuẩn bị mấy cái ghế nhựa để mọi người ngồi quây xung quanh buồng lái của đầu máy. Bấy giờ tôi mới có điều kiện quan sát: ca lái tàu có 3 người - 1 lái chính, 2 lái phụ. Lái phụ lái tàu đi chuyến không tải vào Cao Sơn. Lái chính đi chuyến có tải từ Cao Sơn về. Những công nhân trẻ, trông chín chắn hơn tuổi, anh nào trông cũng béo tốt, khoẻ mạnh, mặt tròn, bề ngoài giống nhau ở sự lem luốc một màu than trong những bộ quần áo bảo hộ cồm cộp. Tuy nhiên, khi tan ca về, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mới, họ sẽ đẹp trai, tươi tắn trẻ trung hơn nhiều. Theo họ, ai cũng là lái chính, ai cũng là lái phụ cả, tuỳ theo sự phân công của phân xưởng theo từng ca. Không ai hơn ai. Tôi hình dung, họ giống như những trọng tài bóng đá trên sân cỏ vậy; tùy theo từng trận, người chính người phụ. Như vậy, có nghĩa là với họ, trình độ chuyên môn và cả trách nhiệm đều bằng nhau, đều chuyên nghiệp như nhau. Thu nhập của cánh lái tàu có phần cao hơn thợ khác. Lương tháng phải ngót chục triệu. Nhìn họ hướng mắt đăm đăm về phía trước đường, điều chỉnh tốc độ tàu, lúc thì 15- 17, lúc thì 20-25 km/giờ để tàu đủ nhanh và đủ an toàn, tôi thấy yên tâm. Lúc không tải, có những đoạn đầu máy lắc lư nghiêng ngả tưởng như tàu sắp văng ra khỏi đường sắt, mà không văng. Lúc vào cua, thân mình nó kêu răng rắc như người bẻ lưng. Có cái gì đấy đầy thương cảm cho tàu và cho người. Còn qua những đoạn có nhà cư dân san sát ven đường, tàu điềm nhiên đi, như kẻ vô cảm? Tôi đưa ánh mắt lo ngại nhìn sang lái tàu. Không sao! Các lái tàu bảo, cư dân vùng mỏ ở đây đã quen. Dân cư thị xã này toàn thợ mỏ, gần như 100%. Là con em của bố mẹ, là cháu chắt của ông bà thợ mỏ mấy đời. Họ thuộc hòn than, mùi than, màu than, cả tiếng còi than, con tàu than, thuộc từng giờ chạy. Con tàu nào được chạy ngày nhiều, con tàu nào phải chạy đêm nhiều. Họ thuộc tính nết nó. Nên dù không rào chắn gì, dù nhà sát đường tàu, tàu vẫn chưa hề “va chạm” vào ai. Tất nhiên, trong năm, vẫn có đôi vụ. Người tử nạn lại là những người nơi khác vừa chân ướt chân ráo qua đây, “dân trọ” chưa quen thông thổ.

Đi trên tàu than, hỏi ra mới biết kỹ sư, phó quản đốc phân xưởng vận tải Vũ Quốc Chịnh lại cùng xuất phát điểm từ sinh viên Đại học Giao thông cùng tôi. Tôi học khoá 9 ngành cơ khí ô tô, bỏ nghề lậm lụi để thành nhà báo, nhà văn; thì Chịnh học kinh tế vận tải khoá 36 để thành kỹ sư phó quản đốc. Cách nhau 27 năm đủ trở thành “chú”, “cháu” lúc xưng gọi. Qủa đất tròn, đi đâu cũng có cơ hội ngộ. Anh cười tò mò về tôi. Tôi cười tò mò về anh. Tôi không thể không xiết chặt tay chàng sinh viên quê Nam Đinh rời quê về vùng than: lấy vợ, sinh con, lập thân lập nghiệp đất này. Anh bảo, lương anh cũng khá. Tôi công nhận. Nhưng anh bảo, khá nhưng cũng không ăn thua. Theo anh, người than ở đây chỉ duy nhất thu nhập từ than. Đi làm suốt ngày về là lăn vào nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động. Không có nghề phụ gì khác. Dưới đất đã than thì trên đất, trồng cây gì cũng khó. Vả lại, không có nghề phụ gì đáng tiền mà làm. Hình như thiên nhiên đã ưu đãi đất này “vàng đen” thì không ban phát thêm “lộc” gì khác. Lương có khá, nhưng thực phẩm, rau quả ở đây cái gì cũng nhập từ Hà Nội, Hải Dương về. Nói vậy thôi, chứ đã hàng nhập về thì, thực phẩm gì cũng đắt, rau trong bữa cơm cũng hiếm, đĩa rau cũng còn vơi. Đã vậy, đời sống thị xã vùng mỏ của các anh cũng trang trải đủ thứ trong gia đinh, nằm trong mặt bằng chung như những gia đình ở các vùng đô thị khác. Cũng tiền điện, tiền nước, tiền mạng, tiền truyền hình cáp…, tiền con gửi trẻ, học thêm, đống góp này nọ…Vậy nên, lương vậy cũng chỉ đủ tùng tiệm thôi. Qúa hợp lý cách phân tích này của người vùng than. Thế nên trong lòng mình, vì thế cũng vơi đầy sự thông cảm, ái ngại, sự trân trọng.

Tại trạm điều độ tàu tại ga Cao Sơn, khi chúng tôi đến thì chuẩn bị có phiên đổi gác. Bởi đã thấy hai cô công nhân mặc bảo hộ màu xanh lễ mễ tay xách tay mang đi bộ trên đoạn đường ray vào gian điều độ. Các cô từ nhà đi đến “cơ quan” để thay ca đấy. Tại ga đây, cũng làm 3 ca. Ca ban ngày đã đành, còn ca vào ban đêm, nhất là với các chị em nữ ngồi một mình trong đêm vắng người, giữa một ga vắng? Nghe nói, trước đã từng xẩy ra bọn trộm cướp than trên tàu. Tàu đang chạy, chúng xông lên tàu xúc than đổ xuống rào rào. Công ty đã phải huy động lực lượng xung kích bảo vệ. Súng đã nổ chỉ thiên đe doạ. Cư dân quanh vùng núi đồi vắng vẻ thuộc ga này, nghe nói phần nhiều là dân mãn hạn tù về để làm người lương thiện. Thế mà ca đêm vẫn trực đêm đều!? Tàu chưa bao giờ bỏ chuyến. Rõ là tôi hơi ôm đồm lo. Những tình huống đó, người trong cuộc đã lường tính cả. Các cô đang dỡ trong túi nào gạo, nào rau, quần áo… ra, vừa dỡ vừa cười. Hậu cần khá đủ đầy cho những bữa cơm ca. Trông tàu, điều tàu, họ “oai” như những nữ tướng Hai Bà Trưng xưa, nhưng sau đó chỉ những bữa cơm rau dưa đạm bạc. Bởi, theo họ, chẳng lẽ ăn thịt nhiều để chồng con bị thiệt à? Vũ Quốc Chịnh nói nhỏ với tôi: “ Như cô ấy đấy, cũng 44, sắp 45 tuổi rồi. Có thể nghỉ chế độ được rồi. Năm sau đấy. Cô cậu nào muốn nghỉ, cứ làm đơn trước một năm, thì họ được nghỉ và con cái họ có bằng nghề được ưu tiên thay thế bố mẹ vào Công ty làm. Chúng cháu mới đùa: “Về sớm thế thì làm nghề gì kiếm thêm?”. “Không về mà được à? Làm thêm liệu còn có sức mà về nữa không? Về thôi”. “Về sớm phải làm gì thêm chứ? Đẻ thuê à?”. Tế là cười toe toét”.

Các nhà văn tại phân xưởng tuyển than

Giữa không gian mỏ buổi trưa vắng người đầy nóng và bụi này, lác đác có những cái bóng đầu tóc bịt kín, người ngợm bịt kín quây trong những bộ đồ dầy mo nang, đang hì hụi đưa những bao tải than vụn nhặt được lên xe máy- cũng cũ và nhem nhuốc than, rồi nổ máy thản nhiên chạy dọc đường ray. Họ là ai? Đi đâu? Chịnh nói, họ là những người mót than, phần lớn là dân quanh khu vực, dân tứ chiếng trôi dạt về, bám đất đây làm “chiếu nằm”, lấy than đây làm “cơm ăn” cho đời mình. Gần như là dân vô nghề nghiệp, nhặt than rơi, than vãi tọng vào bao tải mang đi bán lấy những đồng tiền còm. Nghe ra, thì than không chừa ai không thương xót! Than được tận dụng triệt để cho mưu sinh con người… Ba anh thợ lái tàu làm nhiệm vụ móc nối các toa hàng đã đong đầy sẵn than, xong; họ cũng làm nhiệm vụ bẻ ghi xong; tàu bắt đầu hớn hở “toe toe” một hồi còi vang động một vùng nóng bụi, yên ắng trưa. Tiếng còi tàu cũng âm vang tựa tiếng voi rừng hú giữa đồi rừng, nhưng đó là mệnh lệnh báo hiệu việc cẩu nối đã hoàn tất, có thể lên đường kéo than về Công ty  tuyển than Cửa Ông tuyển được rồi. Chúng tôi lại lên tàu. Nhà thơ Quang Khải lại vất vả leo tàu. Khác lần đi, lần về này tàu đã no than. Lúc có tải này, tôi lại lo hộ, sao tàu ỳ ạch lên dốc nặng nề khổ sở cho thân xác nó thế? Lúc qua cầu, nó là con rắn chầm chậm bò lượn đầy chín chắn, thận trọng. Có cảm tưởng như nó không còn cách nào khác phải vượt cạn vậy thôi. Thế mà nó vẫn tận tuỵ mang vác cứ như còn dư sức chán. Qua đoạn vất vả, nó tuýt còi vang vang cả không gian thị xã than, hồ hởi, yêu đời như người về đích đầu tiên.

Công nhân vùng mỏ đã có bề dầy truyền thống từ những năm xa xưa, thời kỳ  thuộc Pháp. Tượng đài liệt sĩ, công nhân mỏ Ngô Huy Tăng (1911-1933) dựng lên chói ngời và đầy quả cảm tại phân xưởng kho bến I. Lịch sử kể rằng: năm 1928, tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” đầu tiên của vùng mỏ được thành lập ở Cửa Ông đây, trong đó cốt cán là những đảng viên trẻ tích cực như Vũ Thị Mai, Ngô Huy Tăng, Đỗ Huy Liêm… Rồi tổ chức “Công hội đỏ” ra đời. Và đêm mùng 6, rạng ngày mùng 7-1-1929, nhân kỷ niệm 12 năm Cách mạng tháng Muời Nga thành công, người thợ mỏ trẻ tuổi Ngô Huy Tăng đã leo lên cắm lá cờ đỏ búa liềm trên cần cẩu poóctíc, biểu thị sức mạnh của công nhân mỏ hướng về Cách mạng tháng Mười. Thực dân Pháp bắn theo khi người thợ trẻ đã nhảy xuống vịnh Bái Tử Long thoát chết. Sau đó, anh bị bắt tù đầy ở nhà tù Sơn La và hy sinh. Công nhân mỏ có bề dầy cha anh như thế trên đất này! Ngày nay, cớ gì họ không phát huy truyền thống? Từ bấy đến nay, hàng ngàn, vạn lượt người thuộc nhiều thế hệ với đầy đủ những số phận, vinh hiển có, lầm lụi có, đã bồi tích nên nền móng vùng than ngày càng chắc bền, vững chãi. Liệt sĩ vùng mỏ Ngô Huy Tăng( 1911-1933) nằm xuống đã lâu như bề dầy truyền thống vùng than, nhưng hình ảnh người thợ đó trên tượng đài lại vẫn trẻ mãi tuổi đôi mươi như sức sống thanh xuân của người vùng than qua nhiều thế hệ. “Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành”( Tố Hữu), quyết sống chết cho vùng than.

Phân xưởng kho bến I là phân xưởng già nhất của Công ty tuyển than Cửa Ông, nơi hiện đang vẫn tận dụng các cần cẩu, toa than từ thời thuộc Pháp; nhưng quản đốc phân xưởng, kỹ sư Nguyễn Quang Hưng lại là quản đốc trẻ nhất Công ty. Ngày ngày, anh quản đốc trẻ năng động vẫn hướng đôi mắt nhìn lên tượng đài Ngô Huy Tăng để soi học những nét quá khứ. Từ quê hương Cẩm Giàng (Hải Dương), sau khi tốt nghiệp Đại học mỏ địa chất, anh về đây, lấy vợ cùng Công ty, có 2 con, được đề bạt quản đốc năm 2010. Anh nói “bọn cháu ở đây nhiều thợ trẻ, đủ các loại thợ: vận hành cần trục, tời kéo, bơm ( bơm bùn, bơm nước), phụ cẩu (móc ngáo), sửa chữa điện cơ, kết cấu, rửa ráy, gom gạt, nhặt tạp chất trong than… Với các thiệt bị có từ năm 1924, nhưng kho bến I của chúng cháu xuất khẩu xuống tàu được cả những than cục lẫn than cám, theo yêu cầu của khách hàng. Những cục than kiplê, ngày trước thời Pháp gọi là than “con gái” có độ óng, độ đẹp cao, dù là than cục nhưng vẫn đảm bảo cháy hết, sử dụng hết nhiệt lượng không hề lãng phí, vẫn được khách hàng tin dùng. Bên phân xưởng kho bến II lại chỉ chuyên xuất khẩu than cám… Cả vùng mỏ thì nhiều thế hệ đã cùng làm than truyền đời. Với phân xưởng kho bến I, tính đến  đời thứ 2, thì hiện có 15 trường hợp, như: bố Nguyễn Văn Tân, con Nguyễn Viết Tuân; mẹ Nguyễn Thị Hoà, con Nguyễn Quang Hưng; bố Nguyễn Mạnh Trường, con Nguyễn Thị Vân… Nghe Hưng kể, tôi chợt lục lại thắc mắc của chính mình, rằng, lượng công nhân viên toàn bộ của Công ty trên 5000 người, huy động làm sao hết được trong khi hầu hết việc vận hành các công đoạn toàn bằng máy, mặc dù đã làm 3 ca? Về điều này, tôi được nghe các đồng chí lãnh đạo Công ty giải thích, rằng, cũng có một phần nhận con em thợ vào làm để đào tạo lâu dài, cũng đồng thời để giải quyết công ăn việc làm cho con em người thợ.Theo các anh, con em thợ thuyền chúng tôi lớn lên làm gì?

Tổ trưởng tổ nội địa 3 Đặng Ngọc Am- dạng “con em thợ thuyền chúng tôi”, là thợ 5/7 vận hành cần trục Poóctic. Tổ của Am quản lý 5 cần trục, 2 trạm bơm, 14 ngăn bùn hồ. Việc của tổ này làm quanh năm. Những ngày mưa nhỏ vẫn làm. Chỉ những ngày mưa quá to, trời giông bão thì chịu. Gió mưa xoáy lốc cản quay cần trục, dễ gây tai nạn, vả lại không thể điều khiển nổi. Hai vợ chồng Am làm cùng ca, vợ Hoàng Thị Hiên làm ở phân xưởng đường sắt; con cái đi học, thì gửi nhà trẻ, nhà trường nội trú cả ngày. Chiều nếu đón muộn, thì điện cho cô giáo, sau đó đến thẳng nhà cô giáo nhận cháu. Cô giáo vùng mỏ quen nếp này, cũng vui vẻ chẳng phiền lòng. Bố mẹ vất vả, đương nhiên con cái vất vả theo. Trẻ con vùng mỏ quen nếp này. Đặng Ngọc Am làm thợ ở đây từ năm 1994, đã từng được nhận “Kỷ niệm chương 20 năm thợ mỏ vẻ vang”. Làm than vất vả là thế, nhưng yêu ngành, yêu nghề, biết truyền nghề. Thế hệ này truyền nghề cho thế hệ sau. Nghề làm than đã ngấm vào máu người vùng mỏ. Trong bữa ăn hàng ngày, nói đến công chuyện làm ăn là nói đến than, bàn đến tương lai là bàn cho ngành than chúng ta phát triển, hướng đi của mỗi thành viên cũng hướng về những công việc liên quan đến than. Hàng xóm quanh mình là dân làm than chuyên nghiệp. Công ty lúc nào và bao giờ cũng ưu tiên cho con em ngành than. Than nuôi thợ, thợ lo cho ngành than đi lên. Vùng than này, than thân thương và cần kíp như cơm ăn, nước uống, không khí để thở. Vả lại, thu nhập cũng khá, năm sau cao hơn năm trước. Năm 2010, bình quân lương 5.300.000 đồng/người/tháng. Không nhiều người nghĩ cần đi đâu. Nên người vùng than đùm bọc nhau như anh em một nhà. Mỗi một gia đình người thợ nghèo là cả phân xưởng, cả Công ty chung lo giúp đỡ. Phân xưởng cháu- lời Hưng- năm vừa rồi Công ty cũng lo cho 4 gia đình được trợ cấp từ 20-30 triệu đồng để góp thêm làm nhà kiên cố để ở. Mỗi năm định kỳ Công ty tổ chức 2 lần khám sức khoẻ cho thợ. Khu tập thể của công nhân mỏ ở, lúc nào cũng an toàn. Chỉ cần một tín hiệu lạ, là tất cả đều ào dậy trong đêm bắt trộm…

Người vùng than bề bề sống, yêu nghề, yêu nhau như thế, phỏng có gì bền vững hơn? Họ đã thâm niên, truyền đời trên vùng đất quê hương Cẩm Phả này với niềm tự hào không vơi cạn, mắt luôn dõi nhìn ra phía vịnh Bái Tử Long thơ mộng, đảo Vân Đồn, phía biển Đông xinh đẹp thân yêu của mình…

Đoàn nhà văn đi thực tế vùng mỏ, 5-2011.

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Sự kiện  

Lễ kỷ niệm 50 năm thảm họa da cam ở Việt Nam

VanVN.Net - Sáng nay, 10/8/2011 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm nửa thế kỷ thảm họa da cam gieo rắc trên đất nước ta. Đúng ...

Nhân vật  

Nhà văn Sơn Tùng: một huyền thoại đời thường

VanVN.Net - Ngày 14-7-2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định 1083/QD-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho nhà văn Sơn Tùng đã vì “đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sáng ...

Thư giãn  

Thấy, nghĩ và viết: “Từ đâu đến đâu”

VanVN.Net - Việc kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XIII lần này đã phải dành thời gian chủ yếu cho vấn đề tổ chức và nhân sự của các thiết chế Nhà nước, vẫn phải để ra thời lượng ...