Chế Lan Viên: Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa (…) Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?
Gửi thư    Bản in

Về nỗi đam mê “đạo văn” của Vũ Ngọc Tiến

Trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam”

28-05-2011 07:22:33 PM

VanVN.Net - Quả thật, sau khi bàn bạc, chúng tôi đã cắt đi một số câu nhậy cảm và ra ngoài chủ đề của bài “Vài lời thưa lại với anh Văn Chinh” (vì nếu để thế, và nếu tiếp tục trao đổi, từ việc này nó sẽ ra việc khác, rất có thể đó là cách tung hỏa mù cho…xong), chúng tôi đã post bài ấy lên và thống nhất sẽ dừng vụ việc này lại…

Nhưng do hai lẽ:

1, Chúng tôi đã đề nghị nhà lý luận phê bình Nguyễn Hòa gửi cho tư liệu trước khi nhận được bài hồi âm của Vũ Ngọc Tiến

2, Trong quá trình biên tập và bàn bạc bài của Vũ Ngọc Tiến, chúng tôi lại nhận được điện thoại của bạn đọc, bài của ông đã đưa nguyên văn trên trannhuong.com; đẩy vấn đề đi xa hơn

Vì vậy, chúng tôi lần lượt cho đăng bài của nhà lý luận phê bình Nguyễn Hòa viết về vụ Vũ Ngọc Tiến đạo văn cách nay 6 năm, bài xin lỗi và đính chính của Vũ Ngọc Tiến và bài “Góp ý” hay “phê bình”, “vô tình” hay “đạo văn”? của Nguyễn Hòa để bạn đọc tham khảo / có một cái nhìn hệ thống về hiện tượng Vũ Ngọc Tiến.

 

Đọc “lời phi lộ” của Vũ Ngọc Tiến khi cho đăng trên talawas kết quả nghiên cứu Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam (talawas, 22.8.2005) tôi hơi bị… buồn, những muốn chia sẻ cùng ông vì nỗi “đam mê” và cái sự “phơi gan ruột mình lên trang viết” đã không được người ta chú ý. Đọc lần thứ nhất, tôi thấy vì nể, dẫu sao một tác giả “nghiên cứu nghiệp dư... ngoại đạo” mà dám liều mình “nghiên cứu” một công trình hoành tráng như thế, với một sự huy động kiến thức uyên thâm như thế, với các đánh giá và khái quát về lịch sử tư tưởng dân chủ ở Việt Nam ghê gớm đến như thế… thì cũng đáng phải vì nể thật. Đọc lần thứ hai thì tôi “ngửi” thấy có mùi bất thường và thi thoảng lại muốn “nhấc mũ” chào một người hơi... quen quen (!) nhưng chưa đoán ra là ai. Đành làm một tra cứu nho nhỏ, thì phát hiện trong nghiên cứu của mình, ông Vũ Ngọc Tiến đã thực hiện những thao tác mà bất kỳ người nghiên cứu chuyên nghiệp hay nghiệp dư nào có chút ít liêm sỉ cũng không cho phép mình thực hiện.

Nếu bạn đọc đã có trên giá sách cuốn Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) xin hãy lấy xuống và tìm trang 283. Từ trang 283 đến trang 298 của cuốn sách này in bài viết của PGS TS Trần Ngọc Vương có nhan đề Tân thư và sự vận động của tư tưởng dân chủ ở Việt Nam trong hai mươi năm đầu thế kỷ XX (theo khảo sát của tôi, về sau tác giả in lại bài này trong cuốn Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung - tái bản lần thứ 3, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999 và một website của người Việt ở hải ngoại đã đăng lại). Làm một đối chiếu đơn giản giữa tiểu mục I. Thần dân Việt Nam trong các học thuyết tư tưởng xưa cũ của Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam (Vũ Ngọc Tiến) với Tân thư và sự vận động của tư tưởng dân chủ ở Việt Nam trong hai mươi năm đầu thế kỷ XX (Trần Ngọc Vương) chúng ta sẽ thấy Vũ tiên sinh đã đam mê “thuổng” hầu như toàn bộ các ý tưởng và chép nguyên văn nhiều đoạn từ bài viết của Trần Ngọc Vương như thế nào. Xin đơn cử vài thí dụ:

1a. Vũ Ngọc Tiến viết: “Liên quan trực tiếp đến việc xác lập nội hàm “dân” ở Việt Nam là các học thuyết đóng vai trò ý thức hệ chính trị của dân tộc như Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo. Nhìn chung, trong nền chính trị Đông Á và Việt Nam, Nho giáo đã từng là hệ ý thức chính thống có lịch sử lâu dài, chi phối đời sống chính trị toàn xã hội. Vậy nên tư tưởng về dân của Nho giáo dĩ nhiên cũng là đối tượng quan trọng để bàn xét”.

1b. Trần Ngọc Vương viết: “Liên quan trực tiếp đến việc xác lập nội hàm của cách hiểu về “dân” trong truyền thống là các học thuyết đã từng đóng vai trò ý thức hệ chính trị hoặc tác động đến việc hình thành nên các ý thức hệ chính trị đó: Phật giáo, tư tưởng Lão trang, Pháp trị và Nho giáo. Vì trong nền chính trị Đông Á, Nho giáo Nho giáo đã từng là hệ ý thức chính thống có vận mệnh lịch sử lâu dài và giữ vai trò chi phối quan trọng nhất, nên tư tưởng về dân của Nho giáo dĩ nhiên cũng là đối tượng quan trọng để bàn xét” (tr. 284, Sđd).

2a. Vũ Ngọc Tiến viết: “Hầu như giới nghiên cứu đều đã khẳng định rõ ràng không thể tìm kiếm một ý niệm dân chủ ở Khổng Tử. Ở người sáng lập quan trọng nhất của Nho giáo này, dân là một tập hợp đa số vô danh, hầu như không bao giờ được tính đến với tư cách là cá nhân cụ thể. Khổng Tử hình dung mạch lạc về một thế giới có chủ, mà người chủ cao nhất là trời. “Hoạch tội vu Thiên, vô sở đảo giáo”. Nghĩa là phạm tội với trời thì không cầu đảo vào đâu được nữa. Kế đến ông chủ thứ hai của thế giới là thiên tử, “Đại thiên hành hóa, thế thiên hành đạo”. Dưới thiên tử là chư hầu, rồi đến sĩ đại phu và cuối cùng là dân. Trật tự đó là tự nhiên, là tất yếu, do trời xếp đặt. Ông cũng trực giác thấy rằng phải sử dụng dân như một đối trọng cần thiết trên chính trường, đôi lúc còn như một sự bảo đảm cho thể chế chính trị. Căn cứ vào toàn bộ nội dung học thuyết của Khổng Tử, có thể nói ông không hề ngờ vực “tính chất chí tôn, bất khả tư nghị” của ngôi vua. Hãy xem đoạn văn mô tả ngắn gọn, hàm súc trong sách Luận ngữ khi ông vào chỗ công môn: “Tử nhập công môn cúc cung như dã, như bất dung, lập bất trung môn, hành bất lý vực. Qua vị sắc bột như dã, kỳ ngôn tự bất túc giả. Xuất giáng nhất đẳng, sinh nhan sắc, di di như dã. Một giai, xu dực như dã. Phục kỳ vị, phúc tích như dã”. Nghĩa là: Khổng Tử vào chỗ công môn khúm núm, lễ phép như cửa bị thấp. Khi đứng ông không dám đứng giữa cửa, khi đi không giẫm lên ngạch cửa. Qua chỗ ngôi vua (dù là ngôi bỏ trống) mặt tái mét, chân run rẩy, nói chẳng ra lời. Vén áo lên công đường thì khúm núm, lễ phép, nhịn khí như không thở. Một khi ông ra ngoài rồi thì mặt tươi trở lại, nét vui vui lên. Đến thềm thì như chim duỗi cánh. Về chỗ trở lại thì kính sợ như cũ.

Tuy vậy, Khổng Tử không vì ngôi vua mà hy sinh dân chúng. Ngược lại, chính Khổng Tử lại là người khơi dậy ý tưởng “ý dân là ý trời, dân muốn là trời muốn”. Ngôi vua là chí tôn, nhưng “dân vô tín bất lập”. Một khi dân đã mất hết lòng tin thì vua không thể ở ngôi được nữa (Lời Nhan Uyên trong sách Luận ngữ). Theo Khổng Tử và các học trò của ông, dân là một thực thể hồn hậu, bí ẩn, nhưng cũng thuần phác, nguyên sơ. Vậy nên người làm chính trị phải “chăn dân, giáo dân, thân dân”, lại vừa phải thận trọng đừng làm gì quá quắt với họ: “Xuất môn như kiến đại tân, sử dân thừa đại tế” (Ra cửa phải nghiêm trang như gặp khách quí, sai khiến dân phải thận trọng như hành một nghi lễ lớn).

Nếu như với Khổng Tử, giới nghiên cứu khá nhất trí hình dung ông là một nhà tư tưởng khôn ngoan của chế độ quân chủ, thì với Mạnh Tử lại có hàng loạt ý kiến đánh giá không thống nhất, đặc biệt là thái độ của Mạnh Tử đối với dân. Một số người đã cường điệu cho rằng Mạnh Tử là người có đóng góp nhiều nhất cho tư tưởng dân chủ trong toàn bộ lịch sử chính trị Đông Á. Ngược lại, cũng có nhiều người xem Mạnh Tử chỉ là người khôn ngoan tìm cách điều hòa mâu thuẫn, tự tạo ra những cái bẫy về lôgíc nhận thức không thể thanh toán được. Về điểm này, tôi thấy đồng tình với nhận định của nhà nghiên cứu Nho học Trung Quốc Vi Chính Thông: “Rõ ràng học thuyết mang tính cách mạng Nho học của Mạnh Tử khác xa với cuộc cách mạng nhằm thiết lập nền dân chủ cộng hòa thời nay. Các tư tưởng “dân quí, quân khinh” hay “dân vi bản” mới nghe qua tư tưởng giống với tư tưởng quyền thuộc về dân theo quan niệm dân chủ cận đại phương Tây. Những người quen kiểu phụ họa, phóng đại đều có nhận định như vậy. Nhưng nếu đi sâu phân tích sẽ thấy hai quan niệm đó rất khác xa nhau” và đoạn trích của Vi Chính Thông được Vũ Ngọc Tiến ghi chú: “ Vi Chính Thông, Nho gia và Trung Quốc ngày nay. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996).

2b. Trần Ngọc Vương viết: “Hầu như giới nghiên cứu đều đã khẳng định rõ ràng rằng không thể tìm kiếm một ý niệm dân chủ ở Khổng Tử. Ở người sáng lập quan trọng nhất của Nho giáo này, dân là một tập hợp đa số vô danh, hầu như không bao giờ được tính đến với tư cách là các cá nhân cụ thể. Tuy Khổng Tử hình dung mạch lạc về một thế giới có chủ, mà người chủ cao nhất là trời. “Hoạch tội vu Thiên, vô sở đảo giáo” [1] - Phạm tội với trời thì không cầu đảo vào đâu được nữa, rồi đến thiên tử - người “Đại thiên hành hóa, thế thiên hành đạo” - đến chư hầu - đến sĩ đại phu rồi mới đến người bình thường (“thất phu”). Ông cũng trực giác thấy rằng cần phải sử dụng “dân” như một đối trọng cần thiết và đôi lúc, như một sự bảo đảm. Căn cứ vào toàn bộ hành trang và ngôn luận của Khổng Tử, có thể nói Khổng Tử không hề ngờ vực tính chất “chí tôn, bất khả tư nghị” của ngôi vua. Hãy xem đoạn văn mô tả ngắn gọn, hàm súc, mà không hiểu sao tôi lại cảm thấy đầy tính chất hoạt kê này trong Luận ngữ: “(Tử) nhập công môn cúc cung như dã, như bất dung, lập bất trung môn, hành bất lý vực. Qua vị sắc bột như dã, kỳ ngôn tự bất túc giả. Xuất giáng nhất đẳng, sinh nhan sắc [2] , di di như dã. Một giai, xu dực như dã. Phục kỳ vị, phúc tích như dã”. Khổng Tử vào chỗ công môn khúm núm, lễ phép như cửa bị thấp. Khi đứng ông không dám đứng giữa cửa, khi đi không giẫm lên ngạch cửa. Qua chỗ ngôi vua (dù là ngôi bỏ trống) mặt tái mét, chân run rẩy, nói chẳng ra lời. Vén áo lên công đường thì khúm núm, lễ phép, nhịn khí như không thở. Một khi ông ra ngoài rồi thì mặt tươi trở lại, nét vui vui lên. Đến thềm thì như chim duỗi cánh. Về chỗ trở lại thì kính sợ như cũ (Luận ngữ - Hương đảng). Tuy vậy, Khổng Tử không vì ngôi vua mà hy sinh dân chúng. Ngược lại, chính Khổng Tử là người khơi dậy ý tưởng “ý dân là ý trời”. Ngôi vua tuy chí tôn, nhưng “dân vô tín bất lập” (dân không tin thì không ở ngôi vua - Luận ngữ: Nhan Uyên).

“Dân” là một thực thể hồn hậu, bí ẩn, nhưng cũng thuần phác, nguyên sơ, vậy nên vừa phải “chăn dân, dạy dân, nuôi dân”, lại vừa phải thận trọng đừng làm gì quá quắt đối với họ: “Xuất môn như kiến đại tân, sử dân thừa đại tế” (Ra cửa phải nghiêm trang như gặp khách quí, sai khiến dân phải thận trọng như hành một nghi lễ lớn - Luận ngữ: Nhan Uyên). Nếu như với Khổng Tử, giới nghiên cứu khá nhất trí hình dung ông là một nhà tư tưởng khôn ngoan của chế độ quân chủ, thì với Mạnh Tử, trong hàng loạt công trình nghiên cứu lại bộc lộ những cách xem xét, những sự đánh giá không thống nhất, đặc biệt là thái độ của vị này đối với dân. Cả trong truyền thống trước đây, cả ở các nhà tân Nho giáo đời nay, không ít ý kiến cho rằng Mạnh Tử là người có đóng góp nhiều nhất cho tư tưởng dân chủ trong toàn bộ lịch sử chính trị Đông Á. Ngược lại, cũng khá nhiều người xem Mạnh Tử chỉ là người khôn ngoan tìm cách điều hòa mâu thuẫn, tự tạo ra những cái bẫy về lôgíc nhận thức không thể thanh toán được. Nhìn tổng thể, chúng tôi chia sẻ với ý kiến bình luận về ông này của học giả Vi Chính Thông: “Rõ ràng học thuyết mang tính cách mạng Nho học của Mạnh Tử khác xa với cuộc cách mạng nhằm thiết lập nền dân chủ cộng hòa thời nay. Các tư tưởng “dân quí, quân khinh” hay “dân vi bản” mới nghe qua tư tưởng giống với tư tưởng quyền thuộc về dân theo quan niệm dân chủ cận đại phương Tây. Những người quen kiểu phụ họa, phóng đại đều có nhận định như vậy. Nhưng nếu đi sâu phân tích sẽ thấy hai quan niệm đó rất khác xa nhau.” (tr. 284, 285, 286 Sđd) và đoạn trích của Vi Chính Thông được Trần Ngọc Vương ghi chú: “Vi Chính Thông, Nho gia và Trung Quốc ngày nay. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996, tr. 206).

Trên đây là hai đoạn văn tiêu biểu mà tôi cho rằng ông Vũ Ngọc Tiến đã “ăn cắp” của Trần Ngọc Vương để đưa vào cái gọi là “nghiên cứu” của ông. Còn rất nhiều “mẩu”, nhiều “đoạn” khác trong Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam mà Vũ Ngọc Tiến “thuổng” của ông Trần Ngọc Vương theo lối lắp ghép tôi xin phép không phải dẫn lại, vì nghĩ chỉ với hai ví dụ trên đây, bạn đọc đã có thể hình dung ông Vũ Ngọc Tiến đã “nghiên cứu” như thế nào. Sẽ là kỳ quái nếu Vũ Ngọc Tiến giải thích sự “trùng khớp” giữa một số ý tưởng và sự diễn đạt của ông trong Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam với một số ý tưởng và sự diễn đạt của Trần Ngọc Vương trong Tân thư và sự vận động của tư tưởng dân chủ ở Việt Nam trong hai mươi năm đầu thế kỷ XX như là sự “gặp nhau của những tư tưởng lớn”, song bạn đọc lưu ý bài viết của Trần Ngọc Vương ra đời trước “nghiên cứu” của Vũ Ngọc Tiến hẳn bốn năm! Và liệu ông có thể đưa ra một ví dụ khác để chứng minh trong thực tế nghiên cứu khoa học, đã có hai tác giả không những “trùng khít” về ý tưởng mà còn “trùng khít” cả trong diễn đạt, trong phân tích, trong luận giải, trong ví dụ…? Theo tôi, tất thảy các thao tác Vũ Ngọc Tiến đã tiến hành như trình bày ở trên, chỉ có thể giải thích một cách duy nhất, đó là Vũ Ngọc Tiến đã “đạo văn” của PGS TS Trần Ngọc Vương, và điều này làm tôi thật sự kinh hoàng. Tôi khó có thể thuyết phục được chính mình rằng người ta có thể trắng trợn đến như vậy, liều lĩnh đến như vậy. Mặt khác, qua việc gửi và công bố Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam trên talawas, Vũ Ngọc Tiến không chỉ xúc phạm diễn đàn này mà còn xúc phạm cả bạn đọc. Chẳng lẽ ông Vũ Ngọc Tiến đã tự tin, đã nhầm tưởng thiên hạ vì lười đọc nên không thể phát hiện ông đã đạo “đạo văn” hay sao? Qua đây, xin gửi tới ông Vũ Ngọc Tiến một lời khuyên chân thành rằng nếu là người có lương tri, Vũ Ngọc Tiến hãy có lời xin lỗi PGS TS Trần Ngọc Vương, xin lỗi Ban biên tập talawas và bạn đọc, ngõ hầu tạo ra niềm tin với những gì ông sẽ công bố sau này.

Về phần mình, do còn “ngửi” thấy nhiều ý tưởng và nhiều đoạn văn khác trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam” cũng “bất thường” nhưng chưa tìm ra xuất xứ, tôi sẽ trở lại với câu chuyện này sau khi đã sưu tầm đủ tư liệu.

Hà Nội, 25.8.2005


[1]Theo thông tin của tác giả Trần Ngọc Vương, nguyên lời Khổng Tử là “Hoạch tội vu Thiên, vô sở đảo giả”, bị in sai thành “Hoạch tội vu Thiên, vô sở đảo giáo” trong bản in của Nxb Chính trị Quốc gia (talawas).

[2]Nguyên văn: “sính nhan sắc”, bị in sai thành “sinh nhan sắc” trong bản in của Nxb Chính trị Quốc gia (talawas).

(http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5244&rb=0306 - ngày 29.8.2005)

 (Nguyễn Hòa)

Thư xin lỗi và đính chính

Vũ Ngọc Tiến

1. Thư gửi GS Trần Ngọc Vương

Thưa GS kính mến,

Trước hết tôi chân thành cám ơn GS về những gợi ý rất lý thú đã giúp tôi nẩy ra ý tưởng của chuyên luận Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam. Chuyên luận này vốn nằm trong một đề tài khoa học được làm từ năm 2000 (do bạn tôi, anh TĐC “đặt hàng” viết) và không được sử dụng, giờ đọc lại thấy nó có thể có đôi chút hữu ích nên tôi công bố, chứ không có mục đích hoặc ham muốn nào khác.

Tư tưởng của chuyên luận là lấy 3 loại thân phận nguời dân Việt Nam để lý giải về nguồn gốc sự mất dân chủ hiện nay. Chuyên luận gồm 68 trang (viết tay khổ A4), có danh mục tài liệu tham khảo 37 tác giả, bao gồm 8 tác giả Việt Nam, 17 tác giả Trung Quốc và 12 tác giả Nhật, Pháp, Mỹ. Cũng xin nói thêm, tôi đặc biệt hứng thú với một số phát hiện của cụ Từ Chi về hương ước và của GS viết về Tân Thư, chỉ không đồng ý với GS một chút khi nhận định về nhóm Đàm Tự Đồng (Trung Quốc) mà thôi.

Khi quyết định công bố trên talawas, tôi phải cô đọng chuyên luận từ 68 trang viết tay khổ A4 xuống còn 8 trang như đã công bố. Đó là việc rất khó và tôi đã sơ suất khi cắt gọt, lắp ghép lại, gửi đi đánh máy, đã không đưa vào ngoặc kép và dẫn nguồn trích nhiều đoạn tham khảo của GS và của cụ Từ Chi mà tôi thích thú gần như thuộc lòng. (Tôi gửi kèm theo đính chính cho bài viết đã gửi cho talawas, có thể còn sót một vài câu chữ nữa chỉ mang ý tứ của GS ở phần III, mục 1, dẫu sao nếu có mong được tha thứ.)

Tiếp nữa, hồn cốt của chuyên luận nằm trong gần 50 trang của mục 2 & 3 phần III thì, vì nhiều lý do, tôi phải cô lại chỉ còn lại hơn 1 trang (là những điểm kết luận chính yếu về dân chủ), còn phần có những tham khảo và trích dẫn của GS và cụ Từ Chi vốn chiếm 5 - 6 trang ở phần đề dẫn trong bản gốc 68 trang lại chiếm khá nhiều trong bài “Diễn trình…”, nên bài viết trở nên mất cân đối, dễ gây phản cảm cho bạn đọc. GS chắc sẽ hỏi, vì sao đã là phần hồn cốt của chuyên luận mà tôi phải cắt gọt? Thưa rằng, ở 2 mục đó nhờ gợi ý từ kết quả nghiên cứu của những người đi trước, tôi tập trung phân tích khá nhiều sự kiện, nhân chứng thời thuộc Pháp và thời XHCN để đi đến kết luận hiện nay dân đang ở thân phận thần dân, còn thua kém cả thời thuộc Pháp. (Thời đó, đại đa số dân là kiếp thần dân nô lệ, nhưng giới trí thức lại còn được hưởng một số quyền công dân. Nhất là ở Nam Kỳ, nơi được hưởng theo luật dân sự Napoleon của “mẫu quốc”). Là người viết nhiều phóng sự điều tra nên tôi đặc biệt quan tâm đến việc sưu tầm số liệu, sự kiện, nhân chứng để làm bằng cứ cho những kết luận như đã nêu trong bài viết trên talawas. (Chỉ riêng vấn đề đất đai của dân đã có hàng trăm vụ việc, chia làm 7 nhóm mất dân chủ chỉ vì thân phận thần dân). Song đọc kỹ lại, tôi thấy chưa nên công bố rộng. Có thể đến một lúc nào đó tôi sẽ công bố tiếp. Riêng GS và anh Nguyễn Hòa, nếu quan tâm, xin mời đọc và cho lời góp ý, tôi sẽ rất lấy làm vinh hạnh. (Vì đang còn là bản viết tay nên không thể chuyển qua thư điện tử được.)

Thưa GS Trần Ngọc Vương,

Tôi không có ý định biện minh cho sự sơ suất rất đáng trách của mình, chỉ bộc bạch đôi lời chân tình về sự việc đáng ra không nên có này. Với tất cả sự thành tâm và trách nhiệm của người cầm bút, tôi có lời xin lỗi GS và một lần nữa cám ơn GS về những điều gợi ý lý thú cho ý tưởng khai thác 3 loại thân phận người Việt Nam của tôi trong chuyên luận.

Kính chúc GS và gia đình sức khỏe, nhiều may mắn!

Hà Nội 27/8/2005

Vũ Ngọc Tiến

Đ/C: 42/125 Nguyễn Ngọc Vũ

P Trung Hòa, Q. Cầu Giấy, Hà Nội

ĐT: 8581937- 0912048421

 

2. Đính chính gửi BBT talawas cùng bạn đọc thân mến,

Trong bài viết Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam trên talawas ngày 22.8.2005, tôi - tác giả Vũ Ngọc Tiến, đã vô tình phạm một sơ suất đáng ra không nên có. Sau khi nhận được lời góp ý của anh Nguyễn Hòa và BBT, tác giả xin có vài lời đính chính và xin lỗi như sau:

1. Vì phải cô đọng bài viết từ 68 trang bản thảo xuống 8 trang báo (talawas), nên sau khi cắt gọt, lắp ghép lại và đánh máy, tác giả đã vô tình không đưa những đọan trích dẫn của hai tác giả đáng kính Trần Ngọc Vương và Từ Chi vào trong ngoặc kép và nêu rõ nguồn (mà trong bản thảo gốc 2 tác giả này đã được liệt kê trong danh mục 37 tài liệu tham khảo). Cụ thể:

- Ở phần I: Thần dân Việt Nam trong các học thuyết tư tưởng xưa cũ, xin sửa là:

“Dân” là một chủ đề được nhiều tác giả quan tâm khi nghiên cứu, bàn luận về các học thuyết tư tưởng xưa cũ. Có thể nêu ra một vài tác giả mà tôi hứng thú: Trần Trọng Kim, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Khiêu… Gần đây khi bàn về Tân Thư, tác giả Trần Ngọc Vương đã có nhiều nhận định khiến tôi phải suy ngẫm về thân phận người dân Việt Nam trong lịch sử các triều đại phong kiến:

Liên quan trực tiếp đến việc xác lập nội hàm “dân” ở Việt Nam là các học thuyết đóng vai trò ý thức hệ chính trị của dân tộc như Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo. Nhìn chung, trong nền chính trị Đông Á và Việt Nam, Nho giáo đã từng là hệ ý thức chính thống có lịch sử lâu dài, chi phối đời sống chính trị toàn xã hội. Vậy nên tư tưởng về dân của Nho giáo dĩ nhiên cũng là đối tượng quan trọng để bàn xét, mà trong đó đại biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử. Ta hãy xem các vị triết gia cổ đại phương Đông quan niệm thế nào về dân? Hầu như giới nghiên cứu đều đã khẳng định rõ ràng không thể tìm kiếm một ý niệm dân chủ ở Khổng Tử. Ở người sáng lập quan trọng nhất của Nho giáo này, dân là một tập hợp đa số vô danh, hầu như không bao giờ được tính đến với tư cách là cá nhân cụ thể. Khổng Tử hình dung mạch lạc về một thế giới có chủ, mà người chủ cao nhất là trời. “Hoạch tội vu Thiên, vô sở đảo giáo”. Nghĩa là phạm tội với trời thì không cầu đảo vào đâu được nữa. Kế đến ông chủ thứ hai của thế giới là thiên tử, “Đại thiên hành hóa, thế thiên hành đạo”. Dưới thiên tử là chư hầu, rồi đến sĩ đại phu và cuối cùng là dân. Trật tự đó là tự nhiên, là tất yếu, do trời xếp đặt. Ông cũng trực giác thấy rằng phải sử dụng dân như một đối trọng cần thiết trên chính trường, đôi lúc còn như một sự bảo đảm cho thể chế chính trị. Căn cứ vào toàn bộ nội dung học thuyết của Khổng Tử, có thể nói ông không hề ngờ vực “tính chất chí tôn, bất khả tư nghị” của ngôi vua. Hãy xem đoạn văn mô tả ngắn gọn, hàm súc trong sách Luận Ngữ khi ông vào chỗ công môn: “Tử nhập công môn cúc cung như dã, như bất dung, lập bất trung môn, hành bất lý vực. Qua vị sắc bột như dã, kỳ ngôn tự bất túc giả. Xuất giáng nhất đẳng, sinh nhan sắc, di di như dã. Một giai, xu dực như dã. Phục kỳ vị, phúc tích như dã”. Nghĩa là: Khổng Tử vào chỗ công môn khúm núm, lễ phép như cửa bị thấp. Khi đứng ông không dám đứng giữa cửa, khi đi không giẫm lên ngạch cửa. Qua chỗ ngôi vua (dù là ngôi bỏ trống) mặt tái mét, chân run rẩy, nói chẳng ra lời. Vén áo lên công đường thì khúm núm, lễ phép, nhịn khí như không thở. Một khi ông ra ngoài rồi thì mặt tươi trở lại, nét vui vui lên. Đến thềm thì như chim duỗi cánh. Về chỗ trở lại thì kính sợ như cũ.

Tuy vậy, Khổng Tử không vì ngôi vua mà hy sinh dân chúng. Ngược lại, chính Khổng Tử là người khơi dậy ý tưởng “Ý dân là ý trời, dân muốn là trời muốn”. Ngôi vua là chí tôn, nhưng “dân vô tín bất lập”. Một khi dân đã mất hết lòng tin thì vua không thể ở ngôi được nữa. (Lời Nhan Uyên trong sách Luận Ngữ). Theo Khổng Tử và các học trò của ông, dân là một thực thể hồn hậu, bí ẩn, nhưng cũng thuần phác, nguyên sơ. Vậy nên người làm chính trị phải “chăn dân, giáo dân, thân dân”, lại vừa phải thận trọng đừng làm gì quá quắt với họ: “Xuất môn như kiến đại tân, sử dân thừa đại tế” (Ra cửa phải nghiêm trang như gặp khách quí, sai khiến dân phải thận trọng như hành một nghi lễ lớn). (Nguồn: Trần Ngọc Vương – Tân thư và sự vận động tư tưởng dân chủ Việt Nam trong 20 năm đầu thế kỷ - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997)

Đối với Mạnh Tử cũng vậy: “Nếu như với Khổng Tử, giới nghiên cứu khá nhất trí hình dung ông là một nhà tư tưởng khôn ngoan của chế độ quân chủ, thì với Mạnh Tử lại có hàng loạt ý kiến đánh giá không thống nhất, đặc biệt là thái độ của Mạnh Tử đối với dân. Một số người đã cường điệu cho rằng Mạnh Tử là người có đóng góp nhiều nhất cho tư tưởng dân chủ trong toàn bộ lịch sử chính trị Đông Á. Ngược lại, cũng có nhiều người xem Mạnh Tử chỉ là người khôn ngoan tìm cách điều hòa mâu thuẫn, tự tạo ra những cái bẫy về lôgíc nhận thức không thể thanh toán được.” (Nguồn đã dẫn). Về điểm này, cũng như Trần Ngọc Vương, tôi thấy đồng tình với nhận định của nhà nghiên cứu Nho học Trung Quốc Vi Chính Thông (Bản dịch NXB chính trị Quốc gia năm 1992): “Rõ ràng học thuyết mang tính cách mạng Nho học của Mạnh Tử khác xa với cuộc cách mạng nhằm thiết lập nền dân chủ cộng hòa thời nay. Các tư tưởng “dân quí, quân khinh” hay “dân vi bản” mới nghe qua tư tưởng giống với tư tưởng quyền thuộc về dân theo quan niệm dân chủ cận đại phương Tây. Những người quen kiểu phụ họa, phóng đại đều có nhận định như vậy. Nhưng nếu đi sâu phân tích sẽ thấy hai quan niệm đó rất khác xa nhau.”

- Ở phần II: Hương ước - Một mô hình xã hội công dân sơ khai ở làng quê Việt Nam, xin sửa là:

Theo một công trình nghiên cứu của Tô Duy Hợp và những người khác, đặc biệt của học giả Từ Chi (1992): “Vào năm 1370 đời vua Trần Nghệ Tông, một nhà Nho học đã làm bài văn bia ở chùa Chiêu Phúc (Hà Bắc), có đoạn ghi: “Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người, sao mà được lòng người tin đến thế. Trên từ Vương Công, dưới đến dân thường, hễ bố trí đến việc nhà Phật dù hết tiền vẫn không sẻn tiếc. Vì ngày nay gửi gắm vào chùa như nắm được khoán ước để lấy sự báo ứng về sau”. Đoạn văn trên đã gián tiếp đề cập đến khoán ước, nên phải chăng khoán ước, hay hương ước, có ít nhất vào năm ấy? Có lẽ do hoàn cảnh chiến tranh liên miên, cộng với thiên tai lụt lội, nên nhiều khoán ước, hương ước cổ trong cộng đồng làng xã Việt Nam đã bị thâm hủy hoặc thất lạc. Vì vậy, một trong những khoán ước cổ nhất hiện nay ta tìm thấy là bản “Mộ Trạch cựu khoán”, ra đời năm 1665, có 30 điều khoản. Từ năm 1679 đến 1797 nó được sửa đổi 16 lần, và bản sửa đổi cuối cùng có 82 điều. “Khoán hội tư văn” của làng Quỳnh Đôi (Thái Bình) ra đời năm 1660. Từ năm 1683-1851 nó được sửa đổi 28 lần và bản sửa đổi cuối cùng có 48 điều. Các hương ước, lệ làng của cộng đồng cư dân nông thôn Việt Nam, qua minh chứng của bản cựu khoán xã Mộ Trạch và Khoán hội tư văn làng Quỳnh Đôi, đã khẳng định nó hình thành, tồn tại và phát triển theo năm tháng lịch sử, hàng trăm năm, lưu truyền từ đời này sang đời khác.”

Nội dung các hương ước cổ hiện sưu tầm được thường đặt ở vị trí hàng đầu những quy phạm về tổ chức bộ máy quản lý làng xã: Phạm vi chức năng, nhiệm vụ của toàn thể bộ máy cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của từng chức danh, thủ tục hoạt động của tổ chức đó. Cũng theo học giả Từ Chi cơ cấu tổ chức làng xã thời xưa như sau:

1. Hội đồng tộc biểu là những đại biểu do dân cử ra. Nó mang tích chất như cơ quan lập pháp của làng. Điều thứ nhất của hương ước làng Tân Lạc, huyện Hoàn Long, và hương ước của nhiều làng khác nữa đều quy định: “Các họ họp nhau lại thành làng, bởi thế việc làng do các họ cử người thay mặt gọi là tộc biểu. Tùy theo họ nhiều, họ ít người mà mỗi họ cử ra 2 hoặc 3 người”. Điều thứ 45 của hương khoán xã Phù Xá Đoài quy định: “Vô luận là họ to, họ nhỏ, kể từ tráng đinh trở lên cứ 20 người phải bầu lấy một người tộc biểu”. Các tộc biểu lại họp đại hội và cử ra hai người là chánh hương hội và phó hương hội. Hầu hết các hương ước đều quy định chỉ những nam giới tuổi từ 25 trở lên, có học vấn, không can án, có gia sản mới được làm tộc biểu, mỗi hạn là 3 năm, có nơi 6 năm. Nghiên cứu nội dung hoạt động của hội đồng tộc biểu có thể nói đây chính là “Nghị viện” của làng. Trong các cuộc họp của hội đồng tộc biểu còn có đại biểu các Giáp, hương trưởng các thôn. Hội đồng tộc biểu là cơ quan thông qua việc soạn thảo, ban hành, sửa đổi, bổ sung hương ước, giám sát việc thi hành hương ước. Hội đồng tộc biểu là cơ quan bàn bạc và quyết định mọi công việc như: Quân cấp điền thổ của làng, tổ chức và tiến hành việc đấu giá bán hoặc cho thuê tài sản của làng (thuê đất ruộng, ao, hồ của làng). Phân bổ sưu thuế và chọn người làm nghĩa vụ binh dịch. Hòa giải các vụ tranh chấp xảy ra trong làng xã. Chánh phó hương hội là người thay mặt dân làng khi có việc tiếp xúc với chính quyền Phủ, huyện hoặc các làng xã khác…

2. Hội đồng trị sự (hay có nơi gọi là Hội đồng kỳ biểu- VNT chú giải) giống như một cơ quan hành pháp hay “chính phủ” của làng. Vì mang tính chất như là cơ quan hành pháp, chấp hành ý chí tối cao của dân làng là hội đồng tộc biểu, nên nó bao gồm nhiều chức vụ:

- Lý trưởng và Phó lý là những người được hội đồng tộc biểu bầu chọn. Họ là những người có học vấn, có tài sản, không can án. Điều thứ 41 của hương khoán xã Phù Xá Đoài quy định: “Bầu Lý và Phó lý trưởng thì phải chọn những người cẩn cán lại biết chữ ở trong hạng đinh nội tịch của làng ‘6 năm là một khóa’ ”. Lý trưởng, phó lý là những người chịu trách nhiệm cao nhất về mặt hành pháp của làng. Họ thực hiện mọi nhiệm vụ của chính quyền cấp trên giao về xã, thực hiện thu thuế và giữ gìn an ninh trật tự, nghĩa vụ binh dịch… Trong mọi việc, lý trưởng và phó lý không được tự mình quyết định. Điều 37 hương ước của xã Vĩnh Phúc, huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông (cũ), quy định: “Lý, hương trưởng không có quyền tự ý quyết định việc làng mà phải theo ý chung của tộc biểu”. Lý trưởng, phó lý là người chỉ huy, giám sát Trương tuần, cai vạn, thủ bộ… thừa hành công việc của họ.

- Thư ký là người có học vấn, có nhiệm vụ giữ gìn sổ sách, ghi chép biên bản các cuộc họp hội đồng tộc biểu. Có hương ước quy định là thư ký có thể kiêm nhiệm chức vụ của hộ lại hoặc chưởng bạ.

- Thủ quỹ, có nơi gọi là hương bản, phải là người giàu có trong làng, được bầu làm người giữ tiền công và xuất tiền quỹ cho việc chi tiêu của làng.

- Chưởng bạ là người giữ sổ sách địa bạ, địa chính và đăng ký theo dõi những thay đổi về điều sản trong làng.

- Hộ lại, có nơi gọi là hương bộ, là người giữ sổ sách và đăng ký các việc sinh tử, giá thú trong làng. Hộ tịch và dân số của làng do hộ lại theo dõi. Thời vua Lê Thánh Tông, việc đăng ký hộ tịch, kê khai nhân khẩu trong toàn quốc được làm rất chặt chẽ theo những quy định của vua từ năm 1470. Việc nắm vững dân số trong một xã có liên quan chặt chẽ đến việc nắm vững dân số của một quốc gia. Vì vậy vai trò của hộ lại trong các hương ước cổ rất được coi trọng.

- Trương tuần, có nơi gọi là Khán thủ hay hương kiểm, là người chỉ huy các tuần phiên, canh phòng bảo vệ an toàn, an ninh làng xã. Các hương ước quy định việc chọn người làm Trương tuần phải là người mạnh bạo, thực thà, có gia sản, mới giao việc. Ngay trong việc cắt cử tuần phiên thì những tráng đinh nào có mang tiếng xấu sẽ không cho đi tuần.

- Thủ lộ là người coi đường xá, đê điều thuộc địa giới của làng, nếu hư hỏng báo với hội đồng tộc biểu xin chỉ thị để tổ chức cho dân tu bổ, mở mang thêm.

- Cai vạn là chức dịch bầu ra ở những làng có sông nước thuyền bè qua lại. Điều thứ 13 trong luật tục làng Phúc Xá quy định: “Cai vạn thì trông nom các thuyền bè của những người trong làng và sửa sang các bến bãi. Những thuyền chở đánh số hiệu và thu tiền nộp vào công quỹ. Những thuyền nào mục nát thì cấm không được chở nữa”. (Nguồn: Từ Chi - Kỷ yếu hội thảo khoa học 1992)

Bạn đọc thân mến! Chính nhờ những gợi ý từ kết quả nghiên cứu của hai vị Trần Ngọc Vương và cụ Từ Chi (đã khuất) đáng kính, tôi đã nẩy ra ý tưởng xem xét, mổ xẻ cội nguồn vấn đề mất dân chủ ở Việt Nam hiện nay trên 3 loại thân phận người dân trong thế kỷ XX. Đây dù là cách tư duy độc lập nhưng là sự kế thừa của 2 vị. Vậy mà đáng tiếc, do sơ suất, tôi đã vô tình xâm hại tác quyền của họ. Với tất cả tấm lòng chân thực, tôi xin công khai có lời xin lỗi GS Trần Ngọc Vương và thân nhân cụ Từ Chi cùng chư vị bạn đọc talawas. Tác giả cảm ơn sự phát hiện sớm của anh Nguyễn Hoà. Xin cám ơn BBT đã tạo cho tôi cơ hội đính chính này! [1]

Hà Nội 27/8/2005


[1]talawas: Chúng tôi sẽ sửa lại bản đăng ngày 22.8.2005 của bài “Diễn trình…” 1 ngày sau ngày công bố bản đính chính này.

(http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5249&rb=0306, 30.8.2005)

 

 

“Góp ý” hay “phê bình”, “vô tình” hay “đạo văn”?

(Về sự “đính chính” và “xin lỗi” của anh Vũ Ngọc Tiến)

Nguyễn Hoà

Sau khi viết và gửi bài Về nỗi đam mê “đạo văn” của Vũ Ngọc Tiến trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam” đến talawas, thật tình tôi cũng phân vân, liệu mình viết có “nặng lời” quá không (?), song tôi yên tâm phần nào vì trong bài viết, tôi không chỉ chứng minh, phê phán một hiện tượng “đạo văn” mà còn muốn gửi tới Vũ Ngọc Tiến: “một lời khuyên chân thành rằng nếu là người có lương tri, Vũ Ngọc Tiến hãy có lời xin lỗi PGS TS Trần Ngọc Vương, xin lỗi Ban biên tập talawas và bạn đọc, ngõ hầu tạo ra niềm tin với những gì ông sẽ công bố sau này”. Nghĩa là tôi còn mong muốn Vũ Ngọc Tiến sẽ nhận chân hành vi của ông, ngõ hầu đưa lại niềm tin đối với các bài viết, các công trình ông đã và sẽ công bố. Nhưng đọc Thư xin lỗi và đính chính của Vũ Ngọc Tiến (talawas - ngày 30.8.2005), tôi lại thất vọng tràn trề vì thấy ý kiến phê phán của tôi dường như chưa tác động tới ông nhiều lắm. Bởi theo tôi, tuy Vũ Ngọc Tiến đã có lời “xin lỗi” các bên có liên quan nhưng qua những gì ông trình bày, tôi hiểu ông chỉ xin lỗi vì đã “vô tình”, đã “sơ suất” chứ không xin lỗi vì đã “trót đạo văn” (xin nhấn mạnh - NH). Vì thế tôi nghĩ Vũ Ngọc Tiến chưa nắm bắt được tầm mức nghiêm trọng của vấn đề, ông cố tình lảng tránh và biện hộ, cố tình ngụy biện và chống chế để bảo vệ “đứa con tinh thần dị dạng” của mình.

Trước hết, tôi rất mong Vũ Ngọc Tiến đọc kỹ ý kiến tôi trình bày trong Về nỗi đam mê “đạo văn” của Vũ Ngọc Tiến trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam”. Ở bài đó, tôi không “góp ý”, không coi ông “vô tình phạm một lỗi sơ suất không đáng có” - như ông cố ý hạ bớt mức độ trầm trọng để giảm nhẹ “đồng cân” cho lỗi lầm, mà là tôi phê bình và chỉ rõ hành vi “đạo văn” của ông trong Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam, nói cách khác là chỉ rõ hành vi “đánh cắp” thành quả nghiên cứu của người khác (xin nhấn mạnh - NH). Và chính những quanh co lòng vòng của Vũ Ngọc Tiến trong Kính gửi BBT talawas, cùng bạn đọc thân mến còn cho thấy công trình nghiên cứu Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam và tác giả của nó trên những phương diện khác, mà tôi sẽ đề cập dưới đây:

1. Thử hỏi nếu không có bài viết của tôi (hoặc của ai đó nữa - điều hoàn toàn có khả năng xảy ra khi mà sự “đạo văn” trong Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam không thể giấu giếm được mọi người, nếu tôi không phát hiện, sẽ có người khác phát hiện) thì liệu Vũ Ngọc Tiến có đính chính và xin lỗi trên talawas hay không? Vũ Ngọc Tiến quảng bá công trình của ông ra đời như là một “nghiệp chướng”, là “cơ duyên xui khiến”... nhưng không được người ta sử dụng chỉ vì ông: “thật thà, vụng dại quá chăng, khi phơi gan ruột mình lên trang viết?”. Nghe thật đáng trân trọng, thật đáng thương. Nhưng ông có lưu tâm đến trường hợp người ta không sử dụng sản phẩm này bởi người ta biết ông đã “đạo văn”, bởi người ta lo ngại bị “dính” vào cái gọi là “tàng trữ, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”!?

Kết thúc bài Về nỗi đam mê “đạo văn” của Vũ Ngọc Tiến trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam” tôi viết một cách bóng gió: “Về phần mình, do còn “ngửi” thấy nhiều ý tưởng và nhiều đoạn văn khác trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam” cũng “bất thường” nhưng chưa tìm ra xuất xứ, tôi sẽ trở lại với câu chuyện này sau khi đã sưu tầm đủ tư liệu” và khuyến cáo của tôi đã có hiệu quả. Trong khi “đính chính”, Vũ Ngọc Tiến lại “tòi” thêm những đoạn ông “thuổng” của PGS Từ Chi (!). Nhân đây, một lần nữa tôi khuyến cáo Vũ Ngọc Tiến nên rà soát kỹ lưỡng hơn nữa văn bản “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam”, kẻo “chú đạo chích” vẫn còn nằm chềnh ềnh trong đó thì… xấu hổ lắm!

2. Đọc tới điều Vũ Ngọc Tiến giải thích: “Vì phải cô đọng bài viết từ 68 trang bản thảo xuống 8 trang báo (talawas), nên sau khi cắt gọt, lắp ghép lại và đánh máy, tác giả đã vô tình không đưa những đọan trích dẫn của hai tác giả đáng kính Trần Ngọc Vương và Từ Chi vào trong ngoặc kép và nêu rõ nguồn (mà trong bản thảo gốc 2 tác giả này đã được liệt kê trong danh mục 37 tài liệu tham khảo)” tôi càng buồn cười và liên tưởng tới câu chuyện khôi hài: nghe tin thực khách chê món ăn sống sít, ông đầu bếp liền te tái chạy ra phân bua hôm nay nhà bếp… “hết gas”!

Với tôi - một bạn đọc, trước mắt tôi chỉ có một văn bản Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam có tư cách là “tóm lược những điểm chính yếu trong công trình nghiên cứu” của Vũ Ngọc Tiến, còn nó được tóm lược từ bao nhiêu trang, được tóm lược như thế nào đối với tôi không quan trọng lắm, vì lẽ tôi không biết “mặt mũi, hình thù” của 68 trang bản thảo kia ra sao. Tôi nghĩ, sai lầm luôn luôn là một khả năng có thể xảy ra đối với con người, điều quan trọng là con người có dám thừa nhận sai lầm và cố gắng sửa chữa hay không. Mặt khác, hẳn ông Vũ Ngọc Tiến đã biết, khi “tóm lược” công trình của mình, mọi tác giả đều cố gắng khái quát được những nét cơ bản nhất, đặng giúp người đọc hình dung về những ý tưởng đã triển khai và giải quyết (dẫu chỉ là chấm phá). Trong thực tế, với văn bản “tóm lược” gồm 8 trang của Vũ Ngọc Tiến công bố trên talawas thì ít nhất cũng có 4 trang ông “thuổng” của người khác, cũng tức là một nửa chữ nghĩa ở đó không phải là của ông. Vậy theo Vũ Ngọc Tiến, liệu tôi có quyền được nghi ngờ một tỷ lệ tương ứng như thế cũng đang tồn tại trong “công trình nguyên gốc” của ông hay không? Do đó theo tôi, chúng ta không nên coi Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam của Vũ Ngọc Tiến trên talawas là văn bản “tóm lược” một công trình nghiên cứu, chỉ nên coi đó là một văn bản tổng thuật chưa hoàn chỉnh về một vấn đề mà thiển nghĩ, Vũ Ngọc Tiến chưa nắm bắt đến nơi đến chốn, ít nhất cũng thể hiện qua sự kiện Vũ Ngọc Tiến không biết sách đã in sai nên anh cũng chép sai… y như sách (tỷ như câu nói của Khổng Tử” “hoạch tội vu thiên, vô sở đảo giả” lại thành “hoạch tội vu thiên, vô sở đảo giáo” chẳng hạn)!

3. Trong phần Kính gửi BBT talawas, cùng bạn đọc thân mến, Vũ Ngọc Tiến thanh minh ông đã “vô tình”, đã “sơ suất”… trong khi “tóm lược” công trình Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam như là kết quả nghiên cứu của riêng ông từ năm 2000, và tôi không tin đó là sự thật. Ông có thể phân trần rằng những đoạn trích dẫn của Từ Chi, của Trần Ngọc Vương vốn từng được đặt trong ngoặc kép, được ghi chú cẩn thận trong văn bản gốc nhưng tới lúc “tóm lược” thì ông đã quên, nên ông coi đó là “vô tình” (“vô tình” gì mà lắm thế!), vậy ông sẽ giải thích sao đây nếu tôi đặt câu hỏi: sau khi “xào xáo” trong cái “bếp” nghiên cứu khoa học, ông đã “vô tình” như thế nào để sản xuất ra những câu văn đại loại như:

- “Thân dân (hay gần dân, yêu dân) và dân chủ là hai định hướng tư tưởng thuộc về hai loại hình ý thức hệ chính trị khác biệt nhau. Hầu như ở các thời điểm thịnh trị của chế độ quân chủ trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam, các chính trị gia lỗi lạc đều có biểu hiện mức độ đậm nhạt khác nhau của tư tưởng thân dân, yêu dân, chứ chưa từng có khái niệm và cũng không chấp nhận tư tưởng dân chủ”.

- “Trong thực tế ở Trung Quốc và Việt Nam, ý thức Nho giáo được hiện hữu với tư cách là di sản và cẩm nang chính trị. Vì vậy Pháp gia lại được truyền thừa từ đời này sang đời khác bởi chính các học giả Nho gia, khi họ thấy có lợi cho hoạt động thực tiễn của mình. Tôi cho rằng điểm giống nhau giữa hai học thuyết này là ở chỗ cả hai cùng khẳng định tính chất quyền lực tối thượng của ngôi vua”…

Tất cả những từ in nghiêng - đậm trong hai ví dụ trên được trích từ Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam, các từ ấy vốn là nguyên văn câu chữ PGS TS Trần Ngọc Vương đã sử dụng khi trình bày các vấn đề mà Vũ Ngọc Tiến coi là ông được “gợi ý”. Không cần phải phân tích nhiều, tự chúng đã cho thấy tác giả hoàn toàn không “vô tình”, hoàn toàn không “sơ suất”. Những đoạn văn này được tổ chức, lắp gép, “mông má” một cách có ý thức. Vũ Ngọc Tiến cố gắng biến ý tưởng và lối hành văn của Trần Ngọc Vương thành ý tưởng và lối hành văn của ông nhưng không xong. Trong những trường hợp trên, tôi tin dù có muốn Vũ Ngọc Tiến cũng không thể ghi chú, không thể đính chính. Chẳng lẽ lại ghi chú những câu văn này một nửa là của Trần Ngọc Vương, một nửa là của… Vũ Ngọc Tiến, hay giải thích rằng Vũ Ngọc Tiến diễn đạt lại cho chính xác hơn!?

4. Đọc đoạn cuối bài “đính chính” của Vũ Ngọc Tiến, tôi rất ngạc nhiên. Không ngờ trước tình huống người khác đã chỉ ra một văn bản đầy rẫy những mạo phạm có liên quan tới đạo đức nghề nghiệp trong Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam - bản đăng trên talawas, mà Vũ Ngọc Tiến vẫn có gan gán cho công trình của ông: “cách tư duy độc lập nhưng là sự kế thừa của 2 vị (PGS Từ Chi và PGS TS Trần Ngọc Vương - NH). Vậy mà đáng tiếc, do sơ suất, tôi đã vô tình xâm hại tác quyền của họ”. Xem ra với Vũ Ngọc Tiến, chuyện “đạo văn” trong nghiên cứu khoa học không có gì là nghiêm trọng, nếu bị phát hiện thì nói phứa là “kế thừa”, tống tất cả vào ngoặc kép kèm theo vài ghi chú mơ hồ, trưng ra mấy từ “vô tình, sơ suất”, lấp lửng mấy lời xin lỗi là… xong! Cũng may trong sinh hoạt khoa học không có nhiều người “nghiên cứu” như Vũ Ngọc Tiến trong “Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam”, nếu không thì có ngày khoa học sẽ na ná như công xưởng chế tác hàng… Mỹ Ký!

5. Cuối cùng, xin bàn về lối ghi chú “đánh đố” của Vũ Ngọc Tiến. Trong “Thư xin lỗi và đính chính” ông ghi chú như thế này: “Nguồn: Trần Ngọc Vương - “Tân thư và sự vận động tư tưởng dân chủ Việt Nam trong 20 năm đầu thế kỷ” - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997”, “Nguồn: Từ Chi - Kỷ yếu hội thảo khoa học 1992”.

Thưa ông, trong bài trước tôi đã khẳng định rõ Tân thư và sự vận động tư tưởng dân chủ Việt Nam trong 20 năm đầu thế kỷ của Trần Ngọc Vương là một bài được in trong cuốn sách Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (NXB Chính trị Quốc gia, H. 1997), nay xin nói thêm, cuốn sách có tổng cộng 42 bài liên quan tới đề tài. Vậy theo Vũ Ngọc Tiến chú thích, phải chăng đây là tên một cuốn sách của Trần Ngọc Vương? Liệu Vũ Ngọc Tiến có tìm được một cuốn sách có tên là Tân thư và sự vận động tư tưởng dân chủ Việt Nam trong 20 năm đầu thế kỷ của Trần Ngọc Vương đã ra mắt ở NXB Chính trị Quốc gia không? Còn với cách thức ghi chú tài liệu “sử dụng” của PGS Từ Chi thì tôi tin số bạn đọc có khả năng “sưu tầm” tài liệu như Vũ Ngọc Tiến chắc cũng không nhiều!

Viết đến đây tôi lại thấy mình như có vẻ “nặng lời”, và tôi lại tự an ủi đây là cách thức duy nhất để khẳng định bài Diễn trình tư tưởng dân chủ ở Việt Nam đăng trên talawas là một văn bản đích thực “đạo văn”, dù Vũ Ngọc Tiến có thanh minh thanh nga gì thêm nữa. Và hẳn bạn đọc cũng đồng ý với tôi rằng trong nghiên cứu khoa học người ta có thể “đối đầu” nhau về quan niệm, song người ta vẫn kính trọng nhau vì thái độ nghiêm túc và trung thực. Lẽ nào một tác giả như Vũ Ngọc Tiến lại phải bổ túc thêm về vấn đề này?

Hà Nội, 30.8.2005

(http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=5269&rb=0306, ngày 1.9.2005)

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Các tin mới hơn

Sự kiện  

Đoàn đại biểu Hội Nhà văn Mông Cổ thăm Hội Nhà văn Việt Nam  

VanVN.Net - Chiều 23/5/2011, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh đã nồng nhiệt đón chào đoàn Hội Nhà văn Mông Cổ (Mongolian) do nhà thơ Khaidav Chilaajav, Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn sang thăm Việt Nam. Cùng đi có nữ nhà thơ Munkhtsetseg, Phó ...

Nhân vật  

Hồ Chí Minh dụng binh pháp Tôn Tử và Tam thập lục kế

VanVN.Net - Tôn Tử binh pháp và Tam thập lục kế (36 kế) là những tác phẩm binh thư cổ có giá trị nhất của Trung Quốc, xuất hiện từ thời xuân Thu và truyền đời mãi mãi. Tôn Tử được suy tôn là “Thuỷ tổ binh học ...

Hoạt động Hội Nhà Văn  

Những ấn tượng trẻ khó quên

VanVN.Net - Sau gần 5 năm mong đợi, vào lúc 14 giờ ngày 27.5 tại Bến Nhà Rồng (chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thành phố Hồ Chí Minh), đã chính thức khai mạc Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ 3. Hơn 100 ...

Tư liệu  

Hành trình M. Bulgakov

VanVN.Net - M. Bulgakov là nhà văn Nga khá quen thuộc với bạn đọc nước ta qua các tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita, Trái tim chó, Những quả trứng định mệnh; vở kịch Những ngày cuối cùng (Puskin) do Đoàn Tử Huyến chuyển ngữ…