Chế Lan Viên: Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa (…) Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?
Gửi thư    Bản in

Hai tham luận về thơ Đồng Đức Bốn của Nguyễn Thúy Quỳnh và Vũ Thúy Hồng

16-05-2011 03:02:39 PM

VanVN.Net - Như với thơ Mai Văn Phấn, vanvn.net xin giới thiệu hai tham luận về thơ Đồng Đức Bốn trong khuôn khổ hội thảo thơ MVP & ĐĐB, một bài đi từ con người tác giả để hiểu và yêu thơ, bài kia nghiêng về khoa học văn chương. Bài của VTH cho nhiều chi tiết thú vị, mới mẻ về con người ngỡ như ai ai cũng biết hết ; bài sau phát hiện nhiều đóng góp mới cho thơ của một nhà thơ tưởng chừng đơn giản đến ai ai cũng đã biết hết. Nhưng, không hiểu vì sao vấn đề chị quan tâm số 1 lại là “Sự thiếu vắng dấu ấn của thời cuộc, thời đại? và có thật đúng vậy chăng? Có người viết thơ về ngôi sao đã tắt cách nay cả ngàn năm ánh sáng mà làm rung chuyển hàng triệu con tim người hôm nay chẳng nhẽ lại vẫn cần thêm thời cuộc thời đại?..

Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn - quy chiếu từ một số thống kê về thể tài và hình tượng nghệ thuật

(Nhân đọc Chim mỏ vàng và Hoa cỏ độc - Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn - NXB Hội Nhà văn, 2006)

Nguyễn Thúy Quỳnh

Không có ý định khiêm tốn hay muốn che giấu hạn chế riêng, sự thật thì trước khi nhận lời tham gia Hội thảo, tôi mới chỉ được đọc một số bài thơ riêng lẻ của Đồng Đức Bốn, và chưa bao giờ được đọc thơ ông một cách có hệ thống. Phần nhiều những gì tôi biết về thơ ông là qua ý kiến đánh giá và phân tích của đồng nghiệp, mà nhiều người trong số họ, chỉ cần nghe đến tên là tôi đã như bị thuyết phục. Những giới hạn nghề nghiệp và giới hạn về địa lý, đã đem tới cho người viết sinh sống ở xa các trung tâm văn học, nghệ thuật lớn của đất nước như chúng tôi không ít thiệt thòi. Vì thế, khi có trong tay bản photo-copy văn bản Chim mỏ và vàng hoa cỏ độc, Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn, tôi đã háo hức đọc. Và bài viết này là một số kết quả tôi thu nhận được sau khi đọc và suy nghĩ. Khả năng hạn chế cùng sự eo hẹp về thời gian có thể chưa giúp tôi có được các suy nghĩ thật sự sâu sâu sắc, có giá trị; tuy nhiên, tôi vẫn xin trình bày và mong được đồng nghiệp chia sẻ, vì tôi coi đây như là nỗ lực của một người làm thơ để tưởng nhớ về Đồng Đức Bốn.

1.      Sự thiếu vắng dấu ấn của thời cuộc, thời đại

    Dù biết Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn không phải là toàn bộ sự nghiệp thơ của ông, nhưng tôi vẫn thấy hầu hết các tác phẩm trong đó đều gắn với với kỷ niệm của tình yêu đôi lứa, một tâm trạng vui buồn, hay nỗi cô đơn của riêng tác giả. Dường như ở đó còn thiếu vắng dấu ấn của thời đại, dấu ấn của thời cuộc, cụ thể hơn là dấu ấn cái hàng ngày của con người với các vui buồn có tính chiêm nghiệm, hay các vui buồn thoáng gặp, thoáng qua. Điều này khiến tôi quan tâm, bởi dấu ấn thời cuộc, thời đại thường in khá đậm nét trong thơ của đa số nhà thơ cùng thế hệ với Đồng Đức Bốn, thế hệ đã phải trải qua nhiều thăng trầm lớn lao cùng lịch sử đất nước. Thật ra, không ai yêu cầu thơ ca luôn phải gắn với sự vận động của cái hàng ngày, hay thơ phải nói về cái hàng ngày, vì nhiều khi thơ là sự sâu lắng, kết đọng của xúc cảm nội tâm, vượt ra ngoài phạm vi của sinh tồn thường nhật. Tuy nhiên sự thiếu vắng đến ngạc nhiên của cái hàng ngày trong thơ của một nhà thơ sống trong một thời kỳ có rất nhiều biến động xã hội - con người thì cũng đáng để đặt ra câu hỏi về sự “dấn thân” của nhà thơ?

    Đọc Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn, tôi thấy các khu vực cảm xúc của nhà thơ có ranh giới khá rõ rệt. Trong đó, thơ tình chiếm tỷ lệ rất cao, 109/196 bài. Ở các bài thơ này, cảm xúc chủ đạo là tình yêu hướng về “em” - đối tượng thẩm mỹ cụ thể với những cung bậc, trạng thái tình cảm phong phú. Có khi “em” hiện ra ngay ở nhan đề bài thơ như Tìm em ở bến sông Mê, Mai em xa Hà Nội, Em đi Malaysia, Em bỏ chồng về ở với tôi không,…có khi “em” chỉ hiện ra một lần như trong các bài Đồ Sơn, Hồ Tây... Tựu trung từ tỷ lệ đó có thể đặt câu hỏi: Phải chăng, “em” là nhân vật trữ tình trung tâm mà tác giả hướng đến? Nếu coi tuyển tập thơ này là hình ảnh thu gọn của sự nghiệp thơ Đồng Đức Bốn thì có thể nói, thơ tình yêu chiếm phần lớn nhất, đến quá nửa sự nghiệp của ông? Và phải thừa nhận riêng cái phần quá nửa ấy thôi cũng là rất đáng nể, chỉ cần vậy là đủ nói về một người thơ “đặc biệt” như ông.

    Khu vực cảm xúc thứ hai của Đồng Đức Bốn qua Tuyển tập là những bài thơ ông viết cho riêng mình, chiếm tỷ lệ 32/196 bài. Cảm hứng chủ đạo của khu vực cảm xúc này là sự cô đơn trong cõi đời ngổn ngang với những nỗi đa mang, đặc biệt cần nhấn mạnh là những cảm xúc có tính tự cảm từ khi ông biết mình đang từng bước trên hành trình về cõi hư vô. Nhà thơ tự thức, tự vấn, tự an ủi, tự thương lấy mình. Mà nổi bật trong đó là những bài thơ như: Đời tôi, Rượu ngon uống một mình không cạn, Tôi viết tặng tôi, Đi chơi dưới vực cô hồn, Đi tìm mặt trời đã lặn, Tôi không thể chết được đâu

    Ngoài ra còn khoảng 15 bài khó xếp vào khu vực đề tài cụ thể, như những bài: Cuốc kêu, Đám cháy rừng, Đỏ và đen, Khóc một dòng sông, Chiều nay Hồ Tây có giông, Con sáo sang sông… Phần còn lại chiếm tỷ lệ 41/196 là các bài thơ thể hiện sự quan tâm của tác giả đến đời sống xã hội, tạm xếp vào thể tài trữ tình - thế sự, và như đã nói, yếu tố thế sự, đời sống xã hội của những bài thơ này còn khá mờ nhạt. Tuy rằng trong số này có một số bài thơ chân thực và khá hay, viết về những người thân trong gia đình, hay viết tặng bạn văn, như: Bố tôi, Trở về với mẹ ta thôi, Kính gửi anh Điềm, Gửi Hoàng Hưng, Thưa lại với người...

    Sau khi đọc và rút ra nhận xét bước đầu về Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn, tình cờ tôi được đọc trên vanhocquenha.vn, một nhận xét tương tự, đó là điều tác giả Minh Thương đã viết: “Thơ Đồng Đức Bốn không phản ánh hiện thực trực tiếp mà phản ánh hiện thực tâm trạng. Nhà thơ không đi vào sự ồn ào mà đi vào những cái trăm năm, ngàn năm của làng quê muôn thuở. Đó không phải là cái của ca dao đã nói, của Nguyễn Bính đã nói mà hình như chưa ai nói. Ấy là nỗi khắc khoải về sự vô vị nhạt nhẽo của những vùng quê trước sự đô thị hoá”. Tôi chia sẻ một phần với sự đánh giá. Vì tôi cũng nghĩ, thơ Đồng Đức Bốn phản ánh hiện thực tâm trạng. Nhưng cần nhấn mạnh thêm rằng, hiện thực tâm trạng trong thơ Đồng Đức Bốn là hiện thực tâm trạng cá nhân, mang tính riêng và loại biệt. Nhưng tôi không rõ thế nào là “nỗi khắc khoải về sự vô vị nhạt nhẽo của những vùng quê trước sự đô thị hóa” trong thơ ông? Từ tiếp nhận của tôi, với phần lớn các bài thơ được xem là Đồng Đức Bốn viết về nông thôn thì thực ra tác giả mới chỉ sử dụng chất liệu nghệ thuật từ đời sống nông thôn, như: ngôn từ, hình ảnh, thành ngữ tục ngữ dân gian, sử dụng thể loại lục bát truyền thống của dân ca, ca dao,… để biểu đạt cảm xúc, suy tư cá nhân. Điều đó không đồng nghĩa với việc nhà thơ đã là một đại diện của người nông dân. Như khi Đồng Đức Bốn viết về Làng Moi, là ông viết về cái làng mà ở đó ông có mẹ già, có ngôi mộ của đứa con, và chỉ vậy thôi. Với các bài Nhà quê, Vỡ đê cũng thế, hình như tác giả mới chỉ viết “vỡ” ra, như những phác thảo, hơn là những văn bản hoàn chỉnh. Theo tôi, để có thể đại diện cho tâm hồn người nông dân, nói lên tiếng nói của họ về cuộc sống, trước xã hội, thì nhà thơ cần nhiều hơn thế mới chạm đến tận cùng cuộc sống và thế giới tinh thần của người nông dân. Có lẽ vì thế mà Đồng Đức Bốn có rất ít bài thơ trọn vẹn về nông thôn và người nông dân như bài Chăn trâu đốt lửa. Ở bài thơ này, sự trọn vẹn về cấu trúc văn bản và về thi pháp có thể bổ sung vào “kho tàng ca dao mới” về nông thôn.

    Bài thơ (gọi là trường ca thì đúng hơn?) ấn tượng hơn cả với tôi ở khu vực cảm xúc này là bài Theo cánh chim bị thương. Bài thơ mang giọng điệu của một nhà thơ - công dân trên hành trình hòa nhịp cùng cộng đồng, trên hành trình đi tìm, đồng thời khẳng định một “cái tôi” giữa đời sống, với những câu thơ hào sảng, khỏe khoắn:

    Đi tìm con chim xanh lạc giữa rừng mây

    Ta vẫn còn gươm thần ở Hồ Hoàn Kiếm

    Khi thơ đến các đền đài cung điện

    Phật ra chùa hát gọi những vầng trăng

     

    … Tôi không theo những dấu chân ngựa sắt

    Thơ viết liềm gặt tiếp những bình minh

    Ta mang danh nhà thơ như mang nỗi khổ trong mình

    Nhưng cây bút ta cầm là nơi các vị thần về nấp bóng

    Cái lưỡi ta là con sông chảy qua miền cát bỏng

    Cho các cặp tình nhân chơi thuyền dưới trăng.

    Nhưng trong Tuyển tập thơ của Đồng Đức Bốn có rất ít bài thơ như vậy. Ngay cả trong những bài viết về các nhân vật lịch sử như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, về mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc, viết ở các địa danh lịch sử, địa chỉ văn hóa nổi tiếng như Huế, Vinh, Nghĩa trang Trường Sơn, Hội An… thì hình như có phần thiếu cảm xúc, hoặc còn gượng, sáo, hoặc đơn thuần chỉ là “điểm tựa” giúp ông nghĩ về một người yêu nào đó. Tuy rằng, những bài thơ này có sức hấp dẫn nhất định, vì chúng được sáng tạo theo lối tài hoa của riêng ông, với một số câu thơ xuất thần, như: Nỗi oan giờ vẫn tái tê - Từ tôi trống nổi bốn bề Côn Sơn (Thức với Côn Sơn); Thương ông hoa cũng héo gầy - Khói hương thành quãng đường lầy sông sâu (Thăm mộ Nguyễn Du)... Đáng tiếc là hai câu trích từ bài Thăm mộ Nguyễn Du trên đây, lại được tác giả sửa ba chữ thành “Thương ông hoa cũng biết gầy - Khói hương thành quãng đường lầy tôi đi” để rồi xuất hiện trong bài Viếng mộ nhà thơ Lê Tám ở nghĩa trang Thanh Tước. Điều này đưa tới dự cảm về tình trạng tác giả còn thiếu vắng cảm xúc, chưa tìm được hình thức ngôn ngữ biểu đạt riêng cho từng đối tượng cụ thể?

    Bài thơ Câu cá ở sông Bạch Đằng, chỉ có ba câu: Sông đỏ cờ bay trước gió - Thơ ngồi trên cọc gỗ - Câu cả chiều vẫn không, chạm nhẹ vào lịch sử, rồi tác giả lại trở về với cái tôi của riêng mình, như bị cuốn theo một lực hướng tâm mà tự ông không thoát ra được. Có thể coi đây là một cách thức thể hiện đặc trưng cho thơ trữ tình - thế sự của Đồng Đức Bốn.

    Có người nói Đồng Đức Bốn làm thơ như người hát rong, gặp gì hát nấy. Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa nhận xét Đồng Đức Bốn làm thơ theo “cớ”, chứ ít làm thơ theo “tứ”. Phải chăng các nhận xét đó là có căn nguyên, vì sáng tạo từ cảm hứng bất chợt nên dễ thiếu chiều sâu của tư duy thơ? Khi mà thi hứng của nhà thơ chỉ nảy sinh vào lúc tác giả hướng sự chú ý của mình vào đối tượng thẩm mỹ cụ thể nhất định nào đó thì “tứ thơ” mới ra đời, sẽ dễ dẫn tới sự mỏng mảnh về cảm xúc, nhà thơ buộc phải khỏa lấp, phải thay thế sự mỏng mảnh ấy bằng các thủ pháp dụng từ, bằng sự uyển chuyển, nhịp nhàng trong khi tổ chức nhịp điệu bài thơ? Kết quả thống kê ở trên cho thấy, Đồng Đức Bốn thường hướng sự chú ý vào việc khai thác tâm trạng cá nhân, với những cảm xúc riêng tư, đơn lẻ, đó là lý do để thơ trữ tình cá nhân chiếm tỷ lệ lớn trong các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, chỉ khi những cảm xúc riêng tư, đơn lẻ gặp gỡ và nhận được sự đồng cảm của người đọc thì cái riêng của nhà thơ mới trở thành cái chung của người yêu thơ. Với Đồng Đức Bốn, điều này liệu có thể giải thích từ hai phương diện: hoặc là “tầm vóc văn hóa” của nhà thơ chưa đủ đặn đầy để ông có thể sống cùng những vui buồn của cộng đồng, của dân tộc; hoặc là “tầm vóc văn hóa” của ông đã đủ lớn để có thể vượt khỏi, vượt lên trên những vui buồn, từ đó thanh lọc những vui buồn mà xây dựng nên một vũ trụ thơ riêng của mình trong cõi nhân sinh? Với tôi, khả năng thứ hai là khó thuyết phục.

    2. Ba hình tượng nghệ thuật nổi bật

    Qua khảo sát các khu vực cảm xúc trong Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn, tôi được tiếp xúc với khá nhiều hình tượng nghệ thuật xuất hiện với tần số cao trong thơ ông, như: chùa, cánh đồng, ngựa, mưa, nắng, dông bão, sông, biển... Trong bài viết này, tôi chỉ đề cập tới ba hình tượng có tần số xuất hiện cao nhất theo thống kê của tôi là mưa, giông bãosông.

    Như với nhiều đồng nghiệp và bạn đọc, mưa trong thơ Đồng Đức Bốn gây ấn tượng với tôi, trước hết từ bài Xin trời một trận mưa rào đón tôi, mà về sau đã có một trận mưa lạ lùng như một linh ứng lúc mọi người tiễn ông về chốn hoàng tuyền. Với 112 lần xuất hiện trong Tuyển tập, mưa có mặt trong cả không gian thực và không gian tâm tưởng, không gian hiện tại và không gian hoài niệm. Mưa xuất hiện qua những thành ngữ dân gian quen thuộc, được Đồng Đức Bốn sử dụng khá nhiều, như “mưa nguồn chớp bể”, “nắng lửa mưa dầm”, “bão giật mưa dông”... Ở đây, tôi chỉ khai thác mưa như là thi ảnh độc lập.

    Trước hết là khi mưa rơi vào hồn thơ của nhà thơ họ Đồng là cơn mưa có thực, trong không gian thực. Trong số những câu thơ tả mưa của ông, có hai câu lục bát rất lạ và hay: Bồi hồi những giọt mưa đêm - Sáng như nến thắp ở bên mái chèo (Đêm Sông Cầu).

    Nhưng mưa trong tâm tưởng thì xuất hiện nhiều hơn. Mưa từ quá khứ mưa về: Vẫn còn thấy những sợi mưa - Dệt thành trăng sáng bờ xưa ta ngồi (Qua nhà người yêu cũ), Bốn mươi năm trở lại mái trường xưa - Con đường cũ bão mưa giờ đã nhạt (Trở lại mái trường xưa), Người giờ dẫu ở nơi nao - Vẫn trông thấy bạn bên rào đợi mưa (Xin người một khúc mộng mơ)...

    Rồi đến một ngày, mưa không còn là mưa của trời nữa, mưa đã mang tải ý nghĩa khác, mưa được “nhân tính hóa”. Tuy không bao hàm ý tưởng lớn lao như mưa trong thơ Hoàng Cầm mà Mai Thục đã viết: “mưa là một không gian vũ trụ đang chuyển vần, tương hợp với sự sống con người,… hiện hữu cái nhìn trực giác của nhà thơ về thời gian, không gian và sự sống của con người, vạn vật hòa đồng, Thiên - Địa - Nhân hợp nhất”, hay mưa trong thơ Huy Cận thể hiện sự vận động của tâm hồn nhà thơ từ sự bế tắc trong cô độc đến hồi sinh trong cuộc sống mới; mưa trong thơ Đồng Đức Bốn là một ẩn dụ của hoàn cảnh mà nhà thơ sinh tồn, là sự hiện hữu của những rào cản, thách thức phận người long đong, sự chia rẽ người thơ với tha nhân, mà ta có thể đọc ra từ những câu thơ:

    Hồn tôi như một lá bùa

    Lửng lơ treo giữa cơn mưa đặc trời

                                                        (Vào chùa)

    Thương mình lặn lội đường xa

    Vào rừng tìm mãi một hoa cải ngồng

    Thế rồi phải quay ra không

    Tìm mình ở phía cánh đồng đang mưa

                                                         (Thương mình lặn lội đường xa)

    Cách nhau một trận mưa rào

    Nhớ người tôi lại đi vào cõi thơ

                                                          (Nhớ người)

    Đáng chú ý là trong các bài thơ viết trước khi lâm chung, nhà thơ nói về một hành trình trở về, ở đó có hoặc ông hy vọng có, những cơn mưa lành: Cuối cùng tôi đi tìm tôi - Ở nơi thơ phú mồ côi bạn bè - Ở trong những bụi gai tre - Vẫn hay những tiếng chích chòe gọi mưa (Đi tìm lại những lời ru), Bây giờ về với trăng sao - Xin trời một trận mưa rào đón tôi (Xin trời một trận mưa rào đón tôi). Như vậy, mưa như hình ảnh của hoàn cảnh, của cuộc đời, với nhà thơ luôn chứa đựng những ẩn ý. Một ẩn ý nữa được nhà thơ gửi vào những cơn mưa cuối cùng của đời mình, là sự gột rửa và cứu rỗi cuộc đời ông, là sự thanh khiết vĩnh hằng mà ông muốn gửi gắm linh hồn mình.

    Đối lập với mưa là nắng, nhờ có nắng mà không gian thơ Đồng Đức Bốn bớt màu sắc u buồn. Nhưng nắng chỉ xuất hiện 83 lần trong Tuyển tập, chưa đủ để cân bằng hai thái cực. Bởi cùng với mưa, còn có một hình ảnh biến thể khác của Nước, đó là giông bão. Theo tôi, đây mới thực sự là hình tượng nghệ thuật đáng kể trong thơ Đồng Đức Bốn. Với 86 lần xuất hiện trong 196 bài, 9 lần xuất hiện trong tên bài, giông bão (gồm cả các từ ghép “giông bão”, “giông tố” và các từ đơn “giông”, “bão”, “tố” đứng độc lập) đã làm nên một tín hiệu thẩm mỹ khá đặc biệt. Cũng như mưa, nắng, giông bão là của trời, nhưng không chỉ vậy. Với nhà thơ, giông bão và các biến thể của nó có khả năng chuyển tải các cung bậc cảm xúc, từ giông bão thực: Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng - Chở con với mẹ qua giông bão này (Vỡ đê), Chiều nay Hồ Tây có giông - Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm (Chiều nay Hồ Tây có giông), đến giông bão trong lòng người, giông bão của số phận. Nếu như mưa mới chỉ gợi cảm hứng, hoặc bị coi là rào cản trên hành trình sống, thì giông bão cuộc đời mới là những thử thách nghiệt ngã mà người thơ phải đối mặt: Ra tới cửa gặp bão - Ra tới đường gặp gai - Đường thì vẫn còn dài - Bão càng ngày càng lớn (Tựa vào bão mà sống), Bẩy ngày ba trận bão giông - Mây về héo cả cánh đồng và tôi (Đợi buồn), Trên trang sách có mặt trời và bão - Có máu và hoa (Dưới mặt trời là bão)...

    Không rõ có phải vì đối mặt triền miên với giông bão số phận, mà nhà thơ nhìn đâu cũng thấy giông bão, khiến bão trở thành một ám ảnh? Tình cũng thành bão: Tình như cơn bão mồ côi - Từ trong cát bụi xa xôi tìm về (Mây núi Thái Hàng còn giông). Và đến người cũng thành bão. Tôi không biết trước Đồng Đức Bốn đã có tác giả nào sử dụng thi ảnh “bão người” hay chưa, riêng tôi mới chỉ gặp lần đầu ở thơ ông, sau này có một hai tác giả sử dụng lại trong truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong Tuyển tập, năm lần Đồng Đức Bốn sử dụng thi ảnh này, cùng với những từ “trận”, “cơn”, thành “trận bão người”, “cơn bão người”, có khi không ghép gì cả: 

    Bao nhiêu cái giận cái hờn

    Vì thơ nên chẳng làm cơn bão người

                                                           (Tìm người)

    … Thơ ông giữa trận bão người

    Những giọt sao sáng mọc chơi đáy mồ

                                 (Viếng mộ nhà thơ Lê Tám ở trên đồi Thanh Tước)

    Mặt trời đã lặn lâu rồi

    Giữa lênh đênh nắng tôi ngồi với tôi

    Một bên là ngọn sóng đời

    Một bên là trận bão người vây quanh

                                                          (Đi tìm mặt trời đã lặn)

    Đưa em qua trận bão người

    Bằng câu lục bát của trời cho anh

                                                         (Đưa em qua trận bão người)

    Trong lòng nặng kiếp từ bi

    Nên anh qua được những khi bão người

                                                           (Thưa lại với người)

    Nếu “bão người” thực sự là sáng tạo mới và riêng của Đồng Đức Bốn thì đây là một sáng tạo rất cần trân trọng, một cống hiến cho ngôn ngữ và ẩn dụ văn học. Ám ảnh về bão trời, bão người đã đành, có lúc nhân vật trữ tình - tác giả còn thấy mình là bão, hóa thân vào bão, trong tình yêu và trong cuộc đời: Anh như bão mọc đàn - Anh như trăng bọc gió (Về Hội An), … Tôi sẽ về từ phía những ngôi sao - Mang theo cả trận mưa rào đầu hạ - Tôi là bão không làm em tơi tả (Dưới mặt trời có bão), Lòng anh cơn bão dài - Giết chết đêm mong đợi (Em xa), Tôi nhìn em bằng con mắt bão (Theo cánh chim bị thương).

    Có lúc nhân vật trữ tình - nhà thơ nhập thân vào bão, có lúc lại phân thân, bằng ý chí và sức mạnh, bằng tình yêu của một con người, để đối diện và vượt qua giông bão. Những lúc như vậy, thơ Đồng Đức Bốn mang giọng điệu kiêu hãnh, đầy sức sống và đôi khi có phần lạc quan: Tôi và em ở đây - Tựa vào bão mà sống (Tựa vào bão mà sống), Anh vẫn nói yêu em - Khi trời còn đang bão - Khi trước đầu ngọn giáo - Anh vẫn nói yêu em (Bến lạ), Tựa bão để sống làm người - Tựa em để được nói lời tình yêu (Tựa bão để sống làm người), … Đi qua những trận mưa giông - Thế nào cũng đến cánh đồng trăng sao (Em như cơn bão trước giờ khỏa thân), Tôi đi tìm tôi giữa hàng triệu người - Sau nụ cười là cơn bão - Tôi đi tìm em trên cánh chuồn bay đảo - Sau cơn bão là nụ cười (Không để trái tim chết dưới mặt trời), Đã từng gom bão làm chiều - Thì ai gieo gió đặt điều cũng qua (Hãy về đây với bến sông)...

    Sự xuất hiện với tần số cao của thi ảnh giông bão trong thơ của Đồng Đức Bốn, cùng với chu trình nhập thân - phân thân - nhập thân trong hình hài giông bão của nhân vật trữ tình - tác giả, khiến việc nắm bắt và giải mã hình tượng thơ này khá phức tạp. Không biết đâu là thơ, đâu là cuộc đời, không biết giông bão cuộc đời làm nên nhà thơ hay chính nhà thơ họ Đồng là giông bão? Từ việc tìm hiểu hình tượng giông bão trong thơ Đồng Đức Bốn, tôi cho rằng: giông bão không phải là vệt kéo dài ở cấp độ cao hơn của mưa, mà là một tín hiệu thẩm mỹ riêng biệt. Nó gợi lên hình ảnh đa chiều của một số phận đầy bão giông trong cuộc đời nhiều bất trắc.

    Tuy nhiên, hình tượng chiếm số lượng lớn nhất trong thơ Đồng Đức Bốn mà tôi thống kê được là Sông. Với 128 lần xuất hiện trong cả Tuyển tập, và nằm trong 16/196 nhan đề bài thơ. Phải nói là từ các con sông có tên như sông Hồng, sông Hương, sông Bạch Đằng, sông Cầu, sông Thương... cho đến các con sông chỉ tồn tại trong tâm tưởng, đã tạo thành một lưu vực đặc biệt bao quanh hồn thơ Đồng Đức Bốn. Trong đó có những câu thơ về sông điệu đàng, đẹp như ca dao, đọc một lần là nhớ: Đừng buông giọt mắt xuống sông - Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm (Đêm Sông Cầu), Sông giờ đã lắng phù sa - Sao mà cây cải nở hoa vẫn buồn (Đưa em qua trận bão người)... Nhưng nhiều hơn cả là những con sông tâm tưởng, chúng chảy cùng với hành trình cuộc đời, với hạnh phúc và khổ đau, với nụ cười và nước mắt, với những gập ghềnh trên con đường số phận:

    Tôi đi tìm một tình yêu

    Trên dòng sông chứa rất nhiều ban mai

    Tôi đi tìm dòng sông gai

    Lốt chân chim đậu trên vai thành hồ

                                                           (Sông Thương ngày không em)

    Tôi ngồi khóc một dòng sông

    Dòng sông không chết bởi giông bão còn

                                                                (Khóc một dòng sông)

    Đã là sông lắm phù sa

    Sao không chảy phía người ta vẫn buồn

                                                                (Những giấc mơ đêm)

    Bây giờ sông hóa lưỡi cưa

    Để tôi đi sớm về trưa nát lòng

    Bây giờ em đã sang sông

    Để tim tôi búp sen hồng bỏ rơi

    Vớt buồn trên mặt sông trôi

    Bây giờ vẫn chỉ mình tôi giữa dòng

                                                         (Sang sông)

     

    Chân ngựa đi đã thành sông

    Trời cứ giông

                                                                (Xe ngựa tôi đi một mình)

    Đi cùng những thăng trầm của đời người, trong thơ Đồng Đức Bốn, sông có khi cho người niềm vui, lại có lúc làm người đau, sông chứng kiến và sẻ chia những bão giông của đời người. Sau tất cả những gì đã nếm trải, không hiểu sao, sông vẫn là hình ảnh bền vững nhất trong thơ ông, như những gì cuối cùng còn lại. 9/10 bài thơ ở cuối Tuyển tập, được viết ở chặng cuối cùng trong cuộc đua kéo dài số phận, bài nào cũng có thi ảnh sông, trong đó những bài như Nhớ một dòng sông, Cuối cùng vẫn còn dòng sông, Hãy về đây với bến sông, Muôn vàn sông chảy về đây đều toát lên tinh thần ấy. Ngay cả khi phải bằng ý chí để gắng gỏi chống lại số phận, rằng “tôi không thể chết được đâu” trong bài thơ cùng tên, với sông, nhà thơ như vẫn nghĩ còn điều gì chưa đền đáp: Bởi tôi còn khúc sông sâu nợ đò (Tôi không thể chết được đâu). Đến bài Không đề, khi tất cả đã và đang sắp mất đi, những ao ước bình dị nhất về cuộc sống đã lộ diện, bắt đầu bằng hai câu thơ: Chỉ cần có một túp lều - Bên con sông nhỏ rất nhiều phù sa. Và cũng từ đó, một dòng sông chảy từ hiện thực vào nỗi nhớ, gắn với hình bóng người mẹ già lam lũ: Tôi con nhớ một dòng sông - Mẹ đi cắt cỏ mưa không kịp về (Nhớ một dòng sông)...

    Ngẫm ngợi về ba hình tượng mang tính ẩn dụ mà Đồng Đức Bốn sử dụng với tần số cao trong thơ, tôi nghĩ, liệu có thể đưa ra một giả định: nếu mưa là ẩn dụ của hoàn cảnh và sự ngăn trở, giông bão là ẩn dụ của số phận thì sông là ẩn dụ của chốn trở về, nơi chở che và neo đậu cuối cùng của tâm hồn thi sĩ? Đáng chú ý là các hình tượng mang tính ẩn dụ đó không chỉ xuất hiện riêng lẻ, có lúc chúng đi đôi, đi ba với nhau: Cuối cùng nếu phải ra đi - Em xin gửi lại những gì cho anh - Bờ đê một vạt cỏ xanh - Dòng sông năm tháng chảy quanh mặt trời - … Anh tặng em tiếng chuông chùa - Khi ba tiếng mở thì mưa bỗng rào (Kính gửi anh Điềm), Anh đã từng đi làm những cơn mưa - Thì bão đến chẳng có gì biết sợ - Với trời xanh anh là người mắc nợ - Với dòng sông anh là kẻ nặng tình (Khi đã yêu những đồng cỏ hoa vàng)... Rồi không biết là ngẫu nhiên hay có chủ ý, Xin trời một trận mưa rào đón tôi - bài thơ cuối cùng của Tuyển tập, cũng là bài thơ được coi như lời trăng trối bằng thơ của nhà thơ Đồng Đức Bốn, lại xuất hiện cả ba hình tượng nổi bật này.

    Trở về với suối với sông

    Trở về với đất với không có gì

    Hồn thơ lục bát ra đi

    Xin người ở lại sống vì nhau hơn

    Vì nhau thì bão hết cơn

    Bao nhiêu là những giận hờn sẽ tan

    … nếu còn là kẻ bất lương

    Bao nhiêu bão tố mười phương đổ vào

    Tôi giờ về với trăng sao

    Xin trời một trận mưa rào đón tôi.

                                                        (Xin trời một trận mưa rào đón tôi)

    Cho dù sự xuất hiện đó là kết quả sáng tạo có ý thức hay từ vô thức của nhà thơ thì với tôi, các hình tượng mưa, giông bãosông ở bài thơ cuối cùng này đã làm nên sự hội tụ đặc biệt của số phận, hoàn cảnh và nơi chốn trở về.

    Trước khi khép lại phần này, tôi muốn đưa ra một giả định: nếu ba hình tượng mang tính ẩn dụ là mưa, giông bão, sông đều là biến thể của Nước - một mẫu gốc trong tâm thức văn hóa nhân loại nói chung, trong văn hóa người Việt nói riêng, đồng thời là một trong năm yếu tố cấu thành nên Ngũ hành, thì liệu có điều gì liên quan đến số phận của Đồng Đức Bốn? Vâng, nếu tôi rành về “lý số”, tôi sẽ thử nghiên cứu để trả lời câu hỏi về mối liên hệ khả thể giữa nhà thơ “mệnh Hỏa” Đồng Đức Bốn với sự tràn ngập của Nước trong 196 bài thơ của ông. Bởi tương tự như thế, có phải là ngẫu nhiên khi tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận - một nhà thơ “mệnh Hỏa” cũng đầy ắp Nước? Nhưng vì khả năng có hạn, tôi chỉ có thể dừng lại ở một số phác thảo bước đầu về sự xuất hiện của ba hình tượng trên đây, ngõ hầu đưa ra ý kiến của mình. Phác thảo đó có thể chưa thấu đáo về mặt giá trị trong khi đánh giá thế giới thơ của Đồng Đức Bốn, thì ít nhiều cũng là một cách nhìn, một sự tiếp cận cho thơ và vì thơ.

    Thay cho lời kết:

    Cuối cùng, dù nhận xét thế nào thì với một người làm thơ, việc sáng tạo nên những “đứa con tinh thần” có thể để lại dấu ấn trong đời sống văn chương của cộng đồng vẫn luôn luôn là khát vọng, và đừng vội đòi hỏi họ phải nhanh chóng chiếm lĩnh những đỉnh cao. Với một người làm thơ, việc đem tới cho đời những câu thơ hay, được đồng nghiệp và bạn đọc tán thưởng, ghi nhận và đánh giá cao, cũng là điều rất đáng mừng, rất đáng tự hào rồi. Đồng Đức Bốn là một nhà thơ như vậy, tôi tin hầu như mọi đồng nghiệp, bạn bè có mặt tại Hội thảo này đều đã thuộc một vài hoặc rất nhiều câu thơ của ông. Thiết nghĩ, chỉ riêng điều đó cũng đủ để làm nên tên tuổi của ông trong làng thơ Việt!

    Thái Nguyên, 10/4/2011

     

    Đồng Đức Bốn: Thơ và đời giữa cõi hư không

    Vũ Thúy Hồng

    Ấn tượng sâu sắc về Đồng Đức Bốn trong tôi là nhận xét của nhà thơ Trịnh Hoài Giang “Một con người đặc biệt bậc nhất làng văn Việt Nam, cả trong đời thường lẫn trong văn chương”. 

    Nói đến Đồng Đức Bốn, cái thực cái hư, sự thánh thiện và trần tục đan xen nhau đến mức không thể phân biệt. Nếu bạn tìm nhà Đồng Đức Bốn, ở bán kính  khoảng 4 - 5 km mà hỏi đường đã được người ta chỉ dẫn chi tiết đến từng ngả rẽ.  

    Thiết kế và trang trí nội thất kiểu Đồng Đức Bốn thì độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Nhà mái bằng, vuông vức theo cách xây nhà ống thành thị, sơn xanh biếc như cao ốc ở Thượng Hải và bức tường trước nhà với cánh cổng khổng lồ cao đến ba mét để chống trộm. Trước cửa là bức tượng mạ vàng và phù điêu khắc những câu thơ lục bát kỳ lạ, đọc lên thấy sởn gai ốc. Trong nhà điểm xuyết nhiều phong cách “tân cổ giao duyên”. Những hoa văn và đèn trang trí kiểu châu Âu không ăn nhập với chiếc bàn làm việc ôkan do nội thất Phúc Tăng thửa riêng, nó to hơn bất cứ bàn làm việc của Tổng giám đốc nào. Trên tường lủng lẳng các tấm hình chụp với nhiều quan chức các cấp, vô số thư tay và lời nhận xét của “víp” được ép plactic. Bình gốm, lọ hoa giả cổ cao vút đứng cạnh máy vi tính và xe Dylan, tượng thần Vệ nữ cởi trần xếp gần tượng Quan Công vác đao. Những chai rượu tây 5 lít xếp hàng dài cạnh hũ rượu thuốc khổng lồ có con rắn hổ mang to như cái đòn gánh cuộn lại. Đồng Đức Bốn lật rèm từ gian thờ phía sau đi ra, giọng ồm ồm kiểu nhà quê, đọc thơ oang oang và rót rượu mời. Cũng có khi ấn vào tay bạn một chai rượu ngoại nguyên tem nhập khẩu hay rút ra một mớ đô la, lấy tờ 2 đồng lẻ và bảo “tiền lộc của bọn tây đấy” rồi bắt mang về làm quà.

    Những câu chuyện mà người ta đồn thổi về Đồng Đức Bốn nhiều như những vần thơ lục bát trong tổng tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành 2005 nặng gần bốn cân ra mắt bạn đọc trước khi ông về nơi thiên cổ. Nào là khi còn hàn vi, ông Bốn đã từng có khối vụ vay mượn hoặc mua bán không tiền khoáng hậu. Đơn cử, có lần ông quên mất là đã nhờ nhà thơ Thanh Tùng, tác giả Thời hoa đỏ nổi tiếng mua chịu hai thùng bia, khiến nhà thơ đầu hói họ Doãn nghèo khó đang làm bảo vệ ở quán bia bỏ tiền túi trả thay. Thanh Tùng cười hề hề: “Như thế mới là Bốn chứ”.

    Khi tiếng tăm đã nổi như cồn, thơ được người ta truyền khẩu hàng trăm câu độc đắc, ta thấy có một Đồng Đức Bốn thật kỳ lạ. Những lúc đang họp hành nghị sự, ông móc chiếc điện thoại di động lủng lẳng mấy cái nhẫn vàng trang trí, và lên giọng ồn ào với toàn Tổng biên tập đài nọ, báo kia, hay chí ít cũng là cỡ giám đốc sở hoặc thành ủy viên để bàn công chuyện. Tôi nhớ đến đêm thơ nhạc Đồng Đức Bốn do một công ty môi trường tài trợ. Chân dung tác giả được vẽ trên vải trắng tinh, dài mười mấy mét thả từ nóc nhà hát Tháng Tám xuống. Theo tác giả thì đêm thơ lãi to vì có rất nhiều doanh nhân đến tặng quà và xin tiếp tục tài trợ. Rồi Đồng Đức Bốn làm đơn xin vào Hội nhà văn Việt Nam. Hình như Ban chấp hành Hội Nhà văn khi ấy cũng bị ông Bốn làm đơn kiện và gán cho đủ thứ danh hiệu... Người ta còn đồn rằng cứ nửa đêm, ông Bốn lại đến cửa “một ủy viên hội đồng thơ” ở phố Bà Triệu (Hà Nội), réo gọi lên tầng hai hỏi tại sao không bỏ phiếu cho tôi?

    Đó là những giai thoại.

    Nhưng khi hỏi Đồng Đức Bốn về các bê bối liên quan đến tiền bạc, tài sản. Ông bảo: Đúng là thời gian trước kia tôi cũng gặp khó khăn, bố chết, con chết, em chết, mình thì in sách. Cũng có vay mượn của anh em, mượn rồi chậm trả thôi chứ chưa hề quịt của ai một đồng nào. Bây giờ nói một cách mạnh bạo ra, anh em có tiền tỉ, thì tôi cũng có tiền tỉ, cũng cấp lại cho anh em trong văn chương rất nhiều. Ai thiếu, năm trăm một triệu tôi cho luôn.

    Rồi Đồng Đức Bốn trở thành Giám đốc chi nhánh Hải Phòng của Trung tâm Văn hoá doanh nhân, trực thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Ông bảo: “Tôi làm cái văn hóa doanh nhân này vì đời sống văn học nghệ thuật của thành phố ta còn kém”.

    Một hôm có trại viết ngoài Cát Bà, ông cho xe ô tô ra chơi với chúng tôi. Chẳng hiểu ông thuyết phục hay xưng danh thế nào mà lực lượng bảo vệ mời ông chạy xe đến tận đỉnh Cát Cò, bước vài bước là xuống đến bãi tắm, không phải đi bộ hơn một cây số như mọi người. Sau đó ông “mừng tuổi” chúng tôi mỗi người một tờ đô la. Bạn làm thơ, viết văn đến nhà chơi, thường được Đồng Đức Bốn tặng một tập san kèm theo chiếc phong bì nhuận bút, nhưng về nhà giở ra thì chẳng thấy đăng bài của mình! Tôi đã nhận nhuận bút của Đồng Đức Bốn một lần như thế. Hóa ra ông cho khéo bạn bè ít tiền một cách rất là văn hóa.

    Hỏi Đồng Đức Bốn làm gì ra nhiều tiền đến thế? Ông khoe: “Sách của tôi bán được, thu nhập của tôi là từ tám tập sách. Có bẩy giải thưởng, khối tiền. Quê tôi nằm trong một khu công nghiệp, hơn một mẫu ruộng được đền bù và cấp tái định cư. Tiền nó ở đấy mà ra. Sách của tôi bán cho các cơ quan doanh nghiệp, có khi người ta trả gấp đôi. “Trở về với mẹ ta thôi” lãi đến bốn trăm phần trăm. “Chăn trâu đốt lửa” lãi đến hơn hai chục triệu. 

    Nói vậy, nhưng cho đến tận bây giờ, câu hỏi vì sao Đồng Đức Bốn giàu như thế vẫn là một bí mật. Khi ông lâm bạo bệnh, chúng tôi đến thăm, vợ Đồng Đức Bốn nói rằng mệt như thế nhưng ông vẫn đi làm. Làm gì không rõ. Có lẽ đó là điều bí mật nhất của một trong những nhà thơ kỳ lạ nhất từ trước đến nay!

    Tôi hỏi: Người ta nói ông làm thơ lục bát như không, thậm chí có bài đọc lên thấy tự nhiên chủ nghĩa, ông nghĩ sao?

    Ông bảo: Nghĩ gì là quyền của mọi người, tôi thấy chả sao cả. Nhưng ai đọc tôi và thuộc tôi đều khen hay. Làm thơ cứ có thơ hay là được, bất kể ai yêu ai ghét. Tôi làm thơ bằng cảm xúc tự nhiên, tự nhiên nó ùa đến, như là giời xui đất khiến. Cái bài “Chăn trâu đốt lửa”, tôi chỉ viết trong một phút. Khi mình đau khổ thì tứ thơ tự nhiên nó nảy ra. Tôi viết trong đầu, sửa trong đầu, đánh máy ra là xong. Làm lục bát, khó nhất là biết chắt chiu, như bài “Chiều nay hồ Tây có dông” mà nhiều người thích, đầu tiên tôi viết đến hai tư câu, sau cắt lại còn mười, cuối cùng thì chỉ còn có một câu là: “Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”. Lục bát dạo này lạm phát quá. Nói không ngoa trước tôi có ông Nguyễn Duy, sau này tôi đọc nhiều người, thấy chỉ được câu, được bài. Tôi làm lục bát như cầm đống đá to ném xuống cái ao tù, cho mặt nước nó vỡ ra, các vòng sóng lan đi. Tôi khuấy động như thế nên nhiều người nhớ và thuộc thơ tôi. Sau này tôi chết đi rồi người ta vẫn còn nhớ thơ tôi đấy.

    Không hiểu sao cả từ khi chưa phát bệnh, Đồng Đức Bốn hay nói đến cái chết. Trước Tết Bính Tuất 2006, khi nằm trên giường bệnh, ông vẫn điện cho bạn bè văn nghệ chia sẻ niềm vui ra mắt tập thơ cuối cùng “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc” nặng trịch như cục đá. Và đến ngày lễ Tình nhân (14/2), chỉ sau ngày thơ Việt Nam vài hôm thì Đồng Đức Bốn, con người đã khiến giới văn nghệ và truyền thông tốn bao nhiêu giấy mực, “người đã gây náo loạn làng văn Việt Nam” như lời một nữ thi sĩ từng nhận xét, đã ra đi mãi mãi. Chả biết ở suối vàng ông có tiếp tục viết lục bát nữa hay ông chuyển nghề sang kinh doanh và trở thành người giàu có, thành đạt. Nhưng chắc chắn rằng, thơ Đồng Đức Bốn sẽ được đọc, được nhớ lâu, “năm mươi năm nữa chắc nhiều người vẫn còn thuộc thơ tôi” - Đồng Đức Bốn đã từng bảo thế.

    Lên đầu trang

    Tiêu đề

    Hiện tại không có bình luận nào.

    Viết bình luận của bạn


    Sự kiện  

    Đoàn đại biểu Hội Nhà văn Mông Cổ thăm Hội Nhà văn Việt Nam  

    VanVN.Net - Chiều 23/5/2011, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh đã nồng nhiệt đón chào đoàn Hội Nhà văn Mông Cổ (Mongolian) do nhà thơ Khaidav Chilaajav, Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn sang thăm Việt Nam. Cùng đi có nữ nhà thơ Munkhtsetseg, Phó ...

    Nhân vật  

    Hồ Chí Minh dụng binh pháp Tôn Tử và Tam thập lục kế

    VanVN.Net - Tôn Tử binh pháp và Tam thập lục kế (36 kế) là những tác phẩm binh thư cổ có giá trị nhất của Trung Quốc, xuất hiện từ thời xuân Thu và truyền đời mãi mãi. Tôn Tử được suy tôn là “Thuỷ tổ binh học ...

    Hoạt động Hội Nhà Văn  

    Những ấn tượng trẻ khó quên

    VanVN.Net - Sau gần 5 năm mong đợi, vào lúc 14 giờ ngày 27.5 tại Bến Nhà Rồng (chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thành phố Hồ Chí Minh), đã chính thức khai mạc Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ 3. Hơn 100 ...

    Tư liệu  

    Hành trình M. Bulgakov

    VanVN.Net - M. Bulgakov là nhà văn Nga khá quen thuộc với bạn đọc nước ta qua các tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita, Trái tim chó, Những quả trứng định mệnh; vở kịch Những ngày cuối cùng (Puskin) do Đoàn Tử Huyến chuyển ngữ…