Phạm Công Trứ: Nhà quê khí chất tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân
   

Tự truyện "Có một thời như thế" của Võ Minh
Cập nhật: 14:59:00 6/4/2011

VanVn.Net - Võ Minh là một cựu chiến binh.Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh là chiến sĩ của trung đoàn 271, từng nhiều năm chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên . “Có một thời như thế” là cuốn hồi kí mang nhiều màu sắc tự tuyện viết về những ngày tháng oanh liệt đó. Đọc những trang hồi ức của anh ta sẽ gặp lại không khí sục sôi của một thời “ra ngõ gặp anh hùng”. Một cuốn tự truyện, nhưng ta không gặp ở đây những câu chuyện riêng tư nhỏ bé, mà trong toàn bộ cuốn sách là “câu chuyện lớn” viết về một thế hệ “xếp bút nghiên lên đường cứu nước”. Có lẽ vì thế mà cuốn tự truyện của Võ Minh trở thành một cuốn sách được rất nhiều người tìm đọc, đã được tái bản tới lần thứ 6 với hàng vạn bản in. Tiến tới kỉ niệm 36 năm ngày chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bạn đọc cuốn tự truyện này của tác giả - Cựu chiến binh Võ Minh…

Đường vào

II.  Trên đường Trường Sơn

10-11-1971

3 giờ chiều, ô tô vận tải quân sự chở bộ đội lên đỉnh núi vượt Trường Sơn. Đường đi đá sỏi mấp mô, dốc đèo quanh co, nhiều đoạn đang có các đơn vị thanh niên xung phong phá đá mở rộng đường. Bụi cát bay trắng đục cả một vùng rộng lớn.

Thấp thoáng hai bên đường là những cô gái thanh niên xung phong, không nhìn rõ mặt chỉ nghe được tiếng cười nói, vẫy chào tạm biệt chúng tôi lên đường, giành chiến thắng trở về. Qua giọng nói xem ra các cô còn rất trẻ. Quá tò mò, tôi muốn được nhìn rõ mặt từng cô, nhưng tất cả mọi người đều bịt khăn kín mặt, chỉ có đôi mắt đen lay láy là còn nhìn rõ thôi.

Trời về chiều, những chiếc xe đã bò lên cao, tiến gần về đỉnh núi. Đâu đây phía xa xa có tiếng ùng oàng vọng về. Chiến tranh đã đến gần, không khí hoà bình đang dần dần khép lại sau lưng chúng tôi.

Phía trước, mặt trời đã khuất dần sau rặng núi. Tiếng ù ù của máy bay trinh sát từ xa vọng lại. Bất ngờ, vùng trời nơi đó bừng sáng một khoảng rộng, bởi những chùm cầu lửa nhỏ lơ lửng treo trên bầu trời, dừng lại rồi từ từ rơi xuống để lại một cột khói trắng ngoằn ngoèo rồi vụt tắt. Bóng đêm đột ngột khép lại, phút chốc lại xé toạc ra bừng sáng lên, bởi những quả cầu lửa mới, nối tiếp rồi rơi xuống, liên tục, liên tục. Điệp khúc như vậy, kéo dài suốt cả đêm. Đấy là những quả pháo sáng của các máy bay trinh sát địch bắn ra để lùng sục, tìm kiếm lực lượng bộ đội ta hành quân và vận chuyển lương thực, súng đạn ra mặt trận.

Khoảng 23 giờ, từ trên đỉnh dốc, xe đưa chúng tôi xuống tập kết ở một thung lũng, bên cạnh con suối nhỏ. Nơi đây là trạm giao liên số 5 của binh đoàn 559 hay còn gọi là binh đoàn Trường Sơn.

Vị trí để bộ đội nghỉ được gọi là "bãi khách", nằm dưới khu rừng già được dọn sạch sẽ. Có bếp Hoàng Cầm đào âm xuống lòng đất, khi nấu cơm không có khói và ánh sáng, tất cả đã được che kín. Ở đây có rất nhiều vị trí mắc tăng và võng.

Khí hậu ở phía Tây Trường Sơn khá lạnh, trời mưa rả rích, dầm dề. Mặc dù, chỉ mới cách đây mấy giờ đồng hồ thôi, khi chúng tôi đang còn ở trên đất Quảng Bình trời vẫn nắng nóng như thiêu như đốt. Khí hậu nơi đây thay đổi lạ lùng. Chỉ cách nhau một đoạn đường ngắn bên Đông thì nắng nóng, bên Tây thì lạnh, mưa.

Cả đơn vị dừng lại nghỉ ở trạm 5 được 4 ngày, để sáp nhập với trung đoàn thực binh 271 do trung đoàn trưởng Lê Ổn và chính uỷ Đoàn Sáu chỉ huy.

Khác với những đoàn giao quân khác, trung đoàn này luôn cơ động và độc lập chiến đấu trong mọi tình huống, sẵn sàng chống quân tập kích đổ bộ và kể cả công đồn nếu như thấy cần thiết.

Bởi vậy, các chiến sĩ của trung đoàn 271 trên đường hành quân, mang vác trên vai nặng hơn những chiến sĩ đơn vị khác cùng trên tuyến đường. Ngoài ba lô, tư trang, lương thực, thực phẩm, chúng tôi còn phải đèo thêm súng đạn đầy đủ cơ số.

Ngay như tôi, vũ khí mang theo so với nhiều người trong đơn vị vẫn là nhẹ hơn. Đó là một khẩu súng tiểu liên AK và 300 viên đạn. Khổ nhất có lẽ là những chiến sĩ ở đại đội hoả lực, công binh C16, C17, C18, C19 phải cùng nhau mang vác những khẩu súng cồng kềnh, nặng nề như cối 82, DKZ 75, súng phòng không 12,7 ly.

Giờ đây đội hình hành quân đi vào của trung đoàn 271 gồm 4 tiểu đoàn 7, 8, 9 và 5 cùng với các đại đội trực thuộc 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 25. Quân số gần 3.000 người. Phiên hiệu chung cho cả đơn vị trên đường hành quân là Đoàn 2005D.

Buổi sáng mặt trời đã lên cao, dưới mặt đất nơi chúng tôi đóng quân vẫn không có ánh nắng lọt vào, có chăng chỉ là những hoa nắng yếu ớt của ánh sáng mặt trời trên cao, chọc thủng lớp lớp tán lá cây dày đặc trên đầu xuyên xuống mặt đất. Ban ngày đứng nhìn bao quát, chiêm ngưỡng rừng già Trường Sơn rất đẹp và thơ mộng, vẫn còn những nét hoang sơ của nó.


Không kìm mình được trước vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên này, tôi rủ Hồng và Nam lội bộ xuống dòng suối để khám phá khu rừng xung quanh. Chúng tôi thật sự bất ngờ, trước đống cây song (loại mây rừng) to tướng nằm dọc phơi mình theo dòng suối cạn, thân cây đã già cỗi rất lâu đời trơ vỏ, với một màu trắng ngà dài cả trăm mét.

- Thật là tuyệt, chúng ta lấy cây song này làm gậy đi.

Nam lên tiếng và đưa ra ý kiến đó. Tôi và Hồng nhanh chóng chấp nhận.

- Các cậu ơi! chúng mình phải chọn những cây song khô, có đoạn cong cong ở đầu đấy! - Tôi nói.

Sau một lúc loay hoay tìm kiếm, chúng tôi đã chọn cho mình những đoạn cây song già khô ưng ý. Háo hức trở về để thông báo cho đồng đội mang dao ra để chặt song, trang bị cho mình một chiếc gậy tiếp bước cuộc hành trình đi bộ, băng rừng, vượt đèo, lội suối đang chờ đón phía trước.

 Khi ba đứa đang từ dưới suối lên, phía nơi đơn vị đóng quân vọng lại tiếng hát của ai đó: "Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn, đá mòn mà đôi gót không mòn..." Khi lên đến nơi, tôi mới phát hiện ra người đang say sưa hát chính là Nguyễn Gia Thìn ở tiểu đội 6.

Nhìn thấy thế, ba đứa chúng tôi cười phá lên bởi cách ăn mặc của cậu ta. Trời thì lạnh, trên đầu Thìn đội mũ ấm, cổ quàng khăn, nhưng bên dưới chỉ mặc một chiếc quần xà lỏn. Hai chân tím tái do lạnh, thế mà miệng cứ nghêu ngao hát. Xem ra cậu này yêu đời, vô tư, lạc quan quá.

Được chúng tôi thông báo vị trí của những ổ cây song già, cả khu rừng đang yên tĩnh bỗng sôi động hẳn lên. Chiến dịch làm "Chiếc gậy vượt Trường Sơn" được mọi người nhanh chóng hưởng ứng, triển khai thực hiện.

*
*    *

Sang ngày nghỉ thứ hai, Binh trạm tổ chức phục vụ chiếu phim cho anh em đơn vị. Thật bất ngờ, ở miền xa xôi hẻo lánh mà vẫn có phim để chiếu. Khi nghe được tin vui này, trong chúng tôi, ai nấy đều háo hức, mặt mày rạng rỡ hẳn lên.

Phim được chiếu là "Thượng Cam Lĩnh", do Trung Quốc sản xuất. Nơi chiếu phim được đặt trong hang đá rộng lớn, đủ chỗ ngồi cho cả đại đội vào xem.

Thật cảm phục anh em chiến sĩ Binh đoàn Trường Sơn, đã tận tình phục vụ chúng tôi rất chu đáo. Phim quá cũ, do chiếu quá nhiều lần nên trên màn ảnh chỉ nhìn thấy chủ yếu là những vệt sáng dài nhay nháy, trượt dọc. Hình ảnh quá mờ do phim bị xước nhiều, mà lại hay đứt nữa chứ. Nhưng không sao đối với cánh lính ở đây, lúc này được xem phim là hạnh phúc lắm rồi.

Bên ngoài, phía trên bầu trời, những chiếc máy bay trinh sát L19. 0V-10 bay vè vè liên tục, săn lùng bộ đội ta. Nhưng lúc này đang ở trong hang đá, các chiến sĩ giao liên chiếu phim vẫn bình tĩnh nối lại những đoạn phim bị đứt để tiếp tục chiếu lên màn ảnh cho mọi người xem tiếp những đoạn còn lại.

Phim nói về cuộc chiến giữa quân đội Mỹ hùng hậu, trang bị đầy đủ vũ khí, bao vây một nhóm quân Trung Quốc, vũ khí thiếu thốn, không nói là thô sơ đang cố thủ trong hang đá. Vậy mà kết thúc phim, đội quân Trung Quốc lại chiến thắng. Phía Mỹ thua chết la liệt.

Xem xong phim, chúng tôi ra khỏi hang trở về đều xôn xao bình luận: "Bộ phim bốc phét quá, làm gì có chuyện ngược đời như vậy".

 

14-11-1971

Chúng tôi rời trạm 5 bắt đầu của chặng đường hành quân cuốc bộ. Đường đi là lối mòn nhỏ dưới tán cây rừng già sâu hun hút. Càng về cuối ngày, hai chân và hai vai tôi đau nhừ, sưng tấy đỏ.

Chiếc ba lô cồng kềnh và bao gạo đầy 7kg sau lưng ghì nặng đôi vai. Cổ như muốn rời ra khi dây đeo súng tiểu liên AK kéo gò đầu xuống, lưng bụng thì đau thắt, như chia thân thể ra làm hai phần, bởi vòng quanh nó là một dây lưng bản rộng, được treo vào đủ mọi thứ xung quanh. Nào là bình tông đầy nước, dao găm, lựu đạn rồi hộp thuốc cá nhân... Mệt quá, nhiều lúc tưởng như đứt hơi muốn đổ vật lên đường. Tôi lê từng bước mệt nhọc, loạng quạng đuổi theo đoàn quân.

Trước khi lên đường đi vào, tôi đã cân kiểm tra trọng lượng cơ thể của mình, được 45kg, cao 1m65. Lúc chưa nhập ngũ được mọi người trong gia đình gọi là "Cái dây của họ Võ".

Thực ra không riêng gì tôi, thời kỳ đó thể tạng người dân miền Bắc cơ bản là vậy. Nếu có ai đó mà đi ra ngoài đường, cũng chỉ gặp đa số là những người gầy, chả có mấy người béo mập. Qua hai cuộc chiến tranh ác liệt đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng con người, lấy đi không biết bao nhiêu sức lực, trí tuệ của cả dân tộc.

Cả nước ai cũng sống trong khó khăn, gay go, ác liệt. Thời gian sống trong yên tĩnh, hoà bình chả có được là bao, thời gian dành cho sản xuất, xây dựng cuộc sống chả còn được mấy. Tất cả mọi người đều lo lắng chống đỡ chiến tranh. Tất cả tập trung ưu tiên cho tiền tuyến, với khẩu hiệu: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người".

Bước sang ngày thứ hai hành quân cuốc bộ, cái đau, mỏi mệt càng giày vò tôi mãnh liệt. Chưa lúc nào thấy thể xác mình bị hành hạ đau đớn đến tột cùng như vậy. Tất cả như muốn vỡ tung ra.

- Cho em nghỉ đi, thủ trưởng ơi!

 Dọc tuyến đường hành quân, tôi đã gào lên rất nhiều lần. Nhưng đoàn quân vẫn không mảy may dừng lại, tất cả mọi người vẫn cứ nối đuôi nhau lặng lẽ hành quân, hành quân...

*
*    *

Những ngày tiếp theo, con đường nhỏ chúng tôi đang đi được nối ra con đường lớn, dành cho phương tiện vận tải cơ giới cắt qua con đường 9 (đoạn từ Xêpon, Nam Lào về Lao Bảo) đến thị trấn Bản Đông.

Nơi đây, còn để lại dấu tích chiến thắng vang dội của bộ đội ta đã đập tan cuộc hành quân chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng hoà, với mật danh "Lam Sơn 719", hòng cắt đứt yết hầu tiếp tế quân, lương của miền Bắc hậu phương cho cuộc cách mạng ở miền Nam.

Những chiếc xe tăng M41, M113, xe vận tải, súng đại bác 105 ly của quân đối phương bị thủng và vỡ toác ra từng mảng nham nhở, nằm rải rác ngổn ngang trong khu rừng đất đỏ, cây cối gục đổ tan hoang, mặt đất bị cày xới tứ tung khắp mọi nơi.

Trong trận chiến này ta đã bắt sống được đại tá quân đội Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thọ, chỉ huy cuộc hành quân.

*
*   *

Chúng tôi vượt qua sông Xê Băng Hiêng bằng thuyền, dòng sông trong xanh, mát rượi. Ngồi trên thuyền, tôi cứ ước ao mãi: giá như mình được vùng vẫy bơi trên dòng sông này, chắc rằng sự mỏi mệt, đau đớn trên thân thể mình ít nhiều sẽ được vợi đi trôi theo dòng sông đang chảy mãi, chảy mãi.

Ban ngày, trên bầu trời, những chiếc máy bay trinh sát L19, 0V-10 luôn luôn vè vè lùng sục quân ta. Đâu đó, tiếng ùng, oàng xa xa vọng lại.

Còn về đêm, những chiếc máy bay cánh quạt "Bà già C130" ầm ầm, ì ì thay nhau bay dọc tuyến đường đi vào của bộ đội ta, soi mói bắn phá. Thỉnh thoảng chúng lại bắn một loạt đạn từ trên cao xuống. Tiếng nổ nghe: "Binh bùng, binh bùng" mà chúng tôi gọi là "Xin thùng, xin thùng" (thùng xe cơ giới).

Máy bay này được trang bị kính ngắm hồng ngoại, nên chúng bắn vào những chiếc xe vận tải của bộ đội ta chạy trong đêm khá chính xác. Cánh lính lái xe Trường Sơn gọi là: "Máy bay tử thần".

Chúng tôi đi đến những đoạn đường bạt taluy bị vùi dập do bom đạn địch trên máy bay vừa ném xuống. Nơi đây bộ đội và thanh niên xung phong đang hối hả vần đá, san lấp mặt đường, để kịp cho những đoàn xe vận tải còn chờ ở phía sau chạy ra mặt trận. Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

*
*   *

Đoàn quân đã vượt qua không biết bao nhiêu con dốc, con suối, những thửa ruộng, bản làng nghèo của dân Lào thưa thớt nằm dọc tuyến đường đi vào. Nơi đây, người dân mang theo những bát gạo, quả bầu, quả bí, con gà của mình, ra hai bên đường ngồi chờ đón bộ đội đi qua để đổi một gói muối, một ít mì chính, hay một chiếc khăn mặt... kể cả những hình tranh ảnh cô gái miền Bắc duyên dáng đẹp dịu dàng.

Người dân Lào nghèo nàn, hiền hậu, thật thà, chất phác rất dễ tin người. Chính vì điều đó, mà có một ai đó đã láu cá, lấy bánh xà phòng bảo là lương khô để đổi lấy hàng của họ. Lúc gặp chúng tôi họ cứ trách mãi:

- Cái bộ đội ngày hôm qua không tốt, hắn đổi cho mình một cục lương khô bảo đem về ăn đi, nhưng sao khó ăn quá. Mình mất tiền nên phải ăn thôi.

Là cánh lính với nhau chúng tôi cảm thấy ngượng ngùng, không đồng tình về lối đùa quá mức đó.

 Những người đàn ông nơi đây, da đen bóng, trên mình chỉ khoác chiếc khố màu đen bé nhỏ ở phần bụng dưới, bên hông họ luôn mang theo một con dao, trên vai vác chiếc rìu... miệng liên tục ngậm một điếu thuốc lá cháy dở. Những người phụ nữ màu da cũng không trắng hơn được mấy, trên mình chỉ khoác chiếc váy thổ cẩm sờn không rõ hoa văn, phía trên không có áo mà chỉ choàng một tấm khăn tự dệt, màu nâu đen để chống rét. Họ ngồi bên cạnh những món hàng bày ra trên mặt đất, chờ đổi một thứ nào đấy để mang về. Dân tộc Lào có hai sắc tộc: Lào Lum da trắng, Lào Thơng da đen.

Một điều đặc biệt đối với những người phụ nữ  ở đây, luôn có một thứ bên mình mà không lúc nào xa rời, là vật "bất ly thân" của họ. Đó là chiếc điếu tre khá lớn (như điếu cày hút thuốc...) có nõ điếu to tướng, miệng bằng cái bát ăn cơm, bên trong chứa khoảng một vốc sợi thuốc lá màu xanh, kèm thêm một cục than hồng đang cháy âm ỉ.

Miệng của họ luôn gắn chặt với chiếc ống điếu, không một lúc nào rời ra. Ngay cả khi dừng lại để trả lời chúng tôi, cũng chỉ có hở nửa miệng ở ngoài để đáp lại, tuyệt đối không bao giờ dứt hẳn xa.

*
*   *

Buổi sáng giữa rừng già đại ngàn Trường Sơn nếu như không có tiếng vè vè máy bay trinh sát và những tiếng ùng oàng của bom đạn thì nơi đây đẹp thơ mộng lạ thường.

Những tiếng hú lanh lảnh chói tai của đàn vượn gọi bầy dấy lên từng đợt, những tiếng ríu rít của đàn chim tìm quả ở những tán cây trên đầu chúng tôi đi qua. Thỉnh thoảng phía bên kia sườn núi lại vang lên từng hồi đơn độc của chú chim "Bắt cô trói cột" được gọi là "Khó khăn, khắc phục". Tiếng chim như nhắc nhở mọi người, vượt qua mọi khó khăn để tiến lên phía trước.

Có lẽ, âm thanh rộn ràng và náo động nhất nơi này là những bước chân tiến quân rầm rập của chúng tôi.

Đến lúc này, tôi không nhớ mình đã vứt bỏ chiếc gậy vướng víu từ lúc nào, chắc là chỉ sau mấy ngày hành quân bộ đầu tiên. Quan sát hết lượt mọi người, đến giờ này không ai còn gậy nữa. Dù có đau nhức, mệt mỏi đến mấy vẫn không được phép tự ý dừng lại. Tất cả lúc này chỉ một hướng hành quân, hành quân.

Những sáng kiến giảm trọng lượng trên vai của anh em trong đoàn đã xuất hiện. Bắt đầu từ những chiếc quần áo lót, đến đôi giày, bít tất, những quyển truyện dày, mỏng đều cảm thấy không cần nữa... Tất cả được treo lên thân cây ở trạm nghỉ mà chúng tôi vừa tạm biệt.

Giờ đây, cả một bãi khách rộng lớn phủ đầy những thứ vừa được bỏ ra, song cái nặng trên người vẫn còn đeo bám chặt, kiên trì không buông tha cho chúng tôi. Nhưng công bằng mà nói, lúc này ai nấy đều cảm thấy đỡ nặng và đỡ vướng víu hơn trước nhiều.

Phải giảm cân nữa, một ý kiến ai đó trong đơn vị đề xuất, nhưng còn giảm gì được đây? Khi súng, đạn, áo quần, chăn màn, ba lô, thuốc men không thể bỏ được rồi. Một sáng kiến mới nữa được đưa ra:

 - Phải cắt bỏ đỉnh màn thôi!

Mọi người nhanh chóng chấp nhận và thực thi ngay. Mặc dù trọng lượng đỉnh màn chỉ được vài lạng thôi, nhưng đối với chúng tôi lúc này cứ giảm được gam nào, hay gam nấy.

 Chiếc màn giờ đây đã bỏ đỉnh đi, khâu lại hai mép tạo thành màn hình chữ A rất tiện lợi cho mắc màn khi nằm võng. Phải thưởng huân chương cho ai đã đề xuất sáng kiến này.

*
*    *

Đang mải mê bước theo đoàn quân, tôi nhận được khẩu lệnh phía trước truyền về và vội vàng quay lại truyền lệnh cho người đi sau.

- Qua sông cởi quần!

Đó là mệnh lệnh, nên cánh lính chúng tôi chấp hành rất nghiêm, không một chút chần chừ. Giờ đây, ai nấy trên mình chỉ còn độc một chiếc áo dài trên người, riêng chiếc quần đã được vắt qua cổ. Phía dưới thật sự được hoàn toàn tự do, vì tất cả anh em đã lâu không còn có khái niệm về đồ mặc lót nữa, những thứ này đã nằm lại ở các trạm phía sau từ lâu rồi.

Chúng tôi đi mãi mà chẳng thấy con sông. Phải chăng, chỉ có khoảng trống rộng của con suối cạn kéo dài nằm ở phía trước.  Nơi đấy xuất hiện một đơn vị nữ thanh niên xung phong đang ghép đá làm đường cho xe cơ giới qua. Tiếng cười khúc khích râm ran...

Mọi người ai nấy đều hoảng hốt nhìn xuống. Không kịp mặc quần nữa rồi, rất may còn có hai tà áo lính dài, đủ che kín những thứ cần che. Nhưng dù sao chúng tôi vẫn ngượng ngùng đỏ chín mặt khi đi qua những cô gái trẻ trung, hồn nhiên và hóm hỉnh này.

Thì ra, cậu nào phía trước trong đoàn đã truyền lệnh đùa cợt tai hại đó, đặt tất cả mọi người ở phía sau vào tình huống thật khó xử. Giá như không có chuyện vừa rồi xảy ra, tất cả chúng tôi đã la hét trêu đùa thoải mái với chị em. Đã lâu rồi, anh em chưa hề gặp bóng dáng một cô gái người Việt Nam nào. Lẽ ra, đây là dịp may hiếm có, để nhớ về những ký ức quê nhà.

*
*    *

Cứ hành quân vượt qua 10 trạm giao liên, cả đơn vị lại được nghỉ một ngày, để nhận lương thực, thực phẩm cho những ngày tiếp theo. Đã lâu rồi chúng tôi không được nhìn thấy một cọng rau. Đói ăn, đói rau làm tất cả mọi người ai nấy đều cảm thấy nôn nao khó chịu.

Được một ngày nghỉ, cả tiểu đội tôi chia nhau xuống suối tìm các loại rau ăn được như cây môn thục, rau dớn (cây dương xỉ), măng tre, le, nứa. Hoặc tìm trên những khoảng rừng trống, xung quanh miệng hố bom đã lâu ngày, cây cối cháy đổ, nơi đây cây rau tàu bay mọc rất nhiều.

Cũng vì sự thèm khát rau xanh, nên đã có những bếp ăn, anh em hái rau môn thục nhầm sang cây rau ngải (vì hai loại cây này hình dáng bên ngoài khá giống nhau). Ăn phải rau này, sẽ ngứa từ trong ruột ra tận miệng. Cái ngứa khó chịu đến mức muốn thò cả tay vào trong bụng để cào hết cỡ cho đỡ ngứa.

Nồi rau đã nấu chín, nhìn vào rất hấp dẫn và ngon, vì nó đã ngốn không ít mì chính, nhưng cũng đành phải nhắm mắt đổ đi. Tiếc đứt ruột mà phải chịu.

Càng ngày, chúng tôi càng có kinh nghiệm về kiếm rau rừng, tất cả những loại cây, lá có vị đắng, ngọt tuyệt đối không đụng đến, rất dễ bị ngộ độc. Còn những loại rau lá có vị chua có thể vô tư ăn được. Những bí quyết này do cán bộ binh trạm Trường sơn truyền lại cho.

*
*   *

Đêm nay nghỉ ở trạm giao liên, chúng tôi được thông báo chuẩn bị tinh thần và đồ đạc buộc chặt gọn gàng, cơm nắm và nước mang theo đầy đủ để ngày mai hành quân vượt qua dốc cao.

Khi vừa nghe được thông báo từ ban chỉ huy đại đội, tôi cứ nghĩ rằng: Chắc dốc này cũng chỉ cao hơn một chút so với cả nghìn con dốc đã đi qua. Song thực tế khi đến chân dốc, mới thấy được độ cao nguy hiểm và khó khăn của nó.

Dốc đá tai mèo thẳng đứng, không thể vượt qua được, nếu như không có những chiếc thang dây làm bằng cây song to già rất vững chắc, được chiến sĩ binh trạm giao liên đã cố định vào vách đứng núi đá theo từng đoạn, từng đoạn một.

Đứng ở dưới, nhìn lên những chiếc thang dựng đứng cheo leo lờ mờ trong mây trắng đang trôi bồng bềnh, tôi cảm thấy rùng mình khi nghĩ đến đang phải đu bám trên những bậc thang chênh vênh đó.

Khi trên mình không mang vác một thứ gì mà vượt qua được con dốc cheo leo, dựng đứng, cao vút này, đã là một kỳ tích rồi. Còn bây giờ, người mang nhẹ nhất như tôi đã là 25 kg ở trên vai, mà lại cồng kềnh nữa chứ. Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh, không cho phép chùn bước dừng lại. Tất cả mọi người phải cùng nhau tiến lên.

Trèo lên dốc cao dựng đứng, tất cả ai nấy phải dò dẫm từng bước chân một ở những bậc thang phía dưới. Tay nắm chặt từng bậc thang phía trên, gồng mình đu người kéo lên, nhích dần từng bậc một. Đầu người dưới đội người trên từ từ dịch chuyển.

Càng lên cao gió càng thổi mạnh, mây mù bao phủ dày đặc che mất tầm nhìn của chúng tôi. Những hạt nước trong mây nhỏ li ti phả vào mặt, vào cổ thấy lành lạnh, buốt buốt.

Có những đoạn dốc khi đang còn cố sức leo, trời bỗng nhiên quang đãng, trong vắt. Tôi đưa mắt nhìn xuống dưới, một lớp mây trắng dày đặc, xốp nhẹ, bồng bềnh lặng lẽ trôi. Mặt đất ở dưới hầu như không còn tồn tại. Tôi chỉ thấy ở nơi sâu thăm thẳm ấy mờ mờ một màu xanh cây rừng, thoắt ẩn, thoắt hiện.

Nhìn ra các phía xung quanh, nơi xa xa kia là những ngọn núi đang thập thò nhô lên trên biển mây trắng dập dềnh, mênh mông. Người tôi cảm thấy say say, bay bổng, bồng bềnh. Nhiều lúc không dám nhìn xuống nữa, mà cứ ngỡ mình như đang lạc vào chốn bồng lai. Trong lúc đó, núi đá tai mèo và chiếc thang ẩm ướt trơn tuồn tuột. Chỉ cần sơ sểnh một chút, tay bám bậc thang không chắc là bị tuột ngay, cả người sẽ rơi xuống tan tành không biết đi về đâu?

Đang mải mê bám chặt từng bậc thang để đu mình lên, tôi giật mình khi nghe tiếng ai đó la lên:

- Mẹ ơi, con chết mất!

Ngay sau tiếng la đó là tiếng của Nam sát ngay trên đầu hét lên:

- Hồng ơi, bám chặt và áp mình sát vào thang. Hãy đứng yên và nhắm mắt lại, đừng có nhìn xuống dưới.

Ngay tức thì Nam gồng mình đội Hồng để không cho cậu ta ngã ngửa người ra sẽ rơi xuống dưới là vực sâu hun hút, mặc dù lúc này trên người anh cũng đang mang vác rất nặng trên 25 kg.

Cả đoàn quân đang bám chặt vào chiếc thang nhỏ bé, dựng đứng mong manh, chuyển động lên trên đều đều, chậm rãi đột ngột dừng lại. Cũng là tiếng của Nam ở trên đầu tôi la lớn:

- Tất cả anh em, hãy mang giúp Hồng một số thứ trên người cậu ta!

Đầu thì đội bạn lên, một tay phải nắm chặt từng bậc thang dây. Còn một tay nữa Nam nhanh nhẹn rút bao gạo căng tròn trên vai Hồng xuống đưa cho tôi mang giúp.

Có lẽ do thế đứng lúc đó rất khó khăn, trên người còn mang vác quá nhiều thứ nặng cồng kềnh, nhất là phải bám chặt thang leo được đến đây, qua một chặng đường rất dài, đã vắt kiệt sức của Nam cũng như tất cả mọi người, nên khi vừa trao bao gạo đó cho tôi, anh đã trượt tay để nó rơi xuống.

Nhìn theo bao gạo căng tròn bạc màu cỏ úa lao vun vút sàn sạt bên cạnh đoàn quân, xuống nơi sâu hun hút ấy, chìm vào trong đám mây trắng trôi bồng bềnh phía dưới, tôi bỗng cảm thấy người chòng chành, chao đảo, quay cuồng, hoảng sợ, lâng lâng. Chiếc thang và vách núi ngay sát mặt mình đang đảo đảo xoay tròn.

Biết mình đã bị choáng ngợp và say say ở độ cao này, trong đầu tôi giờ đây chỉ còn lại một suy nghĩ duy nhất. Phải nhắm ngay mắt lại, tay bám chặt lấy bậc thang, ép sát người vào, kiên quyết không được bỏ tay, nếu khôngsẽ như bao gạo đang rơi xuống nằm dưới vực sâu đó.

Phía trên đầu Hồng, anh em cũng đang một tay bám chặt vào bậc thang, một tay cố gỡ những thứ còn đeo trên vai, trên cổ cậu ta như: Khẩu súng AK, chiếc xẻng cá nhân... chuyền lên trên cho đồng đội mang giúp.

Chúng tôi dừng lại giữa lưng chừng dốc một lúc. Nam động viên Hồng:

- Cậu đã thấy đỡ chóng mặt chưa? Cố gắng lên! Hãy nhìn vào bậc thang mà bám chặt vào nó. Cậu đừng có nhìn xuống dưới và hai bên nữa. Dũng cảm lên! Mình và mọi người luôn bên cậu!

Mặt trời đã chếch về hướng tây, cả đơn vị dừng lại nghỉ ở một khoảng trống, nơi lưng chừng dốc để lấy cơm nắm ra ăn. Lúc này, tôi mới đủ can đảm đưa mắt quan sát về phía chân dốc.

Thật kinh ngạc và khâm phục làm sao khi được chứng kiến anh em trong đại đội súng cối 82 (C16), đang vận chuyển khẩu súng to lớn, cồng kềnh, nặng nề vượt qua dốc thẳng đứng này.

Người này kéo, người kia đẩy những chiếc nòng pháo to tròn, dài ngoẵng, nặng trịch bóng loáng và trơn tuồn tuột. Hoặc là từng người một phải mang sau lưng những chiếc đế, bộ chân pháo bằng sắt rất nặng và cũng khá cồng kềnh. Tất cả đều kiên nhẫn, lầm lũi, dò dẫm bám vào từng bậc thang mà nhích từng tý một để vượt qua con dốc cao kinh hoàng.

 Dưới kia, có những người đã mang ba lô cồng kềnh sau lưng, còn gánh trên vai thêm 6 quả đạn cối. Họ đang cố ép người sát vào chiếc thang dựng thẳng đứng, chênh vênh nhỏ bé, để tránh sảy chân trượt ngã rơi xuống.

Hoá ra việc mang vác nặng trên vai, so với các anh, chúng tôi còn hạnh phúc chán. Là cánh lính với nhau, xin bái phục, bái phục. Con dốc này được gọi là "Dốc bắc thang lên trời".

Chiều về, cả đơn vị đã vượt qua đỉnh dốc. Cứ nghĩ rằng lên được dốc là khó, nhưng khi xuống được dốc khó khăn nguy hiểm cũng không kém.

Ở phía bên này, độ dốc thoai thoải không thẳng đứng, không dài như ở phía bên kia. Nhưng từ trên cao nhìn xuống vực sâu hun hút nằm ở phía dưới cũng sợ. Nó đã sâu lại còn bị lớp mây mù che phủ bên trên, trông cứ mờ mờ, ảo ảo chả thấy rõ đáy vực đâu. Nhìn thấy thế, tôi hãi thót cả tim, nhưng rồi cuối cùng, tất cả mọi người đều an toàn vượt qua được cửa ải kinh sợ đó.

*
*   *

Rừng già đại ngàn của Lào rộng lớn mênh mông, đi mãi, đi mãi vẫn không hết. Nơi đây là những cánh rừng nguyên sinh, với những thân cây cổ thụ to lớn đến cả chục người nối tay ôm xung quanh vẫn không xuể. Những tán cây vươn rộng đan xen, tầng tầng lớp lớp phủ kín, hầu như che khuất ánh sáng mặt trời khó mà lọt qua được. Cảm giác như mình là những người đầu tiên đặt chân đến đây.

Thỉnh thoảng, tôi bắt gặp một chú chim đại bàng đất đang ngủ ở trên tán cây cao cổ thụ trên đầu, nó giật mình tỉnh dậy vỗ cánh bay đi, khi nghe tiếng rầm rập, rầm rập của những bước chân chúng tôi đang hành quân ở phía dưới. Tiếng vỗ cánh của chim đại bàng nghe oàm oạp, oàm oạp, chậm rãi. Sải cánh rộng đến cả chục mét. Nó đang bay xa dần, xa dần...

Khi đi bên triền núi, nhìn xuống thung lũng sâu thẳm một màu xanh trải rộng bao la. Xa hơn nữa là những ngọn núi cao cao chót vót có bốn mùa mây trắng ôm ấp, bao phủ quanh mình. Vẻ đẹp nơi đây thật diệu kỳ, huyền ảo biết nhường nào. Đến gần một con suối, nhìn lên phía trước xa xa, tôi thấy một chiếc cầu treo vắt vẻo trên hai đầu ngọn cây nối liền con suối, nó đang đung đưa dập dềnh theo nhịp bước của bộ đội hành quân. Từ xa nhìn về, cứ ngỡ quân ta đang bước đi trong không gian lơ lửng giữa trời.

Những chiếc cầu treo này được bộ đội Trường Sơn xây dựng bằng những sợi cây song già lâu đời. Có thành lan can cũng bằng những đoạn thân cây song ngắn làm bảo vệ hai bên. Phía dưới mặt cầu là những đoạn tre già kết lại, cố định trên những sợi dây đó vắt vẻo qua con suối và buộc chặt ở  đầu ngọn cây của hai bên bờ.

Dáng chiếc cầu treo rất đẹp và bay vút. Khi đoàn quân chúng tôi đi qua, ai ai cũng trầm trồ thán phục về những đôi bàn tay khéo léo của bộ đội Trường Sơn tạo nên. (Những con suối ở Trường Sơn mùa lũ về nước ngập đến ngọn cây. Chỉ có loại cầu treo này bộ đội ta mới vượt qua suối trong mùa mưa lũ được). Đến lúc này tôi mới thực sự hiểu được ý nghĩa của chiếc cầu treo trong bài hát: "Đường tôi đi dài theo đất nước" của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối năm nào. "Từng bờ khe cầu treo ngọn cây, cảnh đẹp như giục tâm hồn tôi..."

*
*   *

Chúng tôi được thông báo chuẩn bị cho ngày hôm sau, mỗi người phải mang ba nắm cơm, nước uống tăng lên so với những ngày qua, để vượt con dốc cao nhất từ trước tới nay.

 Cứ ngỡ con dốc đã vượt bằng thang dây cao phát khiếp rồi, giờ đây lại có cái cao hơn nữa. Tôi rất lo lắng, hoang mang.

Mà oái oăm thay, cậu Lượng(1) to béo nhất tiểu đội lại đang lên cơn sốt ác tính, người co giật liên hồi. Như vậy, tính từ ngày đi vào cho đến nay, cả đại đội tôi có sáu người bị những cơn sốt rét quật đổ. Mặc dù trước đó và ngay cả bây giờ,  vào một ngày quy định trong tuần, tất cả  mọi người đều được uống thuốc phòng chống sốt rét. Một đúc kết của cánh lính chúng tôi ở Trường Sơn: Hầu như những ai có thân hình to béo, là những người được thần sốt rét đến viếng thăm đầu tiên. Cậu Lượng cũng nằm trong diện đó.

Phía trước là đường dài thăm thẳm, những dốc đứng cao, trên vai lại mang rất nặng,  quá sức chịu đựng của từng người. Sao cậu ta lại chọn sốt vào thời điểm khó khăn này để hành hạ anh em chúng tôi? Lẽ ra cứ để cho qua ngày mai khi cả đơn vị vượt qua được con dốc này, rồi lúc đó hãy sốt!

Khó khăn, vất vả, mệt nhọc chúng tôi nói vậy thôi, chứ như tất cả mọi người trong tiểu đội ai nấy đều thương Lượng vô cùng khi tận mắt chứng kiến cậu ta lên cơn sốt hầm hập, người run bần bật, không ăn được một tý gì vào bụng, chỉ có húp một ít nước cơm.

Cơn sốt của Lượng đã được dự đoán trước đó mấy hôm, nhưng không biết nó sẽ xảy ra vào thời điểm nào? vì mấy ngày vừa qua cậu ta đòi ăn rất nhiều và liên tục kêu đói. Đấy là biểu hiện của những người sắp lên cơn sốt và sau khi cắt cơn sốt.

Đầu tiên là cái rét đến rất nhanh, rét tận trong ruột rét ra. Rét rùng mình, rét đến gai cả người, hai hàm răng va đập vào nhau nghe cầm cập liên hồi. Hai mắt trắng dã, môi tím tái, người nằm co quắp run rẩy và giật theo từng cơn. Mặc dù đã đốt đống lửa bên cạnh nhưng vẫn không có một tác dụng gì.

Chúng tôi mặc hết áo quần cho Lượng và tập trung hết cả chăn, màn phủ kín, nhưng cậu ta vẫn run cầm cập, rên hừ hừ, liên tục kêu rét, thỉnh thoảng người lại lên từng cơn co giật.

Sau đợt rét là cơn sốt hầm hập. Nhiệt độ trong người lên 40 - 410 độ C, dẫn đến mê sảng, co giật, nói ú ớ, mồ hôi vã ra như tắm, mắt trắng dã. Nếu như không có cấp cứu, chăm sóc kịp thời, sẽ chuyển sang cơn ác tính, đành phải ngậm ngùi chia tay vĩnh biệt mọi người, một mình nằm lại trên mảnh đất Trường Sơn xa xôi và hiểm trở này.

Những trường hợp bị sốt ác tính đã xảy ra không ít đối với cánh lính chúng tôi. Nếu không chết thì suốt cả cuộc đời còn lại, cũng bị tâm thần ngơ ngẩn.

Có những chiến sĩ ở đơn vị khác, bị cơn sốt rét đến bất chợt trong lúc đang còn hành quân. Mắt hoa, tai ù, người run rẩy đành phải đi chậm tụt lại sau, không thể đuổi kịp anh em ở phía trước đang đều nhịp bước hành quân, buộc phải nghỉ  qua đêm ở ven đường. Ngày hôm sau, đơn vị cử người quay lại tuyến đường đã qua để đón tìm. Khi trông thấy chiếc võng mắc ở cạnh lối đi, đến nơi vẫn thấy anh nằm im, nhưng bị chết từ lúc nào, mối rừng xông phủ đầy mình...

Những cái chết thương tâm thỉnh thoảng vẫn xảy ra với các chiến sĩ đang hành quân trên dải Trường Sơn này. Để tránh được những tổn thất trên, cả đơn vị tôi luôn quán triệt sâu sắc kỷ luật hành quân. Quân số được quản lý và kiểm tra chặt chẽ, từ tổ 3 người trở lên. Có ai đó trên đường bị sốt rét, việc đầu tiên phải tự mình chống gậy bước theo cùng đơn vị, còn ba lô, súng đạn anh em trong tiểu đội phân công nhau mang vác hộ. Nếu bị sốt quá nặng không thể nào đi được, lúc đó mọi người  sẽ thay nhau cáng theo.

Tất cả chúng tôi đều xót xa, thông cảm chia sẻ những gì đang hành hạ Lượng... Trong lòng ai nấy đều thầm mong cơn sốt tai quái kia sớm chấm dứt, để đến sáng ngày mai cậu ta tỉnh lại và tự mình sải bước đi cùng với anh em.

Buổi sáng, trước lúc lên đường, mọi người trong tiểu đội phải chuẩn bị tinh thần thay nhau cáng Lượng vượt dốc. Tôi người cao, gầy lênh khênh được phân công mang giúp cậu ta chiếc ba lô cồng kềnh. Như vậy, trong lúc này ngoài súng đạn và bao gạo đầy 7 kg, còn phải khoác trên vai mình thêm hai ba lô nữa. Tổng cộng trọng lượng mang theo hơn 35 kg, mà vẫn theo sát cùng đoàn quân. Con dốc này không dựng đứng như dốc đá tai mèo đã qua. Độ cao cứ đều đều, con đường đất trải dài, ngoằn ngèo rộng rãi. Tất cả mọi người cứ lầm lũi, nặng nề bước đi lên dốc đầy bùn nhão nhoẹt, trơn tuồn tuột. Chúng tôi dò dẫm bấm đầu ngón chân xuống mặt đường để chống trượt ngã. Cũng may, những đôi dép cao su do Trung Quốc sản xuất có quai rất bền, khó tuột, đế dép không dày, độ mỏng vừa phải nên việc đi lên, xuống dốc có thuận tiện hơn. Ba lô súng đạn trên vai đè nặng như muốn lôi tôi lao tuột xuống vực sâu thăm thẳm ở phía dưới.

Ở nơi đây bốn mùa mây mù bao phủ, những hạt nước li ti của đám mây là là bay qua phả vào người, vào mặt lành lạnh, buốt buốt. Chúng tôi tiếp tục hành quân trong đám mây mù, bước đi trên mặt đường đầy bùn nhão nhoẹt, buộc những người vừa cáng Lượng vừa chống gậy dò đường.

Có một lần đến đoạn quá lầy, chiếc võng đung đưa, loạng choạng, chao đảo. Lúc đó, Tại và Tiếu đang cáng Lượng trên vai đành khựng lại, hai chân và chiếc gậy gắng gượng đứng trụ ở mặt dốc nghiêng trơn tuột. Phải đến một lúc sau đó, chiếc võng mới trở lại nhịp điệu lắc ban đầu. Thật hú vía, chỉ cần chân cậu Tại trượt lệch sang bên phải một chút thôi, khoảng cách không đầy 10 phân nữa, là cả ba người cùng chiếc cáng sẽ rơi xuống vực sâu thăm thẳm rồi.

Đã quá trưa, tất cả đơn vị chúng tôi dừng lại giữa lưng chừng dốc để tạm nghỉ và mở nắm cơm thứ hai ra ăn. Gió ở trên cao thổi vù vù, không gian bao quanh phủ một lớp mây mù trắng đục, phả vào áo quần và mặt chúng tôi ướt đẫm nước. Lúc này mới cảm nhận được cái rét tê buốt trên cao của đỉnh Trường Sơn. Chứ khi đang còn còng lưng mang vác hai chiếc ba lô nặng trĩu, cùng súng, đạn với bao gạo đầy, gồng mình lê bước theo đoàn quân leo dốc, mồ hôi trong người vẫn tuôn ướt đầm đìa. Trời đã về tối, cả đơn vị tôi cố leo lên đến đỉnh dốc rồi mới nghỉ qua đêm. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm vì đã vượt qua điểm cao nhất của dải Trường Sơn hùng vĩ này.

Ở trên này hoàn toàn không có nước, nếu có nấu cơm cũng không thể chín được, vì nhiệt độ nước sôi nơi đây chỉ đạt được mấy chục độ, do đỉnh núi quá cao so với mặt biển nên không khí rất loãng. Vì đã chuẩn bị nước và cơm nắm mang theo từ trước, nên việc nấu được cơm không còn ai quan tâm nữa. Để vượt được con dốc này, chúng tôi phải ăn đến ba nắm cơm: ở dưới chân, lưng chừng và cuối cùng là trên đỉnh. Bởi vậy, nó được gọi là "Dốc 3 nắm".

*
*    *

Sáng ngày hôm sau, cả đơn vị tiếp tục hành quân về phía bên này, đường đi đã thoai thoải rất nhiều, chúng tôi ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Như vậy là rất thuận lợi, chứ không vất vả, nguy hiểm như ngày hôm qua.

 Rừng nơi đây có đặc trưng riêng biệt, nó được hình thành theo từng chủng loại cây. Rừng cây bằng lăng (săng lẻ) với cả một cánh rừng rộng mênh mông chỉ có độc một loại cây bằng lăng. Cây cao thẳng đứng mọc thưa không dày đặc, vỏ thân cây khoang đốm trắng bạc như màu vỏ cây ổi già. Ong rừng làm tổ rất nhiều, trong những hốc cây nằm ở trên cao.

 Rừng cây khộp (cây dầu chai) thưa thớt, mùa khô cây trụi lá trơ cành. Những chiếc lá khộp to hơn chiếc bánh đa nướng đã khô rụng đầy, phủ kín mặt đất. Khi chúng tôi đặt chân vào, tiếng vỡ ra nghe kêu rôm rốp.

Rừng le phủ kín và dày đặc, cây cao độ khoảng 5 đến 7 mét, với một màu xanh trải rộng mênh mông nằm dọc hai bên bờ suối, bờ sông. Nơi đây có rất nhiều loại thú sinh sống, đặc biệt là lợn rừng, chúng đi kiếm ăn theo từng bầy đàn… và có rất nhiều vắt rừng như những con đỉa nhỏ bằng que diêm bám sống trong các bụi le, chỉ đợi khi đoàn quân chúng tôi đi qua là bắn ra "tanh tách" vào vùng da thịt để hở: như cổ, tai và trên mu bàn chân. Chúng bám rất chặt, tranh nhau hút máu mà không hề gây cảm giác đau đớn hay khác lạ cho ta biết để mà gạt bỏ đi. Khi phát hiện được thì con nào, con nấy đã căng tròn đầy máu, to hơn đầu đũa, chụm đầu vào vết thương như một bông  hoa nhiều cánh đen ngòm, loang máu đỏ trên nền da trắng nhợt.

Đa số anh em khi vừa phát hiện ra chúng hoảng sợ quá nhảy cẫng lên la hét cầu cứu bạn bè đến giúp đỡ. Kinh nhất là loại vắt "sọc xanh", chúng có thể tự bắn xa đến ba bốn mét từ trong bụi cây ra mặt đường. Những vết thủng trên mặt da do vắt để lại, máu không chịu đông mà cứ chảy ra mãi. Muốn khắc phục được ai may mắn có một dúm nhỏ thuốc lá, thuốc lào dịt vào đó còn không thì nhai vội một ít lá le rừng đắp vào. Nhưng phải mất một thời gian khá lâu máu ở đấy mới chịu đông ngừng chảy.

*
*    *

Vượt qua sông Nậm Bạc, cả đơn vị dừng lại nghỉ ở trạm 62 một ngày. Dọc bờ sông nơi đây, các kho chất đầy bao tải gạo, nằm rải rác khắp nơi.

Cánh lính chúng tôi rất đói, nhìn thấy nhiều gạo mà phát thèm, nhưng đành chịu nhịn. Lãnh đạo đơn vị đã liên tục nhắc nhở quán triệt mọi người nhiều lần: Phải nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, không được đụng chạm đến bất cứ thứ gì của binh trạm.

Hành quân song song với trung đoàn tôi còn có đơn vị giao quân thuộc Quân khu Hữu ngạn, trong đoàn chủ yếu người Hà Nội và Hà Tây. Trên đường đi, đôi bên đã nhiều lần trêu chọc nhau, cũng có lần suýt xảy ra đánh lộn. Vì những câu nói đùa chưa hiểu ngay được.

- Đằng ấy quê ở đâu đấy!

- Bọn mình ở Hà Nội.

- Hà Nội ở xóm nào?

Thế là đối phương đang còn vui vẻ, bất ngờ chuyển ngay sang giận dữ và chửi toáng:

- Mẹ chúng mày chứ! Hà Nội làm gì có xóm.

- Thế ở Hạ Hồi không gọi là xóm, thì gọi cái gì? (Hạ Hội từ thập niên 80 thế kỷ 20 trở về trước gọi là xóm).

Mọi người đang ở trạng thái hầm hầm tức giận, bỗng nhiên bật oà cười phá lên vui vẻ với nhau như lúc đầu vừa gặp mặt.

Buổi chiều, trong lúc đang nằm trên võng mơ màng, tôi giật mình nghe hai tiếng súng "đoàng" "đoàng" của ai vừa bắn ra. Ngay sau đó, là tiếng bước chân chạy rầm rập ở phía bãi nghỉ thuộc đoàn Hà Nội, cùng với những tiếng la, hét vang lên:

 - Lính của trạm giao liên bắn chết người rồi!

Chúng tôi vội vàng vùng dậy ra xem, được chứng kiến thấy một tốp người tay cầm gậy, dao, xẻng cá nhân đang kéo đến bao vây kho gạo. Nhưng các chiến sĩ của binh trạm đã nhanh chóng bơi thuyền sang bên kia sông, để tránh mức độ phức tạp của sự việc xảy ra.

Tình huống không ai mong đợi đến quá nhanh, một lúc sau tôi mới được biết: Thủ phạm chính là do lâu nay cánh lính quá đói, phải đi suốt cả một chặng đường dài hành quân mang vác nặng nề, gian nan, vất vả và hiểm nguy, nhưng lương thực cấp ít quá, thực phẩm hầu như không có. Cái đói như một căn bệnh mãn tính kinh niên, hành hạ chúng tôi triền miên. Chính vì vậy, có mấy người bên đơn vị bạn, thấy gạo trong kho quá nhiều, nên tổ chức vào đấy lấy một ít mang về, để giải quyết cái đói mà lâu nay buộc phải bấm bụng, gắng gượng, cam chịu.

Những bao gạo căng đầy chồng chất, chèn chặt lên nhau cao đến tận mái nhà.  Nên khi  có người vần được bao trên cùng, nó vừa rơi xuống đất đã phát ra tiếng vang đánh "rầm".

Phát hiện có người lấy gạo, một chiến sĩ binh trạm cầm khẩu súng trường CKC bắn chỉ thiên nhằm để cảnh cáo, xua đuổi những người đang ở trong kho. Nhưng thật không may cho anh, một trong hai viên đạn đó đã xuyên qua nóc nhà,  trúng vào tim người đang đứng trên đống bao chất đầy gạo.

 Sự việc náo động, ồn ào kéo dài khoảng 30 phút, rồi nhanh chóng trở lại bình thường khi mọi người đã hiểu: viên đạn vừa bắn ra vô tình chứ không phải là cố ý.

*
*   *

Ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Cămpuchia ở phía trước, cách chúng tôi đang hành quân không xa. Hướng đường đi giờ đây chếch hẳn về ngả Tây Nam, luồn sâu vào đất Lào, dọc theo nhánh đầu nguồn con sông Xê Công. Đây là đường dành riêng cho chiến trường (B2) miền Đông Nam bộ. Còn ngả về hướng Đông Nam, dành cho chiến trường (B3) Tây Nguyên.

Trên tuyến đường B2, việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội được ưu tiên rất nhiều, nên những cơn đói liên tục lâu nay đã giày vò chúng tôi giờ đây mới được dịu đi một ít.

Trạm giao liên 78 nằm trên đất Lào, thuộc tỉnh Atôpơ. Ở đây, mỗi người được nhận ba lạng đường và một hộp sữa nước vỏ đã gỉ sét. Không ai có thể biết tên sữa và nơi sản xuất, vì tem nhãn vỏ mủn nát, hoặc đen xỉn không để lại một mẩu chữ nào.

Nhưng những điều đó đối với chúng tôi không cần quan tâm, được sữa ăn là quý lắm rồi. Bởi vậy, vừa nhận nó đã có người lấy dao găm cậy nắp hộp rồi uống ngay rất ngon lành hả hê, trong phút chốc chỉ trơ lại chiếc vỏ rỗng.

Còn tôi vừa cầm hộp sữa trên tay đã thấy thèm quá, chỉ muốn đục ra ăn ngay, nhưng đành kìm mình lại vì đường ruột khá nhạy cảm. Buộc phải chờ đợi đổ nước vào xoong luộc kỹ rồi mới mở ra thưởng thức.

Chỉ một lúc sau đó, trong đơn vị tôi đã xuất hiện một số người túm quần, cầm xẻng chạy vội ra bờ suối. Con số này được tăng lên theo thời gian. Có lẽ gần đến một nửa cán bộ chiến sĩ bị bệnh tiêu chảy.

 Y tá đại đội vội vàng mở  thuốc dự trữ để cấp phát cho anh em, nhằm ngăn chặn kịp thời căn bệnh đang lan toả. May mắn cho tôi và một số người đã thoát qua cơn hoạn nạn.

Đúng là "lợi bất cập hại", thế mà trước đó ai cũng nghĩ có được sữa, người sẽ khoẻ ra. Ai dè ăn xong, lại thấy mình xuống sức khủng khiếp.

Đường dài cuốc bộ còn nằm phía trước không ai rút ngắn cho. Gánh nặng trên vai chẳng giảm được gam nào. Lệnh lên đường hành quân phải chấp hành nghiêm chỉnh. Không cho phép một ai được nghỉ thêm thời gian lấy lại sức.

Chúng tôi hiểu lỗi do mình gây ra, không thể trách cứ nhau được. Lệnh đã phát ra rồi, lại phải tiếp tục lên đường hành quân, thẳng tiến về phía trước.

Cả đơn vị lại lên ca nô xuôi dòng sông Xê Công. Tạm biệt đất Lào triệu voi, để đến trạm 83 nằm trên đất Cămpuchia.

 

III. Trên đường Cămpuchia

Tuyến đường đi giờ đây rất bằng phẳng, mặc dù còn phải xuyên qua rừng nhiều. Còn những dốc núi cao, thấp đã lùi lại rất xa phía sau lưng chúng tôi.

Rừng vùng đồng bằng Cămpuchia, cây cối thưa, hầu như không có cây cổ thụ lâu đời như rừng đại ngàn Trường Sơn. Ở đây chủ yếu là những rừng khộp và le, thuận lợi cho chúng tôi hành quân cuốc bộ. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, thời điểm xuất phát lên đường  của đơn vị, được chuyển về chiều tối để tránh sự rình mò, lùng sục của những chiếc máy bay trinh sát L19 và OV-10 trên bầu trời.

Về mùa khô, hành quân ban đêm khí trời mát mẻ, dễ chịu, chỉ có một nhược điểm là rất buồn ngủ. Hai mí mắt sưng mọng luôn nặng trĩu, không thể điều khiển mở ra được. Tôi đã nhiều lần cố gắng lấy tay tát vào má mình, thế mà có lúc phải đầu hàng nó.

Bởi vậy, dù trên vai rất nặng, tôi vẫn có thể vừa đi vừa ngủ. Chỉ giật mình tỉnh dậy khi chúi đầu vào khóm cây bên đường, rồi lại mở mắt định hướng lối đi, một lúc sau lại vừa bước đi vừa ngủ tiếp. Điệp khúc như vậy tiếp tục kéo dài cho đến sáng, khi đã đến trạm giao liên mới thật sự tỉnh hẳn.

Cũng có lần được nghỉ 10 phút giữa chặng đường hành quân, ai nấy đều để nguyên ba lô súng đạn trên vai ngồi xuống tựa lưng tranh thủ ngủ. Cứ thế, chúng tôi ngủ say sưa ngon lành, bỗng giật thức tỉnh dậy khi có ai đó vỗ mạnh vào người gọi dậy.

Đó là trung đội trưởng Trần Kim Trọng, anh đã cùng đơn vị hành quân đi rất xa nơi này rồi. Nhưng khi kiểm tra quân số, thấy thiếu hẳn một tiểu đội, nên phải vất vả quay trở lại để tìm. Tôi hiểu anh rất mệt nhưng vẫn không nỡ mắng mỏ chúng tôi, mà chỉ nói:

- Anh em đã đi rất xa rồi, cậu nào đầu têu nghỉ lại ở đây mà không đi cùng đoàn vậy?

Chúng tôi nhanh chóng truy tìm ra thủ phạm. Đó là do cậu Lượng ở phía trước, ngồi nghỉ sau gốc cây cụt cháy đen, bị mảnh bom đạn phạt đứt thân. Trong đêm tối, khi đang còn ngủ mơ màng, nên cứ nghĩ đó là một chiến sĩ . Thỉnh thoảng, cậu ta giật mình mở mắt trông vào, vẫn thấy ngồi yên không động tĩnh gì lại tiếp tục gục xuống. Đêm đó, chúng tôi được một giấc ngủ thật ngon lành, phải gần đến một tiếng đồng hồ giữa chặng đường dài hành quân.

Những đêm về mùa khô, bầu trời không một gợn mây, trăng sao thấy rõ mồn một. Nhìn về phương Bắc, nơi có chùm sao Bắc đẩu Đại Hùng tinh, tôi lại nao nao nhớ về bố mẹ và quê hương da diết.

Ở nơi xa ấy, chắc giờ này mọi người đang trong giấc ngủ say, nhưng vẫn còn nhiều người thao thức không ngủ được, trong đó có cha mẹ tôi.

Những người ở quê nhà, với cả một thời gian dài lo lắng,  trăn trở không khi nào được yên, luôn ngóng trông những đứa con của mình, mong cho chúng chân cứng, đá mềm, bình an, sớm được trở về.

 

16-2-1972 (30 Tết âm lịch)

Độ khoảng 5 giờ chiều, chúng tôi lên ca nô xuôi dòng sông Xê Công về thị trấn Stungtreng, nơi ngã ba con sông này và Mê Công gặp nhau.

Lại thêm một năm nữa tôi đón Tết xa nhà. Ở nơi quê, chắc vào giờ này cha mẹ cũng như mọi người thân đang chuẩn bị chờ đón giao thừa đến. Cái Tết năm nay, thế là vắng hẳn những đứa con đứt ruột đẻ ra, không hề có tin tức, còn được trở về  nữa không? Tất cả nỗi đau chia ly nhớ thương, thao thức này đều do chiến tranh gây ra.

Chúng tôi tuy biết giao thừa sắp đến, nhưng giờ đây, đôi tai của mình còn phải căng lên để nghe tiếng vè vè của những chiếc máy bay trinh sát, L19, OV-10. Tiếng rầm rầm, rì rì của máy bay C130 ở trên bầu trời, đang lùng sục săn tìm từng bước tiến quân của bộ đội ta.

Một chiếc C130 từ đâu bất ngờ lao đến dọc dòng sông, nơi mà cả đoàn ca nô vận tải chở đầy lính trên đó, đang nối đuôi nhau xình xịch chạy xuôi dòng. Rất nhanh chóng, các chiến sĩ giao liên binh trạm đã bình tĩnh điều khiển nó đổi hướng tấp vào hai bên bờ.

Tàu vừa cập bến, tất cả mọi người ai nấy đều vội vàng nhảy xuống đất tìm nơi trú ẩn. Còn lại những chiếc ca nô cũng kịp thời chui sâu vào những rặng le ken dày đặc ở trên bờ đổ xuống dòng sông.

Tiếng bụp, bụp phát ra trên đầu chúng tôi. Cả một khúc sông dài bật sáng rực bởi từng chùm pháo sáng do máy bay bắn bung ra, treo lơ lửng trên bầu trời.

Phía dưới mặt đất, tất cả đều nằm yên không nhúc nhích, nhất cử, nhất động. Lúc này chỉ cần có một sơ suất nhỏ của ai đó thôi, cả đoàn quân sẽ phải hứng chịu một trận bom không mời mà đến.

Dứt một đợt pháo sáng, không phát hiện được dưới mặt đất và trên mặt sông có những điều khác thường, chiếc máy bay C130 bỏ đi. Không gian và mặt đất bất ngờ tối sầm lại, trả về cái tối cho đêm 30 cuối năm. Chúng tôi lại lên ca nô tiếp tục hành trình còn lại.

Cách hai bên mạn tàu độ khoảng hơn chục mét, giờ đây đã xuất hiện những chiếc thuyền đuôi tôm nổ máy phành phạch chạy xuôi, ngược giữa dòng sông.

Phía trên bờ thấp thoáng có ánh đèn dầu le lói của nhà dân. Gần hai bên mép bờ xuất hiện những chiếc nhà nổi trên mặt nước. Người chiến sĩ lái ca nô chở chúng tôi nói rằng: Đấy là nhà lồng nuôi cá, chủ yếu là dân Việt kiều của ta. Phía trên để ở, phía dưới dòng sông có lồng thả cá vào trong đó để nuôi.

Xa xa ở phía trước là một vùng sáng ánh đèn điện. Những chiếc đèn nê ông màu trắng sữa hắt bóng xuống mặt sông sáng lung linh. Nơi đấy là thị trấn Stung treng.

Đoàn ca nô vượt qua thị trấn trả chúng tôi lên bờ, cũng vừa đúng thời điểm giao thừa đến. Gió mặt sông thổi vào xua đẩy những làn sương khuya phả vào mặt và cổ lành lạnh. Tôi cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái và dễ chịu, vội vươn mình, hít đến căng lồng ngực nguồn không khí thật trong lành của phút giây đầu năm mới.

Vừa nhảy xuống bờ, chân tôi đã chạm vào lớp cát xốp dày, bước đi nghe rào rạo mát rượi. Thị trấn Stungtreng này, đầu năm mới mà được cánh lính trai trẻ chúng tôi, tuổi đời chỉ trên dưới hai mươi, đa số còn rất trong trắng từ nơi xa đến xông đất thật may mắn làm sao. Chúc cho người dân thị trấn, nhất là những gia đình Việt kiều có một năm bình yên, hạnh phúc, làm ăn phát đạt.

Trời vừa hửng sáng, phía xa xa sương mờ mờ đã thấy thấp thoáng người qua lại, không gian phía thị trấn dần dần náo động hẳn lên. Cả đơn vị hành quân vượt qua con đường nhựa đi sâu vào rừng le, cành lá um tùm, phủ kín sát đầu.

Mọi người nghỉ lại nơi đây, chờ trời tối lại lên ca nô xuôi dòng Mê Công về khu vực thị trấn Krache.

*
*   *

Sáng ngày 2 Tết Âm lịch, chúng tôi đổ quân lên bờ, thuộc  khu vực Xuông, Chup, có con lộ 7 bắt nguồn bờ sông Mê Công, xuyên qua rừng cao su bạt ngàn, mênh mông, nối về con lộ 22 ở tỉnh Tây Ninh, Việt Nam.

Tán cây xanh của những cây cao su to lớn che kín trên đầu, ngăn cản sự rình mò, lùng sục liên tục của những máy bay trinh sát  lượn trên trời. Giờ đây chúng tôi được hành quân vào ban ngày.

Trước lúc cả đơn vị lên đường hành quân, Lượng vẫn lên cơn sốt rét, không thể đi theo cùng đoàn được. Tôi được anh Trọng phân công ở lại chăm sóc cậu ta, chờ đến chiều cùng hành quân với hai cán bộ Sư đoàn 5, các anh rất quen thuộc tuyến đường mà đơn vị tôi sẽ đi qua.

Trong rừng cao su bên cạnh thị trấn Đầm Be, có rất nhiều xe tăng M41, M113, xe vận tải quân sự do Mỹ sản xuất nằm chỏng chơ, la liệt rải rác khắp nơi. Đây là dấu tích còn lại của những chiến công quân giải phóng với quân đội Việt Nam Cộng hoà vào năm 1970, trong trận chiến đấu mang tên "Trận càn Đông Dương". Nhằm đẩy các cơ quan của Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra khỏi vùng biên giới và tuyến vành đai chiến lược của ta trên đất Cămpuchia.

*
*    *

Trời về đêm, bốn người chúng tôi tạt vào giữa rừng cao su để nghỉ. Tôi vừa đặt ba lô xuống, đã thấy từng đàn muỗi dày đặc ở đâu bay đến tấn công. Muỗi nhiều đến mức chỉ cần lấy tay gạt qua là vơ được cả nắm.

Võng nằm không thể mắc được vì khoảng cách giữa hai cây cao su quá xa. Muỗi đốt quá nhiều, tôi nhớ ngay lọ dầu chống muỗi của Trung Quốc mang theo vội vàng đem ra sử dụng.

Khi vừa xoa nhẹ một lớp dầu mỏng trên người, tuyệt nhiên không có một con muỗi nào lảng vảng tới nữa, lọ dầu quá hiệu nghiệm. Đêm đó, cả bốn người được một giấc ngủ ngon lành trên lớp lá cao su khô, dày phủ kín mặt đất.

Trời vừa sáng, chúng tôi tiếp tục chặng đường hành quân cuốc bộ tiếp theo. Xa xa, phía trước mặt, tôi nhìn thấy thấp thoáng có mái nhà tôn. Hai anh đi cùng nói rằng: - Đấy là làng 12 Việt kiều cơ sở vững chắc của cách mạng, những người dân miền Bắc sống ở đây từ năm 1945 và 1954, họ làm nghề khai thác cao su.

Mọi người hăm hở tiến vào làng xin cơm. Ra đón chúng tôi là một ông già ngoài 60 tuổi, tóc đã bạc trắng, da ngăm đen với cả một cuộc đời phiêu bạt kiếm sống giữa rừng đất đỏ cao su bạt ngàn trên đất khách quê người.

Xem ra các gia đình ở đây cũng chẳng sung túc gì, nếu như không nói là còn nghèo. Ông vui vẻ rất hào hứng mời chúng tôi vào nhà. Cũng chỉ một lúc sau đó, mọi người trong làng tập trung rất đông đến ngôi nhà nhỏ bé này, để thăm hỏi và trò chuyện với  những người lính vừa từ miền Bắc hậu phương vào. Họ muốn biết về cuộc sống của người thân nơi quê nhà xa xôi, mà chưa một lần được trở về thăm.

Trước sự tập trung đông đủ của những người dân trong làng, ông già đã giải thích:

- Các con biết không? nếu như những ngày thường các cháu gái mười chín, đôi mươi ở đây rất khó gặp, vì còn phải đi vận chuyển lương thực, thực phẩm cho bộ đội ta. Nhưng hôm nay mới là ngày mùng 3 Tết nên mới được nghỉ ở nhà. Số các con vậy là hên rồi đó.

- Thế thanh niên trai trẻ đâu hết rồi hả ba? - Tôi hỏi ông.

- Tụi nó cũng đi giải phóng như các con đó.- Ông trả lời.

Mọi người hỏi thăm về quê quán chúng tôi và đời sống sinh hoạt của người dân miền Bắc. Còn những cư dân ở làng chủ yếu là người Thái Bình, Hải Dương, Hà Tây... các cô gái trẻ đứng vòng quanh, tíu tít tranh nhau kể về những công việc của mình.

- Anh Tư biết không (tôi là con thứ ba trong nhà) tụi em vận chuyển gạo bằng chiếc xe đạp còn dựng ở đó. - Một cô lên tiếng.

 Tôi nhìn ra thì thấy một chiếc xe đạp trần trụi, không phanh, không có chắn bùn dựng bên hè nhà đối diện.

- Những chiếc xe đạp như vậy mới chịu được đường đất đỏ bazan lầy lội, trơn tuột trong mùa mưa. Tụi em chở cả bao gạo đầy 1 tạ, vượt băng qua những con dốc mà các anh vừa đi qua đó.

Trên con lộ 7 có đoạn đường đi tuy không dựng đứng như những con dốc ở dải Trường Sơn, nhưng nó thoai thoải quá dài. Nếu không có sức khoẻ để guồng chân đạp mạnh, liên tục mà chỉ dừng một tý thôi, thì cả người và gạo, xe đều trôi ngược xuống dốc. Tôi thật sự sửng sốt và bái phục những cô gái còn trẻ và nhỏ bé này.

Đến chiều, chúng tôi đi qua làng 54 cũng như làng 12 là những nơi người Việt mình sinh sống, cạo mủ cao su trên đất Cămpuchia nằm bên lộ 7. Gần tối thì đuổi kịp anh em trong đơn vị.

 

19-2-1972 (tức ngày 4 Tết âm lịch)

Cả đơn vị tôi tiếp tục hành quân dọc theo con lộ 7. Đến quá trưa, chúng tôi sẽ về hướng Nam theo con đường đất đỏ của rừng già. Đi về hướng thị trấn Đôn Tây Cămpuchia.

Dọc hai bên đường là những xác xe tăng địch bị bộ đội ta bắn cháy trong trận càn năm 1970 của quân đội Việt Nam Cộng hoà nằm rải rác, khi chúng định hòng đánh úp, tiêu diệt các cơ quan chỉ huy đầu não của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Nơi đây được gọi là cứ Chính phủ, nằm giữa rừng già dưới những tán cây cổ thụ. Thấp thoáng hai bên con đường nhỏ chúng tôi đang đi, là những chiếc lán nhỏ tre, nứa xinh xinh. Mái của nó lợp bằng những lớp lá trung quân rất đẹp (trung quân thuộc họ dây leo, lá nhỏ như lá Lêkima nhưng rất dai, bền, đốt cháy không khói) nằm bên cạnh những chiếc hầm được xây dựng rất kiên cố.

Khoảng 7 giờ tối, cả đơn vị tập kết nghỉ ở cạnh bìa rừng già thị trấn Đôn Tây (Cămpuchia). Theo kế hoạch, đây là trạm cuối cùng của những đoàn giao quân từ miền Bắc vào.

Chưa kịp hạ ba lô xuống để triển khai mắc võng, chúng tôi nhận được lệnh, phải khẩn cấp hành quân di chuyển sang địa điểm mới, đề phòng máy bay B52 của địch có khả năng ném bom tại đây, ngay trong đêm nay.

Rất nhanh chóng, tất cả mọi người khoác vội ba lô súng đạn lao ra mặt đường đất cát nằm ngoài rừng. Đi dọc theo con lộ theo hướng nam khoảng 500 mét gặp một chiếc cầu sắt. Đây được chọn làm vị trí điểm mốc, để đơn vị dừng lại kiểm tra quân số, thu quân. Sau đó mới tiếp tục hành quân di chuyển sang khu rừng khác trú quân.

Khoảng 11 giờ đêm, khi đang còn trong giấc ngủ say, chợt có tiếng ai hô: "Có máy bay B52 rải bom!" Chúng tôi bất ngờ bừng tỉnh, vội lăn mình từ trên võng rơi xuống đất.

Bầu trời đang yên lành, bỗng nhiên rin rít, âm thanh nghe rất rùng rợn ma quái, như cơn bão lớn đổ về. Tiếp theo đó là từng đợt ánh chớp loé sáng lên giật liên hồi. Mặt đất ầm ầm rung chuyển, kéo dài phải hơn 10 phút rồi tạm nghỉ.

Một lúc sau, chúng tôi mới trấn tĩnh lại và xác định được vị trí máy bay B52 vừa rải bom xuống khu rừng bên cạnh, mà trước đó đã định dừng chân để nghỉ qua đêm. Cả đơn vị tôi ai nấy đều hú vía về sự may mắn sống sót của mình.

Ở cánh rừng bên này, chúng tôi vẫn nằm yên tại chỗ, phải chờ bọn địch ném bom đợt 3 kết thúc, lúc ấy mới an toàn được (thông thường máy bay B52 rải thảm vào một vị trí 3 lần, mỗi lần cách nhau 10 đến 15 phút).

Gần sáng, tôi được biết: Đêm hôm qua tiểu đoàn 7 có hai đại đội do không nhận được lệnh rút ra ngoài kịp thời nên phải hứng chịu 3 đợt bom, số người bị thương vong rất nhiều. Có hầm  7 người ở dưới đó đều hy sinh cả.

Đây là tổn thất đầu tiên rất lớn của trung đoàn 271 khi vừa đặt chân đến mảnh đất chiến trường B2 ác liệt này.

 

22-2-1972

Sáng nay tất cả anh em trong tiểu đoàn 5 chúng tôi được thông báo: Mọi người trong đại đội sẽ chia tay nhau để bổ sung về đơn vị mới. Những giờ phút bùi ngùi lưu luyến sao thân thương gắn bó lạ thường.

Đã 14 tháng trôi qua, chúng tôi mỗi người một quê đã cùng sống, huấn luyện rồi hành quân trên đường đi vào chiến trường với nhau, biết bao nhiêu khó khăn, vui, buồn, hờn giận luôn có mặt bên nhau chia sẻ.

Nhớ ngày tháng huấn luyện trên đất Bắc. Với các bài xạ kích bắn súng, lăn lê bò toài, những động tác kỹ thuật, bài chiến thuật và các trò láu cá trong tập luyện của từng đứa. Tất cả chúng tôi đều nhớ, không thể nào quên được.

Rồi những ngày hành quân vượt dải Trường Sơn hùng vĩ, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo và viên thuốc cuối cùng, ngụm nước cuối cùng cho nhau. Đến những lần cáng nhau vượt qua những con dốc cao dựng đứng vun vút, trơn tuồn tuột. Đã có mấy lần, cáng và người suýt nữa kéo theo nhau rơi xuống vực sâu thăm thẳm phía dưới. Giờ đây, ngồi điểm lại, tất cả chúng tôi đã có mặt đông đủ trên mảnh đất B2 này không thiếu một ai.

Rồi đây, trong nhóm chúng tôi: Hồng, Nam, Thìn, Sơn, Lượng, anh Trọng… và tất cả các bạn đang ngồi quây quần ở đây ai sẽ về cùng một đơn vị với tôi? Ai sẽ phải rời xa để sang đơn vị khác? Và ai sẽ còn, sẽ mất? Ai sẽ được trở về miền Bắc thân yêu?

Bữa cơm tối chia tay cuối cùng, tất cả mọi người trong đại đội đều buồn rười rượi, các món ăn hôm nay, thật ra có khấm khá hơn mọi ngày. Nhưng chả ai buồn động đũa, tuy trong bụng đang rất đói. Ai cũng cố dành cho bạn mình những món thức ăn ngon nhất và động viên an ủi nhau. Hẹn gặp lại trong thời gian tới ngắn nhất.

Giờ chia tay để mọi người trở về đơn vị mới đã đến, chúng tôi ôm chặt lấy nhau nghẹn ngào lưu luyến. Tiếng ai đó bật khóc khi được nghe tên mình đi về đơn vị mới, không có bạn đi cùng.

Những tiếng chào, gọi nhau í ới. Những lời chúc mong điều tốt lành, bình an, nguyên vẹn được trở về quê nhà. Tất cả, tất cả tình cảm của mọi người đều dành cho cuộc chia ly, làm náo động cả một khu rừng mà trước đó vẫn còn yên tĩnh.

Những người bạn thân nhất của tôi: Trần Ngọc Nam và anh Trần Kim Trọng về (C2 D9) đại đội 2 tiểu đoàn 9. Trần Văn Hồng về tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 7 (D7). Nguyễn Văn Lượng về đơn vị thiết giáp. Còn phần lớn các bạn bè đều bổ sung về các tiểu đoàn 7, 8, 9 và các đại đội trực thuộc của trung đoàn bộ binh 271.

Chỉ có các bạn Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Tiếu, Nguyễn Văn Thìn, Nguyễn Văn Mão, Phan Văn Định, Nguyễn Văn Tại, cùng về đại đội 3 tiểu đoàn 8 (C3 D8) với tôi.

Dưới ánh trăng non đêm mùng bảy Tết mờ mờ, nhạt nhạt, chúng tôi chỉ kịp ôm nhau lưu luyến, rồi vội vàng buông ra chạy về đơn vị mới. Khi chia tay, tôi chưa kịp nói gì với Hồng, Nam và anh Trọng và cũng chẳng nhìn được rõ mặt mọi người trong thời điểm ấy như thế nào? Rồi đây, chúng tôi còn có điều kiện gặp nhau nữa không? Hay đây là lần chia tay cuối cùng. Đầu óc tôi rối tung lên, không thế nhớ nổi một điều gì.

- Các bạn về đơn vị mới mạnh khoẻ bình an nhé, nhớ tìm mọi cách liên lạc với mình.

 Tôi quay đầu lại hét lên, và chạy nhanh về phía đoàn quân của đơn vị mới.

 

Vào trận

 

Khi về đến Ban chỉ huy đại đội 3, tôi được bổ sung làm liên lạc, còn các bạn cùng đi với tôi về trung đội 1, 2, 3 và tiểu đội hoả lực A10.

Trong đại đội chúng tôi có anh Hà Văn Thái là đại đội trưởng, anh Trần Đức Căn chính trị viên trưởng, anh Nguyễn Tiến Mùi và anh Nguyễn Văn Thụ - Đại đội phó và chính trị viên phó cũng vừa từ Miền (Bộ tư lệnh miền Đông Nam Bộ) bổ sung về đơn vị sáng nay. Anh Nguyễn Quốc Sự, văn thư quân khí, anh Trần Đức Huyên y tá, Anh Nguyễn Văn Trữ quản lý, anh Nguyễn Văn Tài nuôi quân. Còn Trần Xuân Coỏng làm nhiệm vụ liên lạc như tôi.

Được về sống chiến đấu với một tập thể mới, có các anh đều lớn tuổi là những chỉ huy già dặn, từng trải. Mới đầu như vậy, đã gây cho tôi ấn tượng rất tốt về các anh, để yên tâm, vững tin hơn khi được nhận nhiệm vụ mới. Nhất là tình cảm chân thành, cởi mở, chan hoà của các anh dành cho chúng tôi khi về cùng sống, chiến đấu trong đại gia đình đại đội 3, Tiểu đoàn 8 anh hùng.

 

23-2-1972

Cả đơn vị tôi tiếp tục hành quân về khu vực rừng chuối Ôrăngâu của Cămpuchia. Nơi đây, người dân trồng chuối rất nhiều, bao quanh bìa rừng cao su mênh mông, rộng lớn.

Những đêm yên tĩnh nằm võng cạnh nhau, các anh đã kể cho tôi nghe bao nhiêu chuyện trong cuộc sống đời thường đã từng trải nghiệm, cả những chuyện thầm kín riêng tư.

Còn tôi, chỉ là cậu bé mới vừa học xong phổ thông đã lên đường nhập ngũ, để rồi bây giờ đang có mặt ở đây. Chuyện của mình chả có gì để kể cho mọi người nghe cả. Có chăng, chỉ những lần trộm rau, sắn trên đường Trường Sơn còn ấn tượng. ý định ban đầu là giữ kín, nhưng do các anh thúc ép quá nhiều, nên tôi đành phải "khai" ra.

Đó là một lần khi chúng tôi được nghỉ một ngày ở trạm giao liên, lúc vừa hạ chiếc ba lô cồng kềnh sau lưng xuống đất để tìm vị trí mắc võng, tôi nhìn thấy thân cây lớn bên cạnh, có ai đã viết bằng than nguệch ngoạc lên đó: "Cách đây 3km hướng đi vào có bãi B52". "Bãi B52" là tiếng lóng của "bãi sắn" mà chúng tôi được các chiến sĩ đi ra Bắc truyền lại.

Ngay trong chiều hôm đó, tôi và Hồng, hai đứa rủ nhau đi tìm sắn (củ mỳ) mang về, cùng anh em giải quyết nạn đói lâu nay.

Còn cậu Nam ở nhà có nhiệm vụ đào cây "sâm đất" (loại cây giống như cây Thiết mộc lan) mọc rải rác khắp trong rừng, lấy củ mang về nấu nước để uống. Nghe mọi người nói: Nước sâm này uống vào rất bổ cho cơ thể và còn có tác dụng "Cải lão hoàn đồng" nữa chứ.

Cánh lính chúng tôi phần lớn còn "đồng" như thế này, bây giờ đang phải đi vào nơi hòn tên mũi đạn, không biết có còn may mắn được "lão" hay không để mà "cải"?

Nhưng dù sao, đây cũng là niềm hy vọng, là nguồn động viên an ủi chúng tôi trong những lúc đang sống khó khăn, gian nan, vất vả này.

Tôi và Hồng mò mẫm theo tuyến đường mòn giao liên đi về phía trước rất xa, trời đã về chiều mà vẫn chưa phát hiện ra nơi đâu là "bãi sắn".

Đã có lúc chúng tôi nản chí định bỏ cuộc quay trở về. Nhưng vì tiếc công sức mình đã đi đến đây, nên lại động viên nhau cố gắng đi thêm một đoạn nữa, để tìm nó bằng được.

Thật là may mắn, bên con đường mòn đang đi có một lối mòn nhỏ, tôi đoán đây là vào đúng nơi "bãi sắn". Chỉ cách đó độ khoảng 100 mét thôi, một nương sắn khá rộng hiện ra.

Không kịp suy nghĩ nhiều, hai đứa xông đến cùng nhau nhổ gốc sắn đầy củ mập to, nhét đầy sắn vào chiếc quần dài được cột chặt hai đầu ống lại. Nhanh chóng khoác vội trên vai tìm đường trở về.

Trong lòng chúng tôi thật sự vui mừng, phấn khích với chiến công vừa đạt được. Tôi và Hồng hứng chí nghêu ngao hát bất cứ đoạn lời bài hát nào mà mình còn nhớ, chả cần biết tên bài hát đó là gì.

Trời đã về tối, Hồng tạt sang mép đường nhặt mấy đoạn thân cây nứa khô làm đuốc đốt sáng lên để soi đường về. Khi đến cạnh một đơn vị đang đóng quân bất ngờ, phía trước và sau hai đứa tôi có tiếng súng nổ đoàng, đoàng rất gần. Tiếp đó là tiếng hô:

- Đứng lại, không được chạy!

Hồng đang cầm đuốc cháy sáng đi trước bị bắt ngay tại trận. Còn tôi nhanh chóng nghiêng mình cùng với hai ống quần sắn trên vai, lăn xuống vệ đường nằm yên không động đậy, bên cạnh một chiếc lán nhỏ.

Vừa nói đến đây, mọi người ngồi xung quanh nghe đã cười phá lên giơ tay chỉ chỉ, trỏ trỏ vào anh Sự "râu" (anh Sự có bộ râu quai nón). Tôi dừng lại vì quá ngạc nhiên, thắc mắc. Không hiểu các anh đang cười về điều gì? nhưng không một ai trả lời giải thích cho, vẫn hối thúc tôi kể tiếp.

-Bắt được một thằng rồi, còn một thằng nữa! - Tiếng của cán bộ binh trạm vang lên.  

Mọi người đốt đuốc soi tìm, tôi nằm im không cựa quậy mặc dù dưới bụng mình đầy cành khô đâm vào bụng, đùi đau điếng.

 Hồng tìm mọi cách van xin được tha và trình bày hoàn cảnh đói khổ của mình. Phải một lúc sau đó cậu ta mới được thả.

Không gian lại trở về yên lặng, chỉ còn lại những tiếng xì xào, bàn tán xa xa. Tôi nghĩ đã đến lúc bình yên, mọi người rút hết vào lán trại rồi. Tranh thủ thời cơ này, vội nghiêng mình để tè, vì bụng dưới căng phồng do đã nhịn quá lâu. Thật không ngờ phía sát người, cành củi khô gãy kêu răng rắc.

- Còn đây một thằng nữa!

Một tiếng hô của ai đó đứng rất gần, do trời quá tối nên tôi không thể phát hiện được.

Mới nghe đến đây hầu như tất cả mọi người đang ngồi bao quanh đều phá lên cười rũ rượi. Tôi vội dừng lại để tìm hiểu điều gì đã xảy ra, nhưng các anh vẫn thúc giục kể tiếp.

Lúc này đây tôi mới thật sự hoảng sợ, mồ hôi trong người tuôn ra, mặc dù khí hậu về đêm ở đỉnh Trường Sơn mùa này khá lạnh. Biết mình không thể trốn thoát được, nên vội vàng đứng dậy xin cán bộ binh trạm tha cho. Thế nhưng, các anh vẫn kiên quyết đưa tôi về xử lý.

Vừa nghe có giọng nói xứ Nghệ, biết là gặp được người đồng hương, như chết đuối vớ được phao, tôi nhẹ nhàng nói:

- Anh là người Nghệ An phải không? Em người Nghi Lộc đây!

Như đã đánh trúng vào điểm yếu, anh nhẹ nhàng trả lời :

- Thế em là người Nghi Lộc à? ở xã nào đấy? Anh là người Thanh Chương đây.

- Em người Nghi Thịnh, thôi anh tha để được mang sắn về, chứ chúng em đói lắm! - Tôi nài nỉ trả lời.

Tôi sung sướng như chết đuối vớ được cọc, vác một ống quần sắn trên vai, vội vàng chạy thật nhanh về nơi những người bạn của mình đang nóng lòng ngóng đợi.

Mọi người ngồi xung quanh nghe tôi kể chuyện đã cười vang, anh Thái, anh Căn cười tủm tỉm bỏ ra ngoài. Anh Tài là người bộc trực nói:

- Thế có biết trạm trưởng đêm hôm đó bắt em là ai không?

- Thực ra lúc đó trời tối quá không nhìn rõ, nhưng qua ánh đuốc em thấy hình như mặt ông ấy có râu thì phải?

Sau câu trả lời của tôi, mọi người càng cười phá lên.

Vẫn anh Tài ôn tồn nói:

- Trạm trưởng hôm đó đang ngồi trước mặt em đấy!

Quay sang nhìn anh Sự râu đang cười tít cả hai mắt. Tôi thật sự ngạc nhiên hơn, không hiểu trong chuyện này lại có điều gì liên quan ở đây.

Cũng không phải chờ đợi lâu, các anh đã kể hết mọi điều xảy ra. Đây cũng là duyên phận đến với chúng tôi ngay từ ngày đó, để rồi gắn bó với nhau trong cuộc sống chiến đấu sau này.

… Từ nơi đóng quân, tôi và Hồng đi đến bãi sắn và đi qua nơi các anh nghỉ. Biết thế nào, chiều tối hai đứa sẽ về qua đây. Nên đã tổ chức "trấn lột sắn” của chúng tôi mang về.

Anh Sự có bộ râu quai nón, nhìn già dặn hơn đóng vai trạm trưởng, còn những người khác đóng vai nhân viên. Riêng anh Thái và anh Căn đứng ngoài cuộc. Và sự việc đã diễn ra như dự đoán ban đầu của các anh.

Còn người lấy của tôi một ống quần sắn, đấy là anh Nguyễn Văn Truyền tiểu đội phó tiểu đội hoả lực (A10).

Chúng tôi đóng quân nghỉ 1 tháng tại rừng chuối Ôrăngâu, với nhiệm vụ học chính trị, ôn luyện các bài chiến thuật, kỹ thuật để chuẩn bị cho một trận đánh lớn vào cứ điểm quân đội Sài Gòn trên đất Việt Nam, nằm trong chiến dịch lớn của toàn miền.

 

30-3-1972

Khoảng 4 giờ chiều, cả trung đoàn 271 thực sự rút khỏi rừng chuối để hành quân về Việt Nam. Mục tiêu được Bộ tư lệnh Miền giao cho trung đoàn đánh chiếm căn cứ Thiện Ngôn - Xa Mát, giải phóng khu vực đường 22, thuộc phía tây tỉnh Tây Ninh, sát với biên giới Việt Nam - Cămpuchia.

Đường ra tuyến trước vượt qua bao nhiêu đầm lầy, đầy bùn, nhão nhoẹt quánh đặc, những lúc đó, dép dưới chân không thể đi được đành phải tháo ra. Chúng tôi phải dò dẫm từng bước một, trên vai  mang ba lô cồng kềnh, gạo, súng đạn rất nặng.

Riêng đối với từng tổ 3 người ở các tiểu đội, phải thay nhau mang vác thêm một bộ nan tre đã kết liền với nhau to tướng, nặng trịch để đến khi đã áp sát đồn địch đào hầm xây công sự, còn có cái để phủ đất che chắn bên trên chống đỡ bom đạn và pháo chụp của địch nổ trên đầu (loại đạn pháo khi ở cách mặt đất 5 đến 10 mét thì nổ). Khổ nhất là lúc hành quân trong đầm lầy, gặp phải mô đất cứng nhô lên, chân dẫm phải trơn tuồn tuột rất dễ dàng đo ván xuống mặt sình đầy bùn nhão nhoẹt.

Để đảm bảo an toàn và bí mật, mọi hoạt động di chuyển quân của đơn vị tôi, lúc này được chuyển vào ban đêm vì ban ngày trên bầu trời liên tục có các máy bay trinh sát L19, OV-10 rình mò lùng sục bộ đội ta. Chỉ cần ở dưới mặt đất có một biểu hiện bất thường, là ngay sau đó máy bay trinh sát bắn một phát pháo hiệu chỉ điểm xuống thì độ 5 phút sau, một đàn máy bay ném bom A37 từ đâu đến, ném bom ồ ạt xuống đó ngay.

Ngoài ra, dưới mặt đất liên tục có các đơn vị biệt kích, thám báo quân đội Việt Nam Cộng hoà. Chúng do thám, rình mò, phát hiện vị trí hoạt động của quân ta, sau đó gọi pháo bầy dội đến tức thì. Đạn nổ liên hồi theo từng đợt dài, mà chúng tôi gọi là: "Dàn nhạc Tân Tây Lan" từ các vị trí Cà Tum, Xa Mát, Tân Biên, Lò Gò…

Cũng chính vì loại đạn pháo này, riêng đại đội tôi đã có hai người ngã xuống đang lúc trên đường hành quân ra tuyến trước. Đó là anh Trần Đằng, hy sinh chiều ngày 30-3-1972 quê ở Nga Trương (Nga Sơn, Thanh Hoá) và anh Trương Xuân Quyết, hy sinh vào ngày 1-4-1972 quê ở Lạc Vân (Nho Quan, Ninh Bình).

Một tổn thất rất lớn đã đến với chúng tôi, khi người chỉ huy cao nhất của trung đoàn - Trung đoàn trưởng Lê Ổn(1) đã không tham dự chỉ huy trận chiến mở màn được. Ông đã bị một quả đạn pháo địch nổ bên cạnh, cướp đi một cánh tay, trong lúc đang trên đường ra tuyến trước cùng với một số cán bộ của buổi chiều ngày 30 tháng 3.

Trong lúc đó, thời gian nổ súng đồng loạt vào các mục tiêu địch của các đơn vị chúng tôi còn lại chỉ tính theo từng giờ, không còn có thời gian để chuẩn bị. Anh Phan Văn Cần đang là trung đoàn phó lên thay anh Lê ổn, đảm nhiệm chức trung đoàn trưởng chỉ huy trung đoàn chiến đấu.

 

2-4-1972

Khoảng 1 giờ 30 đêm, đại đội 3 chúng tôi tiếp cận ở bìa ngoài rừng, cạnh bàu Statung (mà cánh lính chúng tôi gọi là bàu Lung tung) đã cạn khô nước, chỉ còn trơ đất nứt nẻ.

Phía trước mặt là căn cứ Xa Mát của quân đội Việt Nam Cộng hoà đang chiếm đóng. Nơi chúng tôi đang đào hầm xây công sự là những bãi cỏ tranh cao đến ngực, nằm cách bìa rừng khoảng 100 mét.

Công sự vừa xây dựng có anh Thái, Thụ cậu Tịch chiến sĩ thông tin vô tuyến 2W và tôi chốt giữ, cách cửa hầm của các anh Căn và  Mùi, do Coỏng đào độ 5 đến 7 mét.

Khoảng 7 giờ sáng, lúc đang còn nằm ngủ mơ màng trên mặt đất cạnh cửa công sự, tôi giật mình tỉnh dậy, khi nghe tiếng súng của quân đội Việt Nam Cộng hoà ở bên kia bàu cạn Statung bắn vào. Trên đầu, đạn nhọn từng tràng vút qua nghe chiu chiu, ríu ríu... tiện đứt ngang thân những ngọn cây cỏ tranh đổ gục xuống.

Biết đối phương đã nổ súng tấn công, tôi nhẹ nhàng lăn mình xuống cửa công sự, thò đầu lên quan sát. Một tốp lính tuần tiễu đi xung quanh căn cứ Xa Mát bắn bừa về nơi chúng tôi đang chốt ở đây. Dự đoán cả đại đội mình chưa bị lộ, anh Thái đã ra lệnh cho các trung đội: Hãy đợi địch kéo quân ra ngoài cứ điểm và để nó đến thật gần mới được nổ súng tiêu diệt.

Đúng như anh phán đoán, phía bên trái chúng tôi là con đường 22. Nơi đó có căn cứ Thiện Ngôn, cả trung đoàn đã nổ súng.

Một đại đội biệt kích bỏ chạy cắt qua cạnh sườn của đại đội tôi đang phục sẵn. Khi tốp lính đi đầu cách chốt tiền tiêu của trung đội 1 độ khoảng 5 mét. Bộ đội ta bất ngờ đồng loạt siết cò.

Quân địch gục đổ hàng loạt, chỉ có năm, sáu người sống sót hoảng loạn chạy vượt qua trảng trống, chui sâu vào trong rừng phía bên kia. Tiểu đội hoả lực A10 do anh Thiết chỉ huy đã dùng súng đại liên, trung liên, cối 60 bắn áp đảo lực lượng đối phương đang bỏ chạy, để lại trên mặt trảng rất nhiều người chết và bị thương.

Như vậy, trận chiến nổ súng đầu tiên của đại đội 3, tiểu đoàn 8, trung đoàn 271 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, đã giành được thắng lợi rực rỡ, góp vào tiếng súng tấn công mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ "chắc thắng" của quân ta vào mùa xuân năm 1972.

Niềm vui hân hoan phấn khởi của cán bộ chiến sĩ trong đơn vị tôi không được kéo dài, vì ngay sau đó, đạn pháo của các cứ điểm địch ở Cà Tum, Lò Gò, Tân Biên tới tấp dội vào trận địa.

 Pháo chụp, pháo khoan, pháo sát thương thi nhau nổ inh tai, đất cát khói thuốc súng bay mù mịt khét lẹt. Tôi và mọi người chui sâu trong hầm trú ẩn chờ cho đến khi ở phía trên ngừng tiếng nổ, mới thò đầu lên quan sát phía trước.

Một tốp lính lại đang thập thò về mép trảng bên cạnh, tôi nổ súng, khẩu tiểu liên AK "pằng, pằng" rung lên. Bọn chúng hoảng sợ lùi sâu về phía trong rừng không dám đi ra ngoài nữa.

Bộ binh và pháo binh địch đành chịu bó tay trước sức tấn công của chúng tôi. Chúng thay đổi chiến thuật, cầu cứu máy bay đến ném bom vào đội hình đang chốt giữ của đại đội tôi.

Những chiếc A37 màu xám xịt, loang lổ trên bầu trời, trong phút chốc lao đến, bổ nhào, cắt những quả bom đen thui, tròn xoay lao thẳng xuống đầu chúng tôi.

Vừa thụt đầu xuống, và chui sâu vào trong, căn hầm bỗng nhiên rung lên, người tôi đung đưa chao đảo, kèm theo một tiếng "ục" ở phía sau. Nhìn lên cửa hầm, bầu trời đang sáng của ánh nắng chói chang vào giữa trưa cuối mùa khô này, bất ngờ trời tối đổ sầm lại, rồi một lúc sau đó từng tảng đất đá khá to, tiếp nối theo là những hòn đất nhỏ hơn cứ uỳnh uỵch, uỳnh uỵch rơi xuống.

Cát bụi tan dần, bầu trời từ từ sáng loá lên, sau đó lại trở về với cái nắng nóng gắt ban đầu. Và cứ thế, máy bay tiếp tục ném bom xuống đội hình đại đội tôi kéo dài khoảng 30 phút.Vừa  ngừng tiếng nổ, tôi vội thò đầu lên, lao nhanh lên trên hầm quan sát các vị trí xung quanh: Bãi cỏ tranh đang bốc cháy ngùn ngụt, chúng tôi chỉ kịp vớ lấy những cành cây hoặc những chiếc xẻng nhỏ, dồn hết sức đập vào những vùng đang còn hừng hực lửa, không cho nó lan rộng ra.

Cảnh vật xung quanh tôi giờ đây tan hoang, nhất là cánh rừng rậm xanh um tùm phía sau, trống trơ từng khoảng, cây cối gục đổ ngổn ngang.

Bất ngờ, một chùm đạn của quân địch ở phía xa bắn đến, vút sạt qua tai nghe chíu chíu lạnh cả người. Tôi và mọi người lao vội xuống công sự ngay sát cạnh.

Đứng ở dưới hầm, tôi thò đầu ra nhìn sang phía bên kia trảng. Một tốp lính đối phương trong căn cứ Xa Mát đang thập thò, nổ súng về hướng chúng tôi. Để tiết kiệm đạn, từ nơi đây tôi điểm xạ từng viên một về phía địch. Xung quanh mình, tất cả anh em trong đại đội đều tập trung dõi theo phía trước, chờ đợi những mục tiêu xuất hiện là nổ súng ngay.

Những quả đạn cối 60 của tiểu đội hoả lực A10 thỉnh thoảng lại điểm một viên. Nghe tiếng vang "chóc", "uỳnh" đạn nổ ngay trên lô cốt hoặc các ụ súng đại liên của địch.  Đất, đá cát bụi nơi đó bay lên tung toé, rồi để lại một cột khói đen ngòm.

Quân lính Sài Gòn ở trong cứ điểm hoàn toàn bị đơn vị tôi khống chế, nằm im không dám thò đầu ra ngoài. Chỉ có đạn pháo ở các cứ điểm xung quanh, từng đợt, từng đợt đều đặn dội đến.

Cơn khát giữa cái nắng nóng gần cuối mùa khô như thiêu như đốt đang liên tục hành hạ chúng tôi. Phía trên hầm, không có một bóng cây, chỉ lèo tèo mấy khóm cỏ tranh còn sót lại sau đám cháy mà tôi đã cố gắng dập tắt.

Chui xuống dưới hầm, cái nóng vẫn hầm hập, ngột ngạt càng khó chịu hơn. Mồ hôi trong người tuôn ra ướt bết áo quần. Cơn khát cháy khô cả họng, tôi có cảm giác  ống thực quản của mình nghèn nghẹn, không thể nào điều khiển đưa đẩy được. Trong miệng khô cứng, không còn chút nước bọt nào, hai môi cứng rộp, cả người nôn nao, làm nhiều lúc quên hết những hiểm nguy bom, đạn đang chờ mình ở phía trước. Tất cả mọi suy nghĩ trong đầu lúc này dồn lại chỉ có "nước ".

Đây là lần đầu ra quân, nên anh em chúng tôi chưa có kinh nghiệm về tiết kiệm nước. Bởi vậy, mới đến quá trưa một chút, trong các bình tông mang theo đã khô ráo từ lâu, do sử dụng quá nhiều nước vào túi cơm sấy, chiến lợi phẩm thu được của tốp lính đối phương sáng nay.

Tôi thò đầu lên khỏi công sự, giơ tay ra hiệu mọi người về cơn khát và đang rất cần có "nước", nhưng cả đơn vị đều chịu chung cảnh ngộ này.

Trời đã bắt đầu tối, anh Thái triệu tập các trung đội trưởng về Ban chỉ huy hội ý và rút kinh nghiệm của cuộc chiến đấu trong ngày, đồng thời chờ anh Tài và nhóm nuôi quân ở phía sau tiếp tế cơm và nước cho chúng tôi.

Để kịp thời giải quyết cơn khát trước mắt cho bộ đội, tôi xin phép anh Thái được dẫn một số người đi lấy nước uống. Vì trước đó trong ngày, tôi đã quan sát phía bìa rừng bên kia trảng, nằm cạnh hàng rào đầu tiên của cứ điểm Xa Mát có một vũng nước nhỏ, bây giờ trời đã tối, có thể nhẹ nhàng vận động vượt qua trảng trống là tiếp cận được.

Được anh chấp nhận, tôi dẫn theo 3 người của 3 trung đội, mang theo túi phao bơi nilon và bình tông để đựng nước, cùng với khẩu súng lên đường ngay.

Để đề phòng bị phục kích, nhất là xung quanh đều có địch, nhóm chúng tôi hành tiến và lùi đều theo đội hình chữ A. Tôi và một người nữa đi đầu mũi giữa để quan sát phía trước và sau, còn hai người đi lùi lại một khoảng ngắn, đảm nhiệm quan sát về hai hướng hai bên.

Chúng tôi tiếp cận được vũng nước nhờ bầu trời đầy sao, những ánh sáng đó đã phản chiếu lên vũng nước một khoảng sáng trắng.

Chưa kịp lấy nước vào túi đựng, tôi vội vàng vục tay xuống làm một ngụm. Bỗng nhiên thấy trong miệng mình có cái gì ngọ nguậy, tôi vội phun ra ngoài. Té ra, trong vũng nước vừa vục uống, tụ tập rất nhiều con nòng nọc sinh sống.

Không thể kéo dài thời gian ở đây được, tôi vội vàng thúc giục anh em nhanh chóng rút về. Vừa rời khỏi đó độ 5 phút, một chiếc máy bay địch bất ngờ từ đâu lao đến, bắn từng chùm pháo sáng ngay trên đầu, sát cạnh cứ điểm Xa Mát. Cả một khoảng không gian bỗng nhiên sáng rực, soi rõ đến những con kiến đang bò dưới mặt đất.

Cả bốn đứa vội nằm im bất động trên mặt trảng trống trải, bằng phẳng không có một vật che chắn nào. Bất chợt nước dưới mặt đất thấm vào áo tôi lành lạnh dưới bụng. Tiếng người nằm cạnh la nhỏ:

- Nước trong túi nhựa của tôi bị vỡ rồi!

- Không sao! Hãy chờ pháo sáng tắt là chúng ta chạy nhanh về, ở đây còn 3 túi nước nữa cơ mà? - Tôi nghiêng đầu nói

Pháo sáng vừa tắt, bóng tối đột ngột phủ kín bầu trời và mặt đất. Chớp lấy cơ hội, tôi hô với mọi người vụt tiến trở về đơn vị.

Ở nhà, anh Thái và mọi người rất lo lắng, cứ ngỡ địch phát hiện và tiêu diệt chúng tôi rồi. Giờ đây, cả bốn đứa đã trở về đầy đủ, nguyên vẹn, còn mang được nước về cho mọi người cùng uống, giải quyết cơn khát cháy khô họng suốt một ngày phải chịu nắng nóng chói chang.

Cả đơn vị tôi ai nấy đều vui mừng, phấn khởi, nhất là qua một ngày chiến đấu ác liệt với quân đối phương, phải chịu bao nhiêu tấn bom đạn trên đầu. Tất cả mọi người đều bình an và có mặt đầy đủ, chỉ có riêng một mình anh Nguyễn Tiến Mùi đại đội phó bị thương ở mí mắt bên trái, trong lúc cùng với anh em trung đội 1, xung phong truy kích quân lính Sài Gòn đang bỏ chạy vào rừng.

Chúng tôi vui sướng ôm chầm lấy nhau, nước mắt chảy dài trên má bởi cái tình đồng đội, đồng chí quá đỗi gắn bó, yêu thương. Ở đây, tất cả mọi người đã vì nhau, sẵn sàng hy sinh che chở nhau trong từng thời điểm gay cấn ác liệt nhất.

Niềm vui càng được nhân lên, khi tổ nuôi quân do anh Tài phụ trách từ phía sau đã mang cơm còn nóng, lại có cả thịt hộp xào với nõn chuối rất ngon, phục vụ kịp thời cho chúng tôi, khi cơn đói còn đang hành hạ.

Lẽ ra các anh đã mang cơm nước đến đây sớm hơn bây giờ, nhưng ở nơi phía sau tổ nuôi quân cũng vất vả, ác liệt, hiểm nguy không kém. Có người đã mấy lần thoát chết do địch dội pháo đến nổ ngay sát cạnh, may còn kịp lao xuống công sự kế bên.

Khi vừa gặp được chúng tôi, anh Tài ôm lấy mọi người khóc nức nở. Anh sờ vào đầu và người tôi thấy vẫn còn nguyên vẹn, rồi ôm chặt lấy hôn vào má chùn chụt.

Tuy là nói ở phía sau, nhưng các anh luôn dõi theo mức độ ác liệt của trận chiến mà chúng tôi đang trực tiếp đối mặt với lực lượng hùng mạnh của quân đội Việt Nam Cộng hoà ở phía trước. Lúc đó, trong bụng mọi người luôn nóng như lửa đốt, lo lắng cho sự an nguy của đơn vị.

Nước mắt anh chảy giàn giụa, nhiều lần đã phải bật khóc thành tiếng, khi thấy bom đạn địch dội vào đội hình chốt giữ của đại đội mình quá nhiều và rất ác liệt. Ruột anh cứ bồn chồn lo nghĩ: Khi mang được cơm ra đó, có còn người để ăn nữa không?!

Giờ đây tất cả những tình cảm đồng đội thân thương dồn nén trong người đã vỡ bung ra khi được gặp lại anh em trong đơn vị mình khá còn nguyên vẹn. Anh sung sướng bật oà khóc hu hu, mặc dù lúc đó đã lớn tuổi rồi.

Đến giờ tổ nuôi quân rút về phía sau, để chuẩn bị cho bữa cơm ngày mai, đồng thời tổ chức cáng thương đưa anh Mùi đi điều trị. Còn chúng tôi vẫn ở lại chốt này. Các trung đội tổ chức bộ đội thay nhau canh gác, đề phòng địch tập kích vào trận địa.

Đêm nay, tiếng súng của ta và địch khá im lặng, thỉnh thoảng mới có vài loạt đạn pháo bắn cầm canh về phía khu rừng sau lưng chúng tôi. Cả không gian lại trở về tĩnh lặng, như không hề biết rằng: Trước đó đã có một ngày bom đạn pháo nổ inh tai, mặt đất bị xới tung lên ầm ầm rung chuyển. Đất đá, cây cối bay lên mù trời.

Rồi một đêm trôi qua, một ngày chiến đấu mới lại đến. Nhưng ngày hôm nay khác hẳn với ngày hôm qua nhiều. Địch ở trong chốt nằm im, pháo ở các cứ điểm xung quanh dội đến chúng tôi cũng ít hơn. Chiến dịch Nguyễn Huệ của quân ta đang nở rộ trên toàn miền Nam. Hoả lực địch giờ đây bị phân tán không được tập trung như trước nữa.

Chúng tôi ở ngoài cứ điểm Xa Mát, vẫn kiên trì bao vây đợi địch thò đầu ra. Quân ta hầu như đã làm chủ được trận địa. Phía trong cứ điểm, binh lính đối phương có dấu hiệu hoảng hốt rút quân.

Một cánh quân của tiểu đoàn khác trong trung đoàn 271 được lệnh tiếp quản cứ điểm Xa Mát. Còn tiểu đoàn 8 chúng tôi được lệnh chuẩn bị hành quân đi nhận mục tiêu mới. Đó là phục kích địch rút chạy trên con lộ 22 ở gần giữa hai cứ điểm: Thiện Ngôn - Tân Biên.

Khoảng 7 giờ tối, khi tổ nuôi quân anh Tài vừa mang cơm đến, cả đơn vị tổ chức ăn cơm tối gấp rút, sau đó nhanh chóng lên đường hành quân đến chiếm lĩnh vị trí mới.

Lộ 22 là con đường nhựa rộng, nối từ thị xã Tây Ninh, qua Tân Biên, Thiện Ngôn đến Xa Mát sang gặp con đường 7 của Cămpuchia.

Dọc hai bên đường, rừng cây rừng bị phát quang sâu khoảng 100 mét, chỉ có những cây lúp xúp cao đến đầu người phủ kín mặt đất, cách mép đường về hai bên độ 30 mét là khoảng đất trống trơ trọi chạy dài không có một bóng cây.

 Sau khi tiếp nhận mục tiêu, đại đội trưởng Hà Văn Thái bố trí đơn vị, chốt giữ trong khu rừng cây lúp xúp nằm ở phía Tây dọc con lộ 22. Vị trí đóng quân của trung đội 2 và ban chỉ huy đại đội cùng với tiểu đội hoả lực A10 ở giữa đội hình. Trung đội 3 nằm về phía thị trấn Tân Biên, còn trung đội 1 nằm ở phía Thiện Ngôn, để phục kích quân địch từ Thiện Ngôn rút ra, từ Tân Biên kéo về.

Trong trận đánh này, anh sử dụng chiến thuật: "Chặn đầu, khoá đuôi, vận động tấn công tiêu diệt gọn". Tức là khi quân địch hành quân trên đường 22, lúc tốp đi đầu đã đi vượt qua được hai trung đội và chạm đến tiểu đội cuối cùng của trung đội thứ 3, vào thời điểm đó, trung đội thứ 3 sẽ nổ súng phát hoả.

Quân địch bị ta đánh bất ngờ sẽ lùi dồn lại phía sau. Đồng thời lúc này trung đội ở đầu cũng nổ súng khoá đuôi, không cho bọn chúng thoát. Tiểu đội A10 và trung đội 2 sẽ phát huy hết sức mạnh hoả lực của mình bắn vào giữa đội hình địch. Chớp lấy thời cơ lúc chúng còn đang hoang mang chưa kịp phản ứng, trung đội 2 ở giữa cùng hai trung đội hai bên, đồng loạt xông lên, nổ súng tiêu diệt và bắt sống quân địch.

Đã có mấy ngày giáp mặt trực tiếp chiến đấu với lính đối phương, với chúng tôi ai nấy đều có một kinh nghiệm nhất định, trong chiến đấu đã có tự tin hơn, nên khi vừa chiếm lĩnh trận địa, mọi người đều nhanh chóng triển khai đào công sự, nguỵ trang kín đáo bình tĩnh đợi quân lính Sài Gòn kéo đến.

Độ khoảng 6 giờ 30 phút sáng, trời còn mờ mờ hơi sương, lúc cơn ngủ còn say, tôi giật mình tỉnh dậy khi nghe về phía chốt Thiện Ngôn vang lên một tiếng "rầm" của mìn định hướng Claymo (loại mìn do Mỹ chế tạo, hình chữ nhật uốn cong, kích thước độ khoảng 15 x 30 cm. Khi mìn phát nổ thì cả nghìn viên bi sắt bay thẳng ra phía trước để sát thương), kế theo đó là tiếng súng rẹt, rẹt, tiểu liên cực nhanh của địch. Tiếng pằng, pằng của súng tiểu liên AK quân ta vang lên.

Chỉ trong chớp mắt, tôi đã đứng dưới cửa công sự giương nòng súng tiểu liên AK lên mặt lộ và quan sát. Cả đại đội vẫn im lìm, kiên nhẫn chờ quân địch kéo đến chi viện.

 Nhưng sự yên tĩnh không được kéo dài, khi hàng loạt đạn pháo của các cứ điểm xung quanh, tập trung nhắm vào đội hình đóng quân của chúng tôi mà nã xuống. Những tiếng nổ inh tai, đất bụi mù trời. Tôi rút sâu vào trong hầm để tránh đạn. Pháo của chúng bắn kéo dài khoảng 30 phút thì ngừng.

Tôi và Coỏng được lệnh lao về các trung đội truyền lệnh của ban chỉ huy đại đội, đồng thời nhận báo cáo ở đấy về quân số bị thương vong để báo lại cho các anh xử lý.

Rất may trong đợt pháo đó, cả đơn vị tôi không có tổn thất nào. Chỉ có mấy chiếc nồi nấu cơm của trung đội 1 không kịp đem xuống hầm còn để ở trên mặt đất bị mảnh đạn xuyên thủng. Riêng đường dây điện thoại bị đứt nhiều, nên liên lạc giữa đại đội và tiểu đoàn bị gián đoạn. Tranh thủ quãng thời gian yên lặng này, các chiến sĩ thông tin đã xông ra nối dây thông mạch.

Khoảng 15 phút sau, trên bầu trời xuất hiện chiếc máy bay trinh sát OV-10 bay vè vè lùng sục chúng tôi. Bất ngờ, nó đảo mình chúi xuống bắn một viên pháo hiệu nổ "bùm" trên mặt lộ 22, để lại một cột khói trắng dựng lên.

Cảm nhận được sự nguy hiểm cận kề, tôi chui sâu vào hầm và nhìn lên qua cửa một khoảng trời nhỏ, những chiếc máy bay A37 từ đâu lao đến, đang thay nhau chúi đầu xuống trút bom vào đội hình của đại đội tôi.

Bom dội vào trận địa và vị trí xung quanh, những tiếng nổ nghe ù tai nhức óc. Mặt đất giật lên từng cơn, ầm ầm rung chuyển, trời đất tối đen mù mịt. Ngồi sâu trong hầm, ruột tôi và các anh cứ nóng như lửa đốt và lo nghĩ: Không biết sau trận bom này, mọi người trong đơn vị mình có qua được không?

Trận bom kéo dài độ 30 phút thì dừng hẳn, tôi và Coỏng lại được lệnh lao về các trung đội. Thật rất may mắn cho anh em chúng tôi, cũng như sau đợt pháo lần trước, qua đợt bom vừa rồi, cả đại đội 3 của tôi đều bình yên.

Khoảng 9 giờ sáng, anh Trần Quang Đăng, trung đội trưởng trung đội 3 báo về ban chỉ huy:

- Có một đại đội bộ binh địch cùng với xe tăng đi sau yểm trợ, đang từ hướng Tân Biên tiến về vị trí chốt giữ của đại đội.

Lệnh báo động được nhanh chóng phát ra toàn đơn vị. Phía rừng cây lúp xúp cạnh đường, tất cả chúng tôi nằm im hồi hộp chờ chúng đến.

Kia rồi, trên mặt đường phía trước mặt, một tốp lính khoảng chục người, quần áo rằn ri, đầu đội mũ sắt, súng lăm lăm trong tay ngó nghiêng, soi kỹ từng bụi cây hai bên đường, dò dẫm đi từng bước một. Cách sau chúng khoảng 15 mét, có một tốp lính nữa cùng với ba chiếc xe M113 chở đầy lính đang hành tiến theo sau.

Khi tốp đi đầu vừa chạm vào tổ chốt cuối cùng của trung đội 1, do anh Lê Xuân Hưu chỉ huy, tiếng súng quân ta bất ngờ rộ lên. ở phía sau đội hình hành quân của địch, trung đội 3 cũng kịp thời nổ súng, không cho quân địch chạy lùi về.

Tôi hướng nòng súng AK của mình ra phía trước bóp cò. Xung quanh tiếng súng tiểu liên, trung liên, cối 60, B40, B41 của cả đại đội vang lên giòn giã.

Chớp thời cơ, đại đội trưởng Hà Văn Thái phát lệnh xung phong. Tất cả các cán bộ chiến sĩ đại đội 3 đồng loạt xông lên mặt đường tấn công, truy kích lính Sài Gòn đang tháo chạy thục mạng.

Trên mặt đường, xác lính đối phương phơi đầy nằm ngổn ngang, súng, ba lô vương vãi khắp nơi. Đặc biệt có hai chiếc xe tăng bốc cháy, khói bay lên nghi ngút. Trong đó một chiếc do anh Trần Dôn - chiến sĩ trung đội 3 bắn hạ. Còn chiếc khác do Lê Văn Mão ở tiểu đội hoả lực A10 tiêu diệt. Chỉ có chiếc xe tăng sau cùng là thoát được, vì lúc đó nó đang ở quá xa so với chốt tiền tiêu của trung đội 3.

Thực ra, khi chiếc xe tăng đang quay đầu tháo chạy, trung đội 3 đã tổ chức đuổi theo truy kích. Nhưng nó tăng tốc chạy rất nhanh. Mặt khác, để tránh thương vong và đảm bảo an toàn cho đơn vị, đại đội trưởng Hà Văn Thái phát lệnh thu quân, đề phòng pháo địch ở các căn cứ xung quanh dội đến.

Tôi và mọi người vừa kịp về đến công sự của mình đã nghe tiếng xèn xẹt đạn pháo bay trên đầu. Những tiếng nổ inh tai dồn dập bao vây chúng tôi. Đợt pháo này, quân địch bắn kéo dài hơn trước, rồi cuối cùng cũng phải dừng hẳn.

Lúc này trong đại đội tôi đã có những tổn thất nhất định. Trung đội 3 có ba người hy sinh, đó là anh Hồ Huy Điềm quê ở Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh). Anh Trần Thanh Hải, quê ở Đà Sơn (Đô Lương, Nghệ An). Anh Phạm Ngọc Sơn, quê ở Hợp Thành (Yên Thành, Nghệ An). ở trung đội 2 có anh Vũ Ngọc Danh, quê ở Đức An (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Ngoài ra, còn có một số nữa đã bị thương do mảnh đạn pháo và đạn nhọn.

Thời gian còn lại của ngày hôm đó cho đến tối, không còn xuất hiện bộ binh xe tăng địch nữa. Chỉ còn có tiếng vè vè trên bầu trời của máy bay trinh sát OV-10 vòng đảo liên tục, soi mói mọi động tĩnh dưới mặt đất để gọi máy bay A37 đến ném bom.

Trời đã về tối, những chiếc máy bay đảo lượn trên cao đã rút về. Chúng tôi Minh, Thìn, Sơn, Tiểu, Hiền, Định, Tại, Mão... là những người bạn trước đây cùng một đơn vị huấn luyện được bổ sung về cùng đại đội 3. Vừa mới gặp nhau, mọi người đã vội ôm chầm lấy tôi mừng mừng tủi tủi. Không ai có thể tin được: Tất cả vẫn đang còn sống và nguyên vẹn sau một ngày chiến đấu căng thẳng, ác liệt đã xảy ra.

Thời gian ở lại không nhiều, vì tôi còn đi tháp tùng đại đội trưởng, kiểm tra quân số thương vong và tình hình sẵn sàng chiến đấu của bộ đội ta ở các trung đội.

Lúc chia tay, mọi người dúi vào tay một túi đầy quà. Từ hộp nước quả xoài đến túi cơm sấy và cả những gói thuốc lá “Rubi Quân tiếp vụ” thu được của quân địch bỏ lại chiều nay. Cảm ơn các bạn đã dành cho tôi những tình cảm quý báu này.

Đêm nay, cả đại đội không phải hành quân di chuyển. Vẫn ở lại chốt giữ tại đây, thế là có một đêm được nghỉ ngơi lấy sức. Chúng tôi được ngủ nhiều hơn, chỉ phải thức những lúc thay nhau canh gác. Pháo của địch bắn cầm canh mặc kệ, không cần phải bận tâm đến.

 

6-4-1972

3 giờ sáng, cả đại đội tôi đã chiếm lĩnh vị trí phía Bắc đầu cầu Cần Đăng để chuẩn bị đánh chiếm thị trấn Tân Biên...

Đến 5 giờ 30, chúng tôi đồng loạt nổ súng bắn về phía bờ sông bên kia. B40, B41 tập trung nã vào các lô cốt xây dựng bằng bao cát nằm cạnh chân cầu. Những quả đạn cối 60 của tiểu đội hỏa lực (A10) rót chính xác vào từng lô cốt địch đang chốt giữ ở nơi đó.

Bị quân ta áp đảo nổ súng tấn công bất ngờ, binh lính Sài Gòn trong chốt hoảng loạn. Lợi dụng cơ hội đó, chúng tôi nhanh chóng vận động vượt qua cầu chiếm giữ các lô cốt địch vừa bị tiêu diệt.

Lúc này, những quả đạn cối 82 của đại đội 16 (C16) ở phía sau vượt qua đầu chúng tôi rơi vào đội hình quân địch đang tháo chạy tán loạn dọc theo con lộ 22.

Chốt giữ ở phía ngoài, quan sát địch ở trong đó rất rõ, tiểu đội hoả lực (A10) do anh Thiết chỉ huy đã phát hiện rất nhanh những mục tiêu trong bốt. Chỉ trong nháy mắt đã chỉnh xong tầm và hướng cho súng cối 60.

Với những động tác thuần thục và chính xác, các anh cầm thả từng quả đạn vào trong nòng súng. Một tiếng "chóc" đầu nòng phát ra, chỉ trong giây lát, phía trong bốt đã vang lên một tiếng nổ "Oàng". Lại thêm một ổ đề kháng nữa của địch bị tiêu diệt. Chúng tôi hầu như đã khống chế, làm chủ được hoàn toàn trận địa.

Được tận mắt chứng kiến các khẩu đội cối phát hỏa, tôi thật sự khâm phục tài nghệ bắn súng của các anh. Sự ước lượng khoảng cách, cự ly chính xác đến từng mét một, cũng như kỹ năng điều chỉnh hướng, tầm súng rất nhanh. Khi một viên đạn đã bay ra khỏi nòng, hầu như không có viên nào rơi chệch ngoài mục tiêu cả.

Dưới làn đạn cối của quân ta, và cùng một số hoả lực khác yểm trợ, chúng tôi đồng loạt chia làm nhiều mũi xông thẳng vào chốt địch, bắt tù binh và thu vũ khí. Thị trấn Tân Biên đã được hoàn toàn giải phóng.

Đến tối, cả đơn vị tôi tiếp tục hành quân ngược đường 22 đến Thiện Ngôn, rẽ theo con lộ đất đỏ, gọi là đường Tống Lệ Chân để đi về khu vực Lò Gò - Xóm Giữa.

10-4-1972

Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi hành quân vượt qua sông Vàm Cỏ Đông, biên giới giáp ranh Cămpuchia và Tây Ninh, Việt Nam. Con sông nơi đầu nguồn không rộng, nhưng hai bên bờ dốc đứng, nước khá sâu chảy xiết.

Đại đội 3 tổ chức vượt sông theo từng trung đội. Các tổ ba người và tiểu đội luôn bám sát, giúp đỡ dìu nhau bơi qua sông. Nhìn dòng nước chảy xiết, nhiều người lo sợ ra mặt. Nếu như bơi mà trên mình không mang một thứ gì, vượt qua được đã là khó khăn lắm rồi. Nhưng ở đây, trên vai chúng tôi còn có đầy thứ nặng trĩu và cồng kềnh như ba lô, súng đạn...

Những chiếc túi bọc ni lông của từng người được trang bị mang theo, lần này thật sự phát huy tác dụng. Tất cả áo quần, ba lô… được bỏ vào cột chặt miệng túi làm thành phao và cứ thế mà vượt sông.

Đại đội trưởng Hà Văn Thái và các anh trong ban chỉ huy thở phào nhẹ nhõm, khó khăn của đơn vị đã có phương án khắc phục. Song, thực tế khi bắt đầu thực thi, một tình huống khó khăn bất ngờ đã đến, có rất nhiều người chưa biết bơi, đã vậy lại không có túi nilon. Đây là hậu quả của chiến dịch "giảm cân mang vác" của thời kỳ hành quân vượt dải Trường Sơn ngày nào.

Đứng ở bên kia bờ nhìn sang, thấy tình cảnh ấy, tôi và một số anh em bơi giỏi vội quay sang để giúp đỡ những người đang còn lúng túng đó.

Thêm một khó khăn nữa, đấy là những khẩu súng trung liên, B41. Không thể nào gác lên trên những chiếc túi nổi lềnh bềnh dưới nước trơn tuột để mà bơi qua sông được.

Trước tình huống khó khăn này, tôi nhớ ngay đến thời còn ở quê, khi bọn trẻ chúng tôi tự tạo phao bơi qua ao rộng, đó chính là dùng chiếc quần dài của mình, cột chặt hai đầu ống nhúng ướt nước, chụp xuống mặt nước để cho nó căng phồng lên, rồi cột túm lưng quần chặt lại, tạo thành một chiếc phao.

Tôi nhanh chóng thao tác và phổ biến cho anh em trong đơn vị thực hiện. Một tay giữ chặt súng đã gác vào đũng quần, một tay nắm chặt phần lưng, cứ thế dùng hai chân đẩy mình bơi qua sông sang bờ bên kia.

Khi bơi tự do mới cảm nhận được sự mát rượi của dòng sông. Mà đã lâu lắm rồi tôi chưa hề được tắm. Tranh thủ lúc này phải thoả sức vùng vẫy, ngụp lặn sâu xuống dòng nước. Vò đầu xoa mình, gột hết những khói đạn, bùn đất lâu nay đang bám chặt vào người. Cứ thế, tôi bơi qua bơi lại dòng sông mấy lần, để mang giúp đồng đội những khẩu súng trung liên hoặc súng B41.

Đại đội chúng tôi đã vượt sông an toàn về người cũng như vũ khí (mấy ngày sau tôi được biết trên khúc sông chúng tôi đã vượt qua có hai chiến sĩ tiểu đoàn 9 đã hy sinh).

Giờ đây nhìn lại anh em mặt mày ai nấy đều sạch sẽ, sáng sủa, gọn gàng, không bù xù, nhem nhuốc đất bùn như khi còn ở phía bên kia sông, tuy có đôi mắt còn đỏ, sâu, thâm quầng, hai má hóp lại do bị thiếu ngủ triền miên, nhưng cái trẻ trung, ngây ngô của tuổi 20 vẫn hiện rõ lên khuôn mặt từng người.

Chúng tôi hành quân đến gần bìa rừng thì tạm dừng để nghỉ 10 phút. Phía trước đoàn quân là con đường đất cát khá rộng chạy thẳng về thôn, làng người Cămpuchia. Theo tiếng địa phương gọi là "phum", "sóc".

Một điều lạ đập vào mắt tôi, là sự khác nhau giữa vùng nông thôn Cămpuchia và  Việt Nam. Nơi đây nhà dân trong phum được bố trí dọc hai bên đường theo một dãy. Phía sau là cánh đồng bằng phẳng rộng mênh mông, nhìn về cứ như đến tận chân trời. Các ngôi nhà sàn làm bằng gỗ nhưng rất đẹp, gọn gàng tinh tế, không mộc mạc đơn sơ như những ngôi nhà vùng dân tộc miền núi Việt Nam mà tôi đã gặp.

Đây là lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với người dân Cămpuchia. Khi chưa được gặp họ, tôi và Coỏng đã tranh luận với nhau về sự hiếu khách của người dân đối với bộ đội Việt Nam. Cậu ta nói:

- Người dân Cămpuchia thù hằn với dân mình lắm, khi tiếp xúc với họ, mình phải đề cao cảnh giác.

Còn tôi nói rằng:

- Đã là người dân vùng nông thôn, chắc chắn họ cũng thật thà chất phác như người dân quê mình.

Đại đội trưởng Hà Văn Thái cũng băn khoăn, do dự. Ban đầu anh định tổ chức cho bộ đội nghỉ ở ngoài phum, nhưng khi  đi vào giữa phum, càng thấy sự yên bình, tĩnh lặng như vùng nông thôn quê nhà. Cuối cùng anh quyết định cho cả đơn vị vào nhà dân ở hai ven đường xin nghỉ nhờ.

Đại đội bộ chọn một nhà dân to đẹp nằm giữa phum làm vị trí đóng quân. Vì đây là lần đầu tiếp xúc với người dân, trong anh em chẳng có một ai biết tiếng Cămpuchia cũng như những phong tục tập quán của họ, nên mọi người cứ chần chừ đứng ở ngoài cổng mà không mạnh dạn đi vào nhà.

Tôi và Coỏng hai đứa nhanh nhảu xung phong đi trước. Ngay sau tiếng gõ cửa của tôi, ánh đèn dầu trên sân tầng 2  bừng sáng.

Ra đón chúng tôi có hai vợ chồng người Cămpuchia tầm 40 tuổi. Qua ánh đèn, tôi nhìn thấy người đàn ông mình để trần, quấn quanh bụng một chiếc khăn rằn carô đen trắng, kéo dài quá đầu gối. Còn người phụ nữ chỉ mặc một chiếc váy nền vàng có hoa văn đen đỏ, choàng đến ngực để lộ đôi vai và hai tay trần.

Họ nói với chúng tôi một tràng thứ tiếng nghe rất lạ lẫm. Hai đứa chỉ biết ú ớ gật đầu chào lại. Tôi rất sốt ruột muốn nói:

- Xin chủ nhà cho anh em chúng tôi nghỉ lại đêm nay.

Nhưng lúc này, cái lưỡi trong miệng cứ cứng đơ, chỉ phát ra được tiếng ơ ơ. Bực mình thật, do bất đồng ngôn ngữ, tôi muốn nói nguyện vọng của mình cho họ hiểu, mà không biết giãi bày thế nào?

Chủ nhà có vẻ cảm thông và chăm chú theo dõi những cử chỉ của hai đứa. Tôi nhận thức được điều đó, vội vàng lấy đôi bàn tay chụm lại với nhau, đưa lên áp sát một bên má, rồi nghiêng mình lại, sau đó đập đập xuống sàn.

Cả hai vợ chồng bất chợt ồ lên tươi cười, gật đầu đồng ý mời chúng tôi vào nhà để nghỉ. Kết quả đạt được quá nhanh, ngoài sức tưởng tượng ban đầu.

Không kịp chạy ra thông báo tin vui cho các anh đang còn đứng chờ ở ngoài cổng, Coỏng đang đứng ở trong nhà, nhanh nhẩu gọi vọng ra:

- Chủ nhà đã đồng ý rồi, mời các anh vào.

Anh Tài và anh Trữ, vừa hạ ba lô xuống sàn đã vội tìm vị trí để chuẩn bị bữa cơm tối cho đơn vị. Anh nói với chủ nhà:

- Anh chị cho phép chúng tôi đặt bếp ở đâu? Chúng tôi muốn xin củi, nước để nấu cơm.

Chúng tôi và anh đều ú ớ như nhau cả, chẳng ai biết giãi bày như thế nào để chủ nhà hiểu được.

Trước tình cảnh đó, tôi buột miệng nói:

- "Tức thật'', chúng ta ở đây chẳng ai biết được một chút tiếng Cămpuchia nào, để bây giờ mới khổ như thế này đây.

Sau câu nói đó, người vợ nhanh nhẹn vào phía trong xách ra ngoài hai bình nước và khay cốc, gật gật cái đầu mời chúng tôi uống. Tôi trố mắt ngạc nhiên về sự mến khách và quan tâm chu đáo của họ.

Sau một thời gian sống với nhiều người dân Cămpuchia, tôi mới biết được lý do người vợ chủ nhà lấy nước cho chúng tôi uống hôm ấy.

Tiếng Việt gọi là ''nước'' thì tiếng Cămpuchia gọi là ''tức''.

Nên sau khi tôi nói ''tức thật", họ cứ ngỡ là chúng tôi xin nước, nên đã mang nước ra mời.

Những hành động, cử chỉ trìu mến, rất quan tâm giúp đỡ của người dân Cămpuchia, trong những giây phút gặp gỡ đầu tiên đã gây cho chúng tôi một ấn tượng rất tốt đẹp về lòng nhân hậu, chân chất và mến khách của họ mãi mãi không bao giờ phai.

Tôi quay sang trách Coỏng và nói:

- "Ông" thấy không? Tôi đã bảo người dân nông thôn Cămpuchia rất tốt. Thế mà vừa rồi ông lại nghĩ không tốt về họ.

Vừa nghe xong câu nói, người chồng vội vào trong buồng xách ra một con dao quắm loại nhỏ, cùng với một sợi dây thừng dài đi xuống dưới cầu thang.

Tôi và mọi người sững sờ, hốt hoảng thật sự, không biết chuyện gì sẽ xảy ra đây? Chuyện "lành" hay chuyện "dữ"? Anh ta đã cầm dao và dây thừng đi, chắc rằng chuyện "lành" thì ít, chuyện "dữ" thì nhiều.

Không khí trong nhà đang vui vẻ ồn ào, bỗng nhiên đột ngột lặng đi. Điều gì sẽ đến? khi tất cả mọi người đã có mặt trong phum này rồi. Đã đâm lao phải theo lao, tôi vội vàng một mình bước xuống cầu thang ra ngoài theo dõi và nghe ngóng tình hình.

Dưới ánh trăng cuối tháng, tôi thấy anh ta đang bước vội đến hướng mấy cây dừa trước nhà, và chỉ một phút sau đó, giắt ngay con dao vào bụng rồi leo thoăn thoắt lên một cây dừa trĩu quả.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, vội vàng lên cầu thang thông báo tin vui này. Mọi người "à" lên một tiếng. Không khí trong nhà càng sôi động hơn so với lúc ban đầu.

Lại một bất ngờ nữa, khi mọi người đang uống nước, đã thấy anh chủ nhà mang nguyên cả một buồng dừa nặng trĩu quả, đặt ngay trước mặt. Rồi anh lấy dao, thoăn thoắt chặt từng quả một đưa cho từng người uống nước.

Sau này, khi tôi đã hiểu được một số tiếng Cămpuchia mới biết rằng: "Dừa" là tiếng Việt Nam, còn tiếng Cămpuchia gọi là "Đôông". Cho nên khi tôi nói với Coỏng: "Ông" thấy không? của giọng nằng nặng khu 4. Họ cứ ngỡ là chúng tôi xin quả "Dừa."

Việc cần kíp phải nấu cơm, không thể kéo dài được nữa. Anh Tài luôn thúc giục mọi người tìm cách giãi bày để chủ nhà hiểu được mong muốn của mình. Bí quá, tôi vội bê một
cái xoong, giơ ra trước mặt chị chủ nhà. Rồi sau đó lấy một nắm gạo bỏ vào, đồng thời chỉ chỉ, trỏ trỏ vào đấy.

Hiểu được ý tôi, hai anh chị gật đầu lia lịa, vội vàng đi vào nhà kho, bê đến cho chúng tôi lưng bao gạo trắng toát. Đồng thời, chỉ vị trí bếp và giếng nước cho anh Tài và anh Trữ chuẩn bị bữa cơm tối này.

Trong lúc hai anh đang đem nồi ra giếng vo gạo, phía bên dưới sàn nhà mọi người đang ngồi, bỗng tiếng gà kêu oang oác vang lên. Một lúc sau đó là tiếng đập cánh, giãy đành đạch của nó. Té ra, anh chị chủ nhà rất tốt bụng, đã giết gà thiết đãi chúng tôi.

Bữa cơm hôm đó thật sự ấm cúng, ngon lành. Lâu lắm rồi  tôi mới được ăn món thịt gà rang. Chao ôi! Sao mà ngon đến thế.

Được sống trong lòng người dân nước bạn nhân hậu và mến khách, trong không gian tĩnh lặng yên bình, không phải đề phòng cảnh giác, không còn những giây phút căng thẳng nữa, và không còn phải nghe những âm thanh rùng rợn luôn rình rập bất ngờ ập đến với chúng tôi bất cứ thời điểm nào. Đó là tiếng vè vè của máy bay trinh sát L19 và V0-10, tiếng đạn pháo đề pa đầu nòng, tiếng đạn bay xẹt xẹt rít qua đầu. Rồi tiếng ken két nghe ghê răng của xích xe tăng chạy trên mặt đất, tiếng súng bộ binh bắn ra, đạn nổ vang trời. Tất cả ào ào, rít rít thành một chuỗi âm thanh kéo dài, không hề phân biệt được từng tiếng súng riêng rẽ nào!

Tôi đâu có ngờ rằng: Không khí yên bình như một thời ở hậu phương miền Bắc lại về đây. Chỉ khác một điều: những người dân ở đây giao tiếp với chúng tôi bằng một ngôn ngữ lạ lắm. Khi nói, cả hai bên chẳng biết đối phương đang nói điều gì. Để hiểu được nhau, xem ra ngôn ngữ bằng tay là hữu hiệu nhất.

Sau khi ăn xong, mọi người đi tìm nơi để ngủ. Tôi nhìn khắp cả nhà, không thấy đâu có giường.

Lại một lần nữa chúng tôi lúng túng, lại làm hiệu hai tay úp vào nhau để lên má, nghiêng người đập nhẹ xuống sàn. Chủ nhà nhanh chóng hiểu ý, ôm ra cho  mỗi người hai chiếc gối.

Đó là một chiếc gối vuông và một gối tròn to bằng gốc cây chuối, chiều dài khoảng 1 mét (sau này tôi mới biết: đối với những người dân Cămpuchia, những ai chưa có gia đình đêm nằm ngủ ngoài gối để ở đầu còn thêm một chiếc gối tròn để ôm), đồng thời chủ nhà chỉ chúng tôi vị trí ngủ ở ngay trên mặt sàn nhà.

Mọi người rất ngạc nhiên và lạ lẫm với chiếc gối loại dài này, nhưng vì ai cũng buồn ngủ quá nên chẳng còn thời gian thắc mắc suy nghĩ, chiếc gối này sử dụng như thế nào?

Riêng tôi, khi cầm chiếc gối tròn lạ, thấy nhẹ mềm hơn chiếc gối vuông, vội gối đầu vào nó đánh một giấc ngon lành cho đến khi anh Căn gọi dậy, trời đã sáng.

Một tình huống đã xảy ra ở trung đội 1. Nguyên do tối qua, khi tập kết quân nghỉ tại phum, sau khi kiểm tra quân số thấy thiếu một chiến sĩ tên Thanh. Ngay trong đêm, các anh đã tổ chức một tổ quay ngược trở về điểm nghỉ giữa chặng hành quân ở bìa rừng, nơi mà mọi người xác định vẫn trông thấy Thanh để tìm kiếm đón về. Nhưng cho đến bây giờ vẫn không có kết quả.

Trước lúc đơn vị hành quân tiếp chặng đường còn lại, tôi được anh Thái giao nhiệm vụ ở lại phum đợi đón được cậu ta. Sau đó hành quân dọc theo con đường cát, sẽ gặp đại đội đóng quân ở phum ven đường. Chờ đợi gần đến trưa mới thấy Thanh ở đâu lò dò lếch thếch xuất hiện trên đường. Khi hai đứa gặp nhau Thanh thì rất mừng, chạy đến ôm chầm lấy tôi la lên:

- Thế là mình gặp được anh em rồi! – Cậu ta bật khóc nức nở.

Một lúc sau tôi mới trách:

- Cậu ở đâu từ tối hôm qua cho đến bây giờ để cả đơn vị đi tìm và chờ cậu như vậy?

Thanh mặt tái mét, da nhợt nhạt, lắp bắp trả lời:

 - Minh biết không? Khi đơn vị nghỉ ở bìa rừng, thấy một khóm cây lúp xúp nằm sâu ở ven đường, tôi cứ để nguyên ba lô trên vai ngồi lên khóm cây thấy rất êm, ngả người lưng tựa vào ba lô, thế là ngủ lúc nào không biết. Bất chợt tỉnh dậy, khi nghe tiếng ken két của bánh xe bò người dân Cămpuchia đang đi dọc con đường men theo bìa rừng. Nhìn xung quanh không thấy anh em trong đơn vị đâu, tôi thật sự hoảng sợ, lo lắng rồi bật khóc, còn một mình bị rớt lại trong sự cô đơn vắng lặng ở nơi cánh rừng xa lạ này. Tuy đã nhìn thấy những dấu dép cao su dày đặc trên mặt đất, nhưng vẫn sợ bị địch phục kích trên đường. Cuối cùng, cứ mạnh dạn dò dẫm, lần mò theo dấu vết đó. Lúc đến gần làng này, tôi vội núp vào khóm cây bên đường nằm im theo dõi nghe ngóng động tĩnh, thấy có tiếng nói của người Việt mình không? Tôi đã ở đó rất lâu, trong làng vẫn yên tĩnh không có ai ra ngoài, thỉnh thoảng nghe thấy tiếng gà trống gáy ò ó o, tiếng tục tác của gà mái vừa nhảy ổ. Đâu đây vọng tiếng cụp cum, cụp cum. Vừa sợ vừa run không hiểu ở trong đó thế nào, cuối cùng không còn con đường nào khác, cứ thế bước đại vào. Tiếng cụp cum nghe rõ dần, có mấy bà già người Cămpuchia đang túm tụm cầm chày đứng xung quanh chiếc cối giã gạo. Trước cảnh đó, tôi yên tâm tiến đến gần họ, cất tiếng chào và dự định sẽ hỏi thăm có biết bộ đội ta ở đâu không? Rồi giật mình đứng sững người lại, khi một loạt tiếng rất lạ của mấy bà già phát ra the thé, theo đó là những cánh tay giơ lên chỉ chỉ, trỏ trỏ. Chẳng hiểu họ đang nói và có ý định gì với mình đây. Trấn tĩnh lại, tôi giơ tay lên chỉ vào chiếc mũ tai bèo đang đội trên đầu và chiếc ba lô sau lưng, rồi lấy tay chỉ về phía trước, mấy bà đồng loạt gật đầu. Nghĩ rằng : Họ đã hiểu tôi muốn gì, nên tiếp tục bước đi dọc theo làng này, cho đến bây giờ mới gặp được Minh.

Đợi Thanh ăn xong cơm, hai đứa thu xếp lên đường hành quân gấp, vì giờ này chắc đơn vị đã đi cách rất xa chúng tôi. Độ khoảng 3 giờ chiều, tôi ghé vào một gia đình gặp một cô gái Cămpuchia ở ven đường, rồi làm hiệu hỏi thăm khoảng cách từ đây đến phum nơi đơn vị sẽ đóng quân mà anh Thái đã ghi rõ trên giấy.

Chúng tôi đi qua nhiều phum, những cô gái, em nhỏ, bà già đang ở trên tầng của những chiếc nhà sàn nằm hai ven đường trông xuống vẫy chào chúng tôi.

Một điều lạ lẫm đập vào mắt tôi. Tất cả những cô gái, bà già đều chỉ quấn Xàrông (loại váy) từ bụng trở xuống còn phần ngực thì để trần.

Ban đầu hai đứa ngượng chín mặt không dám nhìn, nhưng đi suốt qua nhiều phum được chứng kiến tất cả phụ nữ ở đây đều ăn mặc như thế, mọi việc rồi cũng quen dần.

Đến gần 4 giờ chiều, sợ trời sắp tối, nhìn sang nhà bên đường có một chiếc xe đạp dựng ở sân. Tôi mừng quá, đánh bạo vào gõ cửa chủ nhà ngỏ ý mượn chiếc xe đạp, như vậy hai đứa mới đuổi kịp đơn vị khi trời chưa tối, chứ đi về đêm, không biết chuyện gì nguy hiểm sẽ đến đây.

Đón tiếp hai đứa có hai vợ chồng trung niên trên dưới 40. Tôi vừa giơ tay làm hiệu và gật đầu chào, người đàn ông vội hỏi bằng tiếng Việt lơ lớ:

- Các anh bộ đội cần gì?

Thật may quá, mình đã gặp được người biết tiếng Việt rồi. Không cần dạo đầu vòng vo nữa, tôi nói ngay:

- Anh cho mượn chiếc xe đạp đang dựng ở đấy được không? Chúng tôi rất vội phải đi về phum X, buổi sáng ngày mai sẽ đem xe đến trả cho anh.

Anh tươi cười vui vẻ dắt xe ra cho chúng tôi mượn. Hoá ra những điều liều lĩnh của tôi thế mà lại hay. Hai đứa sung sướng cười tít mắt nói vội lời chào cảm ơn rồi tiếp tục hành trình.

Tôi khoác khẩu súng lên vai rồi nhảy lên xe ngồi đạp, còn Thanh ngồi phía sau ôm hai ba lô và súng của mình. Chúng tôi bon bon trên đường độ khoảng một giờ thì gặp được đơn vị, trời lúc này đã bắt đầu tối.

*
*   *

Ngày hôm sau, khoảng 10 giờ sáng, tôi rủ anh Huyên, y tá cùng đi trả xe cho chủ nhà. Lúc chúng tôi vừa đến một thị trấn nằm ven đường, chiếc bánh xe lại bị xịt lốp. Hai anh em dắt xe đi bộ và hỏi thăm khắp hết thị trấn mới tìm được người vá xe.

Đó là một người đàn ông tuổi gần 50, tôi làm hiệu ngỏ ý nhờ vá săm xe, ông gật đầu vui vẻ vào nhà lấy ra chiếc săm mới thay vào xe đạp đó.

Khi vừa đến nhà chủ xe, tôi thanh minh vì sự cố đã xảy ra nên chúng tôi đến không đúng hẹn. Anh tươi cười,  nói lời cảm ơn, đồng thời còn rút tiền Riêl (tiền Cămpuchia) trong túi ra trả cho tôi. Hai anh em trố mắt, ngạc nhiên.

- Đường nào chiếc xe này đến lúc đó cũng bị thủng săm, tôi cảm ơn hai anh bộ đội đã sửa hộ. - Anh nhẹ nhàng giải thích.

Cứ thế, anh ta dúi tiền vào túi, tôi cố sức đẩy ra, nhưng vẫn không được. Vậy chỉ mới hai ngày tiếp xúc với dân Cămpuchia, bao nhiêu niềm vui bất ngờ đã đến với chúng tôi.

 

12-4-1972

Trời đã về tối, tôi theo anh Thái và các trung đội trưởng đi thực địa để nhận mục tiêu mà đại đội chúng tôi sẽ đảm nhiệm chiến đấu. Địa hình bố trí quân là một cánh rừng tràm, bao quanh nó là cánh đồng bằng phẳng, không cây cối hoa màu, vì thời điểm này đang là mùa khô ở Cămpuchia.

Dưới ánh trăng sáng, theo tay anh Thái chỉ, phía trước mặt bên trái là con đường quốc lộ 1 nối liền Sài Gòn - Nông Pênh đi qua cửa khẩu Mộc Bài tỉnh Tây Ninh. Phía bên phải là chốt trung liên 1 do quân của Lon Non - Xi Ríc Ma Tắc chốt giữ. Hoả lực chốt giữ của địch tương đối mạnh, có DK 75, cối 82, đại liên và súng 12 ly 7.

Nhiệm vụ của chúng tôi là phải bao vây tiêu diệt địch. Do địa hình xung quanh chốt trống trải, không có vật che chắn, nhưng sát cạnh nó có khá nhiều gò đất lô nhô và lác đác xuất hiện những bụi cây lúp xúp.

Bảo vệ chốt có nhiều loại hàng rào bao quanh, phía trong là những nhà doanh trại lính, phía vòng ngoài là những lô cốt nổi lên rải đều gần sát với lớp hàng rào trong cùng. Chúng tôi áp dụng chiến thuật: “Cường tập” tức là ở ngoài chốt dùng hoả lực uy hiếp, bức địch đầu hàng, nếu có thời cơ xuất kích tấn công tiêu diệt chúng.

Đêm hôm ấy, ánh trăng đầu tháng vừa đủ cho mọi người nhìn thấy nhau mờ mờ. Khi anh em trong đại đội tôi theo từng vị trí đã tiến sát với hàng rào là triển khai ngay đào công sự. Chủ yếu là đắp đất xây dựng vật che chắn đạn nhọn từ trong đồn bắn ra ngoài.

Lệnh tấn công đã đến, chúng tôi từ các hướng đồng loạt nổ súng vào chốt. Quân địch bên trong quá bất ngờ nên im lặng không hề nhúc nhích, chống cự. Nhưng chỉ khoảng 5, 6 phút sau, từ các lô cốt địch đã bắt đầu phản công, bắn trả chúng tôi bằng những tràng đại liên có đạn vạch đường. Trong đêm tối trông như những tia pháo hoa quét ra từng vệt sáng không liên tục. Những viên đạn nhọn cắm vào những gò đất xung quanh tôi nghe phầm phập, phầm phập.

Tiếng đạn DK75 của địch bắn ra nổ rất đanh, chói tai, cát bụi bay mù mịt. Song do đã tính trước đến khả năng tấn công bằng hoả lực của chúng từ trong chốt, nên cả đơn vị tôi trước đó ai nấy đều đào cho mình những công sự chiến đấu khá chắc chắn, như vậy may ra mới hạn chế được sát thương của các loại đạn.

Quân địch bắn khá rát, nhất là mấy khẩu đại liên 12 ly 7, ở những lô cốt tuyến đầu. Rồi hai khẩu DK 75 ở bên cạnh hai lô cốt, cứ nhằm những ụ đất phía trước và sau chúng tôi mà nã đạn vào.

Đạn bay ra ồ ạt, "chiu" "chiu" trên đầu tôi. Ai đó chỉ cần nhô cao đầu một chút thôi, chắc phải hứng ngay cả trăm viên đạn vào người. Hoả lực địch trong chốt khá mạnh, nếu cứ để tình trạng này kéo dài mãi chắc chắn bộ đội ta thương vong nhiều.

Anh Thái điện về tiểu đoàn xin hoả lực cối 82 và DK 75 hỗ trợ, nhưng không liên lạc được do đường dây điện thoại bị đứt.

Còn máy vô tuyến 2W do Trung Quốc sản xuất mà chiến sĩ thông tin mang từ ngoài Bắc vào đây cứ tậm tà, tậm tịt hỏng liên tục. Tuy đại đội được trang bị một máy nhưng hầu như không làm việc được mấy.

Lúc này, hai chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn đang có mặt ở đại đội, đang chuẩn bị trở về Ban chỉ huy tiểu đoàn. Tôi được đại đội trưởng Hà Văn Thái giao nhiệm vụ, đi cùng với hai anh để về tiểu đoàn bộ, trực tiếp xin Ban chỉ huy chi viện hoả lực cối 82, DK 75 cho đại đội 3 chúng tôi, nhanh chóng tiêu diệt hai lô cốt đầu cầu này.

Khi quân địch trong chốt vừa bắn chuyển làn sang hướng khác, tôi khoác vội vào lưng một chiếc xẻng cá nhân, cầm khẩu súng tiểu liên AK trong tay, băng băng theo hai anh trinh sát về tiểu đoàn bộ.

Trong lúc đang còn lom khom men gần sát với hàng rào dây thép gai đầu tiên trong chốt, cách công sự khoảng 20 mét, bất ngờ phía bên phải tôi, súng đại liên trong chốt bắn quét ra đội hình 3 người.

Một phản xạ rất nhanh, chúng tôi đồng loạt nghiêng người lăn mình xuống đất. Tôi lăn một vòng may sao đầu vừa chạm vào mô đất, trong đêm tối nhìn nó trông như một ngôi mộ thấp.

Đạn của khẩu đại liên đã quét đến chúng tôi sàn sạt cắm vào mô đất trên đầu phầm phập. Tôi sởn ốc, nổi gai trong người cảm thấy sờ sợ, và nằm im. Một lúc sau đó chúng bắn chuyển làn sang bên cạnh.

Nhanh chóng lợi dụng khoảnh khắc này, tôi vội gác súng lên mô đất, ngắm ngay vào lô cốt nơi khẩu đại liên đang còn khạc lửa, rồi bình tĩnh bóp cò điểm xạ 2 viên pằng, pằng.

Bỗng nhiên, khẩu đại liên đó im bặt (trong thời gian huấn luyện ở miền Bắc, tôi đã tập bắn mục tiêu "lập loè" ban đêm rất kỹ, nên khi tiêu diệt những mục tiêu dạng này đối với tôi không có gì là khó).

Lợi dụng thời điểm địch ngừng bắn này, chúng tôi vận động nhanh về phía tiểu đoàn xin được hỗ trợ hoả lực cối 82 và KD 75 cho đại đội 3 kịp thời. Hơn chục phút sau đạn cối của chúng ta tới tấp đổ vào trong chốt. Phía chúng đột ngột ngừng phản công rồi im lặng.

Lúc này khẩu đội DKZ 75 của đại đội 17 (C17) đã có mặt. Các anh nhanh chóng vận động đến sát với hàng rào địch, từ nơi đây rất dễ dàng ngắm vào từng lô cốt màu trăng trắng nhô lên ở phía trong để nhả đạn.

Chốt trung liên I đã bị tiêu diệt hoàn toàn, quân ta xung phong tràn vào. Sau đó, chúng tôi bàn giao chốt đã chiếm giữ lại cho bộ đội Cămpuchia, lúc đó do Khiêu Xăm Phon chỉ huy.

 

20-4-1972

Vào khoảng 3 giờ sáng, đại đội 3, tiểu đoàn 8 được lệnh di chuyển quân cắt qua chiếc cầu sắt sang phía bên kia con lộ 1. Nơi đơn vị sẽ chốt giữ là một phum (thôn, làng) Cămpuchia, với nhiệm vụ phục kích, chốt chặn địch từ hướng Nông Pênh nống ra, và ở trong Chi Phu chạy về. Một tin buồn đã đến với chúng tôi, đồng chí Đàm Văn Kháng - chính trị viên phó tiểu đoàn 8 quê ở Quảng Minh (Quảng Xương, Thanh Hoá) vừa bị hy sinh ngay trong đêm 19-4-1972 khi anh đang trực tiếp chỉ huy đại đội 2,  tấn công đồn Lò Xúp này.

Trước lúc cả đơn vị di chuyển sang địa điểm mới, đại đội trưởng Hà Văn Thái tập hợp tất cả chúng tôi lại, để giao nhiệm vụ chiến đấu mới cho từng trung đội, đồng thời kiểm tra tình hình quân số bị thương vong trong ngày. Lại một tin rất buồn và đau xót nữa mà đại đội tôi phải gánh chịu, trong trận chiến đấu vừa qua tổn thất quá lớn. Có năm người đã hy sinh, đó là các anh:

Hồ Sỹ Ninh, quê ở Quỳnh Xuân (Quỳnh Lưu, Nghệ An). Lê Văn Nuôi, quê ở Thạch Lâm (Thạch Hà, Hà Tĩnh). Lê Minh Hà, quê ở Thạch Yên (Thạch Hà, Hà Tĩnh). Hoàng Thanh Tại(1), quê ở Nghi Phú (Nghi Lộc, Nghệ An). Nguyễn Thế Tài, quê ở Thanh Bài, Thanh Chương, Nghệ An.

Ngoài ra, còn có một số cán bộ chiến sỹ nữa bị thương, phải về tuyến sau để điều trị. Tất cả mọi người vừa nghe được tin đã lặng đi, trước những đau thương, mất mát này.

Trong đoàn quân, đâu đấy tiếng khóc của ai đó bật lên. Một người khóc, hai người khóc... Rồi vỡ oà ra khi tất cả mọi người không còn có thể kìm lòng được nữa. Người thì thút thít, người thì nức nở, tạo nên một âm thanh bi ai, vang vọng giữa cánh đồng Cămpuchia phẳng rộng mênh mông đang bị màn đêm bao phủ.

Nước mắt chúng tôi hầu như đã khô cạn từ lâu, tất cả bây giờ đều chảy vào trong. Cuộc chiến phía trước còn rất gay go ác liệt, mức độ tàn khốc ngày càng tăng. Chỉ có những người đồng đội yêu thương của tôi ngày một giảm đi.

Quân số đại đội tôi ngày đầu mới vào trận có 82 người, giờ đây còn lại chưa được 60 người, mặc dù chúng tôi tham gia chiến trận chưa nhiều.

Rồi đây, trong những trận đấu tới, tôi hay ai nữa đây? lại phải ra đi không được chia sẻ ngọt bùi, gian khổ đắng cay, bao hiểm nguy vất vả, khói lửa đạn bom với cùng đồng đội. Thế mới biết chiến tranh tàn khốc ác liệt biết nhường nào. Cái giá phải trả cho nó quá đắt.

Khi đại đội chúng tôi tiến vào phum Xúp, mọi người dân nơi đây đã chạy đi sơ tán hết. Ở đây vắng lặng lạ thường, tôi đi vào từng nhà nhìn thấy mọi thứ vẫn nguyên vẹn không có gì xáo trộn.

Theo đội hình chiến đấu, bộ đội nhanh chóng đổ về các vị trí mà mình đảm nhiệm để đào công sự. Vị trí đóng quân của đại bộ nằm ở trung tâm phum, từ nơi đây ra đến chiếc cầu sắt nằm trên đường quốc lộ I khoảng năm trăm mét, cắt ngang cánh đồng rộng trơ trọi, rất bằng phẳng mênh mông. Ở đây chúng tôi có thể yên tâm ngồi quan sát, chờ địch đến để tiêu diệt. Bởi vậy, sau khi đã hoàn tất công sự chiến đấu của mình, mọi người có thể tranh thủ ngủ bù cho đêm hôm qua, chỉ cần cắt cử thay nhau canh gác đợi chúng đến là hô nhau thức dậy để xuất kích tấn công.

Tranh thủ làm một giấc ngủ dài, đến khoảng 9 giờ, tôi tỉnh dậy, vội vàng lục lọi tìm ở trong nhà có cái gì ăn được không? Khi đi đến nhà kho mới phát hiện được có gạo nếp cẩm, trong bụng mừng thầm: Chắc mẩm trưa nay chúng tôi có một bữa cơm nếp rồi.

Khoảng 10 giờ khi tôi đang chăm chú nhìn ra chiếc cầu sắt: Cả một không gian mênh mông hầu như chìm trong lặng im. Không tiếng súng, không tiếng xe cơ giới, không tiếng người. Còn anh em trong đại đội tôi, tất cả đang say giấc ngủ bù. Chỉ còn có một số người đang thức gác, nhưng họ cũng rất yên lặng. Cứ như chiến tranh đã không tồn tại ở nơi này...

Tôi dõi theo dọc con đường I và trên cánh đồng, tất cả đều đứng yên, không có một bóng người, hay một chiếc xe nào chạy qua. Cảm giác như nơi đây là một vùng chết.

Pằng, pằng, pằng… mấy loạt tiểu liên AK bất thần vang lên ở nơi chiếc cầu sắt, xé tan không khí vẫn còn lặng im trước đó. Tôi quay đầu nhìn ra xa thấy hai chiếc xe cơ giới màu xám đang từ trên đường I lao xuống cánh đồng trước mặt, nhưng hướng chạy của nó chếch ra khỏi phum Xúp nơi chúng tôi đang bố trí phục kích.

Trước tình hình này, nếu chậm chân thì chúng sẽ chạy thoát. Quên hết mọi nguy hiểm, không kịp báo cho ai biết, tôi vụt lao ra khỏi hầm, với một suy nghĩ trong đầu: "Phải quyết tâm bắt sống…"

Tôi bắn chặn đầu, nhưng hai chiếc xe vẫn cứ tiếp tục lao đi, thấy nguy cơ chúng có thể sẽ thoát, vượt được sang con đường bên cạnh. Vừa chạy cắt ra con đường đó bắn chặn từng loạt AK, những viên đạn cày sâu xuống mặt ruộng, đất cát từng cụm nối nhau bung lên, hai chiếc xe vội vàng dừng lại. Tiếp tục bắn thêm mấy loạt nữa để uy hiếp chúng rồi tôi tiến lại gần xe.

Ở phía sau anh Thái hô các trung đội xung phong ra hỗ trợ tôi truy kích địch. Đó là các anh Trữ, Huyên, Tài, Coỏng cùng tiểu đội hoả lực A10, do anh Thiết chỉ huy.

Tất cả mọi người đang ngủ mơ màng, khi vừa nghe có tiếng nổ, đã choàng ngay dậy, ôm súng và những cái gì cầm được trong tay lao ra tiếp ứng tôi. Buồn cười nhất là anh Tài, cũng chạy theo cùng mọi người, nhưng trên tay chỉ cầm độc một chiếc xẻng cá nhân giơ cao lên đầu huơ, huơ, lại còn hò hét hô xung phong nữa chứ.

Tôi đã bắt giữ hai xe, trên đó có hai sĩ quan Cămpuchia và một người phụ nữ cùng với hai con nhỏ khoảng 3 tuổi và 7 tuổi. Rồi hướng dẫn cho họ xuống xe, đi bộ về hướng phum nơi chúng tôi đóng quân.

Lúc này anh em tiếp cứu đã đến gần, tôi nhảy lên xe ba bánh (sau này mới biết đó là chiếc xe lam), với ý định nổ máy lái xe về. Nhưng khi ngồi vào trong cabin, mới thật sự lúng túng, không biết điều khiển nổ máy thế nào? mặc dù đã cố gắng tìm mọi cách, bấm hết các nút trong xe, nhưng nó vẫn gan lỳ ỳ ra không chịu nhúc nhích.

Quá bực mình, tôi xuống đi ra phía sau nhìn vào, phát hiện được trên thùng xe có một chiếc va ly căng đầy, rất tò mò liền mở ra lục soát.

Ban đầu mới nhìn vào chỉ thấy ở phía trên có hai hộp dầu cù là hiệu "Ông cọp". Một hộp có 10 lọ thuỷ tinh trang trí rất đẹp, tôi nghĩ ngay phải lấy về cho bạn bè anh em bôi vào người khi đau xương cốt.

Phía dưới hơn một chút là những cục tiền "Riêl" Cămpuchia. Vừa lấy tay bới qua lớp tiền giấy đó, một lớp vàng đủ các loại: Loại miếng, dây chuyền, nhẫn, khuyên tai... phủ đầy hơn nửa va ly, tôi nhìn vào sững sờ, lặng đi. Vì đây là lần đầu tiên mình được nhìn thấy vàng nhiều như thế.

Bên cạnh góc có hai túi vải nhỏ, khi mở ra bên trong đầy hạt nhỏ lấp lánh ánh lên. Nghĩ đó là kim cương (vì khi còn nhỏ ở nhà tôi hay đọc truyện cổ tích), rồi vội vàng xếp va ly, đậy nắp khoá chặt lại, mà chỉ lấy cho mình hai hộp dầu "Ông cọp".

Lúc này, anh Thụ và mọi người cũng vừa kịp đến bao quanh, tôi thở phào nhẹ nhõm và biết mình đã bình an.

Người phụ nữ và hai cháu nhỏ khóc rất nhiều, tôi không hề biết tiếng Cămpuchia để hiểu họ nói gì. May mà có anh Thụ chính trị viên phó (cán bộ chiến trường trước chúng tôi) có hiểu được một ít để an ủi động viên để ba mẹ con yên lòng.

Khi đã trấn tĩnh lại, nhìn kỹ mọi người, nhất là các anh trong đại đội bộ, tôi rất ngạc nhiên và cảm động. Vũ khí cầm trên tay để xuất kích truy sát địch của anh Tài và Trữ chỉ có chiếc xẻng cá nhân, còn anh Huyên đang cầm trên tay một quả lựu đạn (Anh Tài, Trữ, Huyên là nuôi quân, quản lý, y tá không được trang bị súng đạn). Tôi hỏi và anh Tài bảo:

- Khi thấy em xuất kích một mình đuổi địch rất nguy hiểm như vậy, các anh ngồi yên sao được. Tất cả đều vội vàng xông ra ứng cứu em, nên cứ vớ được cái gì là cầm cái nấy. Có ai chuẩn bị trước đâu? May mà anh còn vớ được cái xẻng.

Tôi rất biết ơn và cảm động trước những hành động, nghĩa tình anh em đồng đội, luôn luôn cùng "sống chết có nhau" trên chiến trường chỉ có đạn bom và chết chóc này, mà các anh là người luôn che chở cho mình trong những lúc hiểm nguy. Hai mắt tôi cay cay và nhoè đi, trong lòng thầm cảm ơn về tấm lòng yêu quý đó.

Hai chiếc xe lam vẫn nằm ì ra đó, tôi và một số người đành bó tay vì đều là lần đầu tiên va chạm với nó, nên không biết điều khiển thể nào để nổ máy được.

Thật là may có hai anh Trữ và Thiết vào xe loay hoay một lúc thì chúng nó phát ra tiếng kêu bành bạch… Chả là trước khi vào quân đội, các anh đã từng là thợ lái xe ủi ở các đơn vị giao thông miền Bắc.

Ba người bị bắt và hai cháu nhỏ được lên xe chạy về phum Xúp. Còn tôi và một vài người nữa tranh thủ thời cơ nhảy vội lên nó theo về.

Vừa về đến nơi, tôi bàn giao ngay chiếc va ly rất nặng, căng đầy đó cho ban chỉ huy đại đội.

Khoảng 4 giờ chiều, từ tổ chốt tiền tiêu báo về:

- Có một đại đội địch rút chạy gần vị trí chúng tôi đóng quân.

Lệnh báo động, vận động tấn công truy kích địch của Ban chỉ huy đại đội phát ra:

- Các trung đội chỉ để lại một tiểu đội chốt giữ ở nhà còn tất cả bộ đội đều xông lên truy đuổi quân địch đang từ trong chốt Chi Phu rút chạy ra ngoài.

Khi nhóm tàn quân phát hiện được bộ đội ta đang vận động truy kích, chúng đổi hướng bỏ chạy thục mạng. Chúng tôi nhanh chóng đồng loạt nổ súng vào hướng đó. Do khoảng cách giữa ta và địch hơi xa, nên một số lớn đã chạy thoát sang phum bên cạnh.

Mặt trời đã nghiêng hẳn về phía tây, hoàng hôn sắp đến, đại đội trưởng Hà Văn Thái ra lệnh thu quân.

Lúc này, cả khu vực thị trấn Lò Súp đã được trung đoàn 271 chúng tôi giải phóng hoàn toàn, hiện đang làm các thủ tục bàn giao lại cho bộ đội Cămpuchia quản lý. Địch trong chốt ở hai thị trấn Chi Phu và Bờ Vét nằm trên con đường I giờ đây bị ta cô lập, đường rút lui của chúng về Nông Pênh đã bị cắt đứt.

Đại đội chúng tôi cùng với các đơn vị khác trong tiểu đoàn 8 tiếp tục chốt giữ ở đây để phục kích chúng từ hướng Nông Pênh về chi viện cho cứ điểm Chi Phu.

Thật bất ngờ, tiếng súng các loại đồng loạt nổ ầm ầm vang rền. Mặt đất, bầu trời cả khu vực thị trấn Chi Phu bừng sáng lên, những cơn chớp sáng loé lên, giật liên tục trong màn đêm.

Đấy là tiếng súng của các tiểu đoàn 7 và 9, cùng với các đại đội trực thuộc công binh (C19), cối 82 (C16), DKZ 75 (C17) và đại đội đặc công (C25) của trung đoàn 271, đang tập trung tấn công cứ điểm đó.

Hoả lực của quân địch ở đây khá mạnh, ngoài các loại súng tiểu liên, trung liên, cối 82, DKZ75, đặc biệt còn có 4 đến 5 khẩu pháo phòng không 37 ly bốn nòng, đang đồng loạt hạ súng bắn thẳng vào bộ đội ta.

Tiếng đạn nổ rất đanh nghe chối tai, theo từng chùm một cày xé mặt đất ngay trước mặt quân mình. Vũ khí này quân địch sử dụng chống trả  khá lợi hại, ngay từ đầu đã có một số chiến sĩ của ta đã hy sinh.

Không thể để cho hoả lực của chúng áp đảo, khống chế các đơn vị phía trước của ta được. Các khẩu đội DKZ 75 của C17 đã áp sát hàng rào dây thép gai bảo vệ đầu tiên, bình tĩnh ngắm chính xác từng ổ hoả lực một rồi mới bóp cò.

Từng lô cốt một, từng ổ đại liên, từng ụ súng phòng không của địch thay nhau nổ tung. Súng và người bay lên trời tung toé. Hoả lực của chúng trong cứ điểm lịm dần rồi tắt hẳn.

Trung đoàn 271 từ các hướng đồng loạt xông lên, tràn vào trong cứ điểm, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch đang cố thủ trong cứ điểm Chi Phu.

Trong thời gian 3 ngày, trung đoàn 271 đã giải phóng, làm chủ hoàn toàn đoạn đường quốc lộ I, từ Lò Xúc đi Chi Phu gần 20 km. Chỉ còn hai cứ điểm nữa Bờ Vét 1, Bờ Vét 2 là đến cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh, Việt Nam chúng ta.

Chiều hôm sau, cả đơn vị lại tiếp tục hành quân về hướng đông theo dọc con đường quốc lộ I. Tôi theo anh Thái và một số cán bộ trung đội trưởng đi trước khảo sát địa hình, nhận mục tiêu cho trận chiến đấu tiếp theo.

Chúng tôi vượt băng qua những cánh đồng rộng mênh mông bao la còn trơ gốc rạ. Nhìn về các làng phía trước mặt, chỉ thấy một vệt mờ mờ xanh cuối chân trời. Đâu đây có tiếng hát, tiếng trống bập bùng qua những chiếc loa điện ở trong phum vọng ra.

 Mùa này nhân dân Cămpuchia đang đón Tết năm mới, (gọi là Tết nước lên) vào ngày 14, 15 tháng 4 dương lịch hàng năm, cũng là tháng khởi đầu của mùa mưa, bắt đầu cho mùa gieo trồng mới (một năm Cămpuchia chia ra làm 2 mùa, 6 tháng mùa mưa gieo trồng, thu hoạch. 6 tháng mùa khô là mùa cưới xin, đi chơi, buôn bán).

Khi tôi đang đi phía ngoài gần bìa phum, bất ngờ có một cháu trai cỡ 11 - 12 tuổi từ trong đó chạy ra đuổi theo tôi và cất tiếng gọi ơi ới, trong tay đang xách một thứ gì đấy.

Tôi chột dạ vội dừng lại; Không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra đây? Mới đầu cảm thấy hơi sờ sợ, nhưng phải một lúc sau đó mới trấn tĩnh lại nghĩ rằng: Sẽ không có chuyện gì nguy hiểm xảy ra, vì đang chạy đến nơi tôi đứng là một đứa trẻ.

Khi vừa đến nơi, cháu vội vàng dúi vào tay tôi một xâu lủng lẳng, đủ các loại bánh: Bánh ích, bánh chuối, bánh nếp... Rồi líu lo nói mấy câu bằng tiếng Cămpuchia và quay đầu chạy trở về ngay. Mọi việc xảy ra quá nhanh, tôi ngỡ ngàng chỉ biết đứng yên như trời trồng, nhìn cháu bé chạy xa dần, xa dần...

Địa điểm mới chúng tôi đóng quân là phum Sóc Nóc. Nơi đây người dân vừa ở sơ tán đã trở về, mọi sinh hoạt ở trong phum trở lại bình thường. Chúng tôi đã có một ít tiền Riêl Cămpuchia, chiến lợi phẩm thu được của địch từ trước đó. Những bữa ăn sau này đã được cải thiện có thịt  lợn, gà, rồi rau xanh và cả bún nữa. Đã lâu lắm rồi, mọi người trong đơn vị mới được thưởng thức các hương vị như những ngày đang ở quê nhà.

 

23-4-1972

Khoảng 9 giờ sáng, cậu Quỳnh đại đội hoả lực 12 ly 7 (C18) hành quân đi qua nơi chúng tôi đang đóng quân. Vừa gặp tôi, cậu ta đem một bọc quà ra và bảo:

- Cậu Nam Nghi Thuận (Trần Ngọc Nam) nhờ tôi chuyển gói quà cho ông đấy.

Thời gian hai chúng tôi gặp nhau không nhiều, chỉ kịp hỏi thăm mấy câu: Anh em trong cùng đại đội huấn luyện chúng mình ai còn, ai mất.

Tôi đã nói với Quỳnh:

- Cậu Tại người Nghi Phú đã hy sinh rồi.

Hai đứa đứng ở ven đường ôm nhau nghẹn ngào, nước mắt chảy dài trên má. Quỳnh đột ngột buông tôi ra quay đầu chạy theo đơn vị của mình tiếp tục hành quân ra phía trước.

Về đến nơi nghỉ, tôi mở gói quà của Nam gửi cho, bên trong là một chiếc đài bán dẫn, một chiếc đồng hồ và một ít tiền Riêl cùng với một bức thư viết trên hộp vỏ bao thuốc lá: "Tao gửi cho mày chiến lợi phẩm thu được ở căn cứ Chi Phu"...

Rất mừng khi biết bạn còn sống và gửi những món quà quý giá cho tôi. Cảm ơn Nam rất nhiều. Tôi quá hiểu, ở nơi chiến trường này, bao khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, ranh giới cái sống cái chết rất mong manh, thế mà bạn đã không quên vẫn nhớ và quan tâm đến mình.

 Tôi bồi hồi xúc động, nỗi nhớ Nam và Hồng tràn về ngập cả trong lòng. Phút chốc những kỷ niệm đẹp về ba đứa chúng tôi ùa về. Giá như bây giờ chúng nó đang có mặt ở đây cùng với mình, mọi buồn vui cùng chia sẻ, như những ngày đang còn ngồi trên ghế nhà trường, trong thời gian huấn luyện và những ngày hành quân suốt dọc Trường Sơn.

Tôi nhớ hai đứa rất nhiều. Kể từ ngày chia tay nhau ở Sóc Đôn Tây sau trận bom của máy bay B52, cho đến nay, ba đứa chưa hề gặp lại.

 

25-4-1972

Chúng tôi hành quân về phía biên giới gần với huyện Bến Cầu, Tây Ninh. Nơi đóng quân là cánh rừng tràm, cây cao độ 7, 8 mét. Bao bọc xung quanh nó là cánh đồng bằng phẳng rộng mênh mông. Mặt đất khô cằn nứt nẻ, trống trụi, không có một cây gì mọc được. Chả là, bây giờ đang còn những ngày cuối cùng của mùa khô.

Tại đây, trong Ban chỉ huy đại đội tôi có sự thay đổi, anh Hà Văn Thái được cấp trên điều về tiểu đoàn giữ chức Tham mưu trưởng tiểu đoàn, anh Nguyễn Văn Thêm ở đơn vị khác về thay anh chỉ huy đại đội.

Ở Ban chỉ huy trung đoàn cũng có sự thay đổi về nhân sự. Anh Đoàn Sáu về nhận công tác ở Bộ tư lệnh Miền, Phó chính uỷ Lê Đình Trân lên đảm nhiệm trọng trách Chính uỷ trung đoàn 271.

28-4-1972

Cả trung đoàn chia làm ba mũi, chuẩn bị tấn công ba mục tiêu quân địch. Tiểu đoàn 7 do tiểu đoàn trưởng Lê Văn Hàn chỉ huy, đảm nhận hai chốt của Bờ Vét 1 và Bờ Vét 2 nằm ngay trên trục đường quốc lộ 1 kéo dài cho đến cửa khẩu Mộc Bài.

Tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Vỵ chỉ huy vượt qua biên giới về Việt Nam tấn công tiêu diệt cứ điểm địch ở ấp An Thạnh phía Tây Nam thị trấn Bến Cầu, Tây Ninh.

Còn tiểu đoàn 8 của tôi do tiểu đoàn trưởng Dương Văn Hiêu và chính trị viên Huỳnh Mười chỉ huy, tiêu diệt quân địch đang chốt giữ ở ấp Rừng Dừa phía Tây Bắc thị trấn Bến Cầu, Tây Ninh.

Độ khoảng 5 giờ chiều, chúng tôi hành quân vượt qua biên giới Cămpuchia - Việt Nam, vượt qua cánh đồng không mông quạnh, trống trải rộng mênh mông, để đi về ấp Rừng Dừa.

Bốt này do lực lượng dân vệ nắm giữ, nằm bên cạnh góc ngã ba con đường ở giữa ấp. Nhiệm vụ của chúng tôi phải tấn công tiêu diệt được mục tiêu này.

Lúc đơn vị chuẩn bị xuất quân, anh Thái vừa từ tiểu đoàn bộ trở về trên cương vị cán bộ lãnh đạo tiểu đoàn xuống chỉ đạo trực tiếp đại đội chúng tôi chiến đấu.

29-4-1972

Gần 3 giờ sáng, mọi người tập kết lại trên bãi đất hoang rộng có nhiều khóm cây lúp xúp ở ngoài cách ấp Rừng Dừa độ khoảng 400 mét. Đêm hôm đó vừa đúng là đêm rằm, nên từ ngoài nhìn vào trong ấp rất rõ. Một con đường lớn chạy dọc ấp, nối ngang nó là những lối ngõ nhỏ chạy sâu vào hai dãy nhà mái tôn. Cả ấp đang chìm sâu trong đêm tĩnh lặng, yên bình của vùng thôn quê.

Phía bên tay trái chúng tôi, cách độ 300 mét có con lộ đất đỏ vắt qua cánh đồng nối từ ấp Rừng Dừa đến thị xã Bến Cầu.

Đây là lần đầu tiên, chúng tôi đánh đồn trong ấp chiến lược. Nên để tránh bị thất lạc và phân biệt được ta và địch ở trong ấp, anh Thái phổ biến mật khẩu chung cho mọi người để nhận ra nhau trong cùng một tiểu đoàn. Mật khẩu hỏi: "Hiêu", đáp là: "Mười". (anh Dương Văn Hiêu tiểu đoàn trưởng, anh Huỳnh Mười  chính trị viên tiểu đoàn).

Để tiêu diệt được bốt địch nằm giữa ấp, tiểu đoàn 8 chia làm hai mũi tấn công ở hai hướng khác nhau. Đại đội 1 đảm nhiệm khu vực cổng phụ nằm ở phía đông bắc của bốt, bên cạnh con đường chạy dọc ấp.

Đại đội 3 chúng tôi đảm nhiệm khu vực cổng chính, nằm bên cạnh ngã ba đường giữa ấp ở phía đông nam bốt. Nơi đó có con đường đối diện nối thẳng ra con lộ đất đỏ chạy về thị trấn Bến Cầu.

Đại đội 2 là thê đội dự bị, với nhiệm vụ: ứng cứu linh hoạt khi đại đội 1 và 3 gặp khó khăn lúc tấn công tiêu diệt bốt ấp Rừng Dừa, đồng thời ngăn chặn quân tiếp viện từ ngoài vào ứng cứu quân địch ở trong đó.

Đại đội 4 hoả lực cối 82, xây dựng trận địa co cụm, hoả lực tập trung, nằm bên ngoài ấp cạnh Ban chỉ huy tiểu đoàn và đại đội 2. Nhằm chi viện hoả lực cho các mũi tấn công vào bốt địch khi cần thiết.

Tham mưu trưởng tiểu đoàn Hà Văn Thái cùng anh Thêm đại đội trưởng, phân công bố trí các trung đội đảm nhận từng mục tiêu, đồng thời tổ chức các trung đội nhanh chóng chia theo từng mũi tiền nhập vào đồn địch ở giữa ngã ấp chiến lược Rừng Dừa.

Bỗng nhiên phía trong ấp tiếng chó sủa rộ lên đồng loạt. Chỉ một lúc sau, trên con lộ đất đỏ có tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng két két của bánh xe trâu lăn, đang vội vàng chạy từ trong đấy sang thị trấn Bến Cầu.

Tôi vội cầm tiểu liên AK lao lên mặt đường. Một đoàn người già, trẻ, gái, trai tay xách nách mang, hoặc quang gánh trên vai, rồi mang vác và đội trên đầu những thứ có thể mang theo được. Tất cả đều hoảng loạn bỏ chạy ra khỏi ấp, để tránh cuộc chiến sắp xảy ra.

Khoảng 5 giờ sáng, tất cả chúng tôi đã tiền nhập sâu vào ấp, đến gần sát hàng rào dây thép gai của đồn. Những khẩu súng đại liên ở trong lô cốt hai bên cổng đồn bắn ra ngoài như vãi đạn dọc theo con đường, chia đôi đội hình của đại đội tôi.

Trung đội 1 và trung đội 2 đã vượt sang bên kia đường, nằm sâu trong ấp, còn trung đội 3 và tiểu đội hoả lực A10 và Ban chỉ huy đại đội đang ở bên này đường.

Địa hình trong ấp chiến lược rất khó khăn cho chúng tôi vận động và quan sát mục tiêu tiêu diệt địch. Các dãy nhà san sát nằm hai bên đường cho đến cạnh cổng đồn có hai lô cốt.

Đặc biệt, giữa các nhà dân thường được ngăn cách nhau bằng một lớp hàng rào dây kẽm gai, càng hạn chế tầm bắn, quan sát vận động tấn công tiêu diệt địch của chúng tôi. Khi các trung đội nổ súng tấn công, những vật chướng ngại đã che khuất mục tiêu rất nhiều, nên không gây sát thương lớn cho địch được.

 Anh Thái và anh Thêm giao nhiệm vụ cho tôi tìm mọi cách vượt qua đường đi bắt liên lạc với hai trung đội phía trong. Tôi chui luồn qua từng hàng rào dây thép gai ngăn cách từng nhà một. Khi đến mép đường trước cổng đồn khoảng 50 mét, đạn của địch bắn ra từ hai lô cốt nghe ràn rạt, chiu chiu trên đầu, đành phải nằm im bất động.

Súng đại liên trong lô cốt vừa ngừng bắn, tôi bất ngờ lao sang bên kia đường, lăn xuống rãnh bên đường chạm vào hàng rào dây thép gai. Bọn địch nổ súng bắn đuổi theo, đạn cày trên mặt đường sau lưng, đất đá bắn tung toé.

 Độ hơn 20 phút sau, chúng vừa ngừng bắn, tranh thủ cơ hội hiếm hoi này, tôi vội nằm ngửa đầu chui vào trước, kéo lê khẩu súng AK sát với mặt đất theo sau, hai tay giơ lên cao chống dây thép gai dưới cùng, nhích từng tý một vào trong vườn nhà dân. Đến đây tôi có thể lom khom hoặc đi thẳng không sợ địch trông thấy được, vì vật che chắn rất nhiều, cản trở tầm quan sát của chúng.

Vượt qua mấy dãy nhà, bắt được liên lạc với hai anh Hưu và Đăng, trung đội trưởng của trung đội 1 và 2. Tôi truyền đạt mệnh lệnh của Ban chỉ huy cho các anh, đồng thời nắm lại tình hình chiến sự, tư tưởng bộ đội trong trận chiến này về báo cáo với các anh Thái, Thêm,Căn.

Trong ấp Rừng Dừa lúc này không  một người dân nào ở lại, tất cả đã rút ra ngoài để tránh bom rơi, đạn lạc. Giờ đây chỉ còn lại những người lính áo màu xanh chúng tôi.

Cả đại đội tôi ai nấy đều căng mắt ra quan sát, theo dõi mọi động tĩnh hoạt động của địch trong đồn để tiêu diệt. Những ngôi nhà, bờ tường bao quanh đồn che lấp tầm quan sát. Có những lúc hai bên ta và địch đứng cạnh nhau, nghe tiếng nói mà không làm gì được.

Chiến đấu đánh địch trên từng địa hình đều có cái khó riêng của nó, nơi rừng núi khác với đồng bằng đô thị, nhưng chỉ có một điểm rất giống nhau, đó là ở nơi nào chúng nó cũng nham hiểm và ngoan cố.

 Nắm được điểm yếu về tầm quan sát của địch rất hạn chế, tôi một mình tung tăng đi lại, lao vào từng nhà một, tìm kiếm những cái gì có thể ăn được đem về cùng anh em trong đơn vị chia sẻ, nhưng xem ra cũng không dễ dàng gì. Lại phải vượt qua con lộ trước cửa đồn để trở về ban chỉ huy đại đội. Tôi tiếp tục áp dụng chiến thuật cũ, nhưng lần này đã tự tin hơn.

Đúng như anh Thái dự đoán, ban đầu là từng loạt pháo dội xuống xung quanh ấp. Sau đó là từng đoàn máy bay A37 thi nhau ném bom xuống cách chúng tôi một khoảng gần 100 mét.

Do có sự chuẩn bị trước, cả đại đội mọi người đều áp sát vào đồn địch, nên pháo và bom địch tuy dội xuống rất nhiều, nhưng anh em chúng tôi không ai bị hề hấn gì.

Cứ sau một đợt pháo và bom, tôi lại tiếp tục vượt sang bên kia đường, nắm tình hình chiến đấu của bộ đội ở đó. Qua nơi trung đội 1 chốt giữ, bộ đội của ta ở đây vẫn bình yên, chưa có ai thương vong. Đến trung đội 2, có cậu Thìn (Nguyễn Văn Thìn) cùng tiểu đội huấn luyện với tôi ở miền Bắc, vừa bị thương ở bên má, do mảnh đạn súng cối cá nhân M79 của địch từ trong chốt bắn ra. Máu chảy ra ướt thẫm đỏ cả cuộn băng trắng bịt kín trên đầu, chỉ còn một mắt bên trái lộ ra.

Nhìn thấy cậu ta đang ngồi dưới con rãnh khô không có nước, đầu ngả vào bờ đất dưới gốc cây điều. Lòng tôi quặn đau và buồn thương cho bạn. Lúc đó vào khoảng 1 giờ chiều, tất cả chúng tôi vẫn chưa một ai kịp ăn gì. Nhất là cậu Thìn lại bị thương rất đau, máu chảy ra khá nhiều.

Đứng tần ngần một lúc, tôi mới sực nhớ: nằm bên cạnh mặt đường trước cổng đồn, có một cửa hàng tạp hoá. Chắc rằng trong ấy phải có sữa và đường. Nhưng chỉ có một điều, vị trí đó hơi nguy hiểm vì địch quan sát ra bên ngoài rất dễ. Trước cảnh ngộ đồng đội bị thương, tôi rất thương cảm và động viên Thìn:

-          Hãy cố gắng chịu đau nhé, đợi Minh đi tìm sữa mang về cho.

 Khi đến gần mặt đường nơi vị trí cửa tiệm tạp hoá, tôi vận dụng kỹ thuật trườn thấp để tiền nhập vào. Lúc này, chỉ cần ló đầu nhấp nhô lên cao một chút thôi, ngay tức thì trong chớp mắt tôi phải nhận cả hàng trăm viên đạn ở hai lô cốt bắn ra.

Trong tiệm tạp hoá tôi kiếm mãi mới thấy được một hộp sữa, riêng đường trắng thì rất nhiều cả một bao tải mấy chục ký, không thể mang nó trở về được.

Tôi nhìn thấy tấm vải đang che quầy hàng, vừa với tay nắm giật xuống để gói một ít đường đem về cho đồng đội. Bất ngờ một loạt đại liên bắn vào cửa tiệm. Đạn bay chíu chíu, sàn sạt bên tai tôi, cắm phầm phập vào bức tường phía sau lưng thủng từng mảng một, vôi vữa bay tung toé. Tôi vội vàng nhoài người nằm xuống, đạn vẫn bay phía trên, trúng vào bao tải đường nghe "phụp" "phụp"…, khoảng 1/3 bao phía trên bị vỡ tung, đường trắng bắn vung vãi xung quanh.

Tôi thật sự thấy hoảng sợ, vì nơi đây khá kín đáo và vắng vẻ, nếu có xảy ra chuyện gì, chắc mọi người không biết ở đâu mà tìm.

Nằm im một lúc để bọn địch nghĩ mình đã chết, tôi xúc vội một ít đường bỏ vào chiếc mũ mềm và không quên hộp sữa cho cậu Thìn, thật nhẹ nhàng áp người sát mặt đất bò nhích từng đoạn ngắn, vượt qua các lớp rào dây thép gai, để đem sữa, đường về.

Đến chiều khoảng 4 giờ, hai xạ thủ B41 và B40 của tiểu đội hoả lực, bí mật tiền nhập sát cạnh mép đường trước mặt cổng chính, đồng loạt nổ súng bắn tiêu diệt hai lô cốt đầu cầu. Quân địch bị mất hai trọng điểm hoả lực, nên chống cự yếu ớt rồi lắng dần.

Song chúng tôi không xông vào trong chốt vì nhiệm vụ được giao cho đại đội tôi là: Chốt chặn, dùng hoả lực áp đảo quân địch đầu hàng. Hơn nữa, phía trước là mặt đường bằng phẳng trống trải, góc mở cho bộ đội ta tiến vào rất hẹp, cổng vào bị hai cánh cửa sắt đã khoá chặt đang án ngữ, còn phía bên ngoài có rất nhiều lớp rào bùng nhùng trên mặt đường không cho phép chúng tôi vận động tấn công được.

Sau khi hai lô cốt đầu cầu bị tiêu diệt, máy bay địch bất ngờ đến ném bom dữ dội xuống ngoài bìa ấp, nhưng lần này khoảng cách bom nổ gần chúng tôi hơn. Trời tối dần, máy bay cũng rút về, cả đơn vị được lệnh tập kết ra ngoài bãi đất rộng, nơi mà sáng nay anh em đã tập trung.

Đại đội trưởng Thêm tổ chức điểm quân, thấy còn thiếu trung đội 3 do anh Thiết chỉ huy (anh Thiết thay anh Đăng do bị thương trận trước). Tôi nói với anh Thêm:

- Khi anh phát lệnh rút quân, em đã truyền đạt lệnh cho anh Thiết rồi...

Ở trong ấp lúc này, những đống rơm, rạ cháy "phùn phụt"… tiếng "đốp" "đốp" của những cây tre khô nổ phát ra. Khói bay nghi ngút chiếu sáng cả một góc trời.

Thấp thoáng qua ánh lửa, tôi thấy có mấy bóng người vụt qua, và đinh ninh rằng: Đây là trung đội anh Thiết đang tìm đường rút về. Nhưng sao lại đi chệch hướng ra phía con lộ. Tôi chỉ kịp báo với các anh trong ban chỉ huy:

- Đã phát hiện ra trung đội 3 bị lạc rồi, em ra đón các anh ấy đây.

Không kịp chuẩn bị gì thêm, tôi một mình ôm súng lao đến, khi chỉ còn cách nhóm người đang vội vã chạy dọc theo bờ ruộng khoảng 15 mét, tôi dừng lại, nằm gác nòng súng lên, mở khoá an toàn và miệng hô mật khẩu: "Hiêu", "Hiêu"... Vẫn không thấy ai trả lời, khoảng cách giữa hai bên mỗi lúc càng gần hơn. Tôi tiếp tục hô: "Hiêu", "Hiêu"....

Đến lúc này đã tôi nghe được tiếng đáp lại: Hờ, hờ....

Trong bụng nghĩ rằng: Đối phương đã đáp đúng mật khẩu "Mười" rồi. Nhưng vẫn cứ bán tín bán nghi, nên tiếp tục hô tiếp: "Hiêu", "Hiêu". Tiếng trả lời vẫn là "Hờ, Hờ..." Đinh ninh đây đúng là quân mình, chứ không phải quân địch, tôi đứng dậy khoá an toàn khẩu tiểu liên AK lại và gọi:

- Anh Thiết ơi!

Lúc này, tốp người đó đã đến sát gần tôi. Qua ánh lửa cháy bùng bùng trong ấp rọi ra, nhìn thấy trên đầu họ có ánh sáng loang loáng phản chiếu của những chiếc mũ sắt. Tôi sửng sốt giật mình thét lên theo phản xạ tự nhiên:

- Ơ, ơ… địch rồi.

Khoảng cách giữa hai bên chỉ còn lại hơn 1 mét. Tên đi đầu cũng giật mình hoảng hốt rồi lắp bắp:

- Em, em…

Khi trông thấy nòng súng tiểu liên AK đang chĩa về phía chúng, tên thứ hai đang ở phía sau bất ngờ quay khẩu súng Cacbin về hướng trước mặt mình.

Tôi vội vàng bóp cò súng nhưng nó cứng ngắc không hề nhúc nhích, đạn không nổ. Cảm nhận được cái chết cận kề, tôi chỉ kịp hô to:

- Đứng lại, giơ tay lên…

Ngay sau tiếng hô đó, một chùm tia sáng phụt ra ngay trước mặt. Một tiếng nổ "đoàng" vang lên ù tai, một luồng gió rất mạnh thổi hất tôi ngã ngửa về phía sau.

Nằm trên mặt đất một lúc thì tỉnh lại, việc đầu tiên là lấy hai tay sờ vào đầu và khắp người thấy người mình vẫn còn nguyên vẹn. Tôi buột miệng reo lên:

- Mẹ ơi, con vẫn sống!

Vớ lấy khẩu AK bên cạnh tôi nhổm dậy, đã thấy bọn địch  chạy cách xa mình khoảng 10 mét, may mà đêm ấy trăng rất sáng.

Đấy là đêm 16-3-1972 âm lịch (sau này khi mở lịch ra xem, một điều kỳ diệu rất khó tin: Thời điểm người lính Sài Gòn bắn tôi suýt chết lúc đó, trùng đúng ngày, giờ và cả tháng sinh âm lịch của tôi, 19 giờ ngày 16 tháng 3 năm 1952). Phải chăng thần chết đã thương tình tha cho?

Giương súng về phía địch bóp cò mấy lần, nhưng đạn vẫn không nổ, tôi mới chợt nhớ ra: "À mình chưa mở khoá an toàn súng".

Một động tác rất nhanh, tôi đưa ngón tay cái  lẩy mạnh chốt an toàn nghe cái "roạch" và bóp cò. Nhưng đạn trong súng tôi chỉ bắn ra từng viên một: "Pằng, pằng".

Lúc này, tốp lính đã chạy cách xa hơn 15 mét, trấn tĩnh lại  mới nhớ ra rằng: Do mình kéo chốt an toàn quá mạnh, nên chốt súng đang nằm ở vị trí bắn phát một.

Lấy ngón tay trỏ phải nâng khoá an toàn lên nấc liên thanh và bóp cò, những viên đạn vạch đường (trong hộp đạn của tôi, cứ 5 viên đạn thường có một viên đạn lửa vạch đường) của tôi vút lên đuổi theo bọn địch bỏ chạy ở phía trước thục mạng.

Khoảng cách lúc này giữa hai bên độ 25 đến 30 mét. Tôi vừa chạy đuổi vừa bắn và hô vang:

- Đứng lại, giơ tay lên!

Ngay ở phía sau tôi, tiếng hô của ai đó vang lên:

- Trung đội 1 bên phải, trung đội 2 bên trái, trung đội 3 ở giữa, theo tôi xung phong truy kích địch.

Khi tiếng hô đó đến gần hơn, tôi nhận ra đấy là Coỏng, bạn liên lạc cùng đại đội bộ. Cậu ta vừa chạy vừa thở hổn hển bảo:

- Minh ơi, cậu có sao không?

- Mình không sao cả. - Tôi trả lời.

Bất ngờ có 3 viên đạn màu tím vụt bay lên trời ngay dưới chân con lộ phía trước mặt chúng tôi. Không ai bảo ai, hai đứa chia ra làm hai hướng xông thẳng lên.

Khi đến gần sát mặt đường, phía dưới nó có một cống khô nước, tôi chĩa nòng súng vào đấy và bóp cò, đồng thời nhảy vút qua. Sau loạt đạn cuối cùng này, không gian im bặt tiếng súng. Chỉ có tiếng lửa cháy phừng phực, lép bép của những ngôi nhà trong ấp là nghe rõ.

Hai đứa chúng tôi quay trở về đơn vị, trên đường đi, chân tôi đá phải khẩu súng rất lạ, nòng to ngắn nhưng bẻ gãy gập xuống được. Tôi bảo với Coỏng:

- Mình vứt khẩu súng gãy này đi, đem về làm gì mang vác cho thêm nặng.

Sau này tôi mới biết: Đó là khẩu súng cối cá nhân M79 của Mỹ bắn đạn 40 ly. Muốn cho đạn vào nòng được, phải lẫy chốt bẻ gập nòng súng lại, như cho đạn chì vào súng hơi.

Tôi hỏi Coỏng:

- Tôi đã nghe thấy có tiếng hô: Trung đội 1, trung đội 2 xung phong cơ mà? Vậy sao chỉ có một mình ông đến đây.

Coỏng trả lời:

- Minh biết không! Khi cậu vừa xách súng chạy đi một lúc thì có tiếng súng nổ kèm theo tiếng hô: "Đứng lại giơ tay lên" về hướng đó. Mọi người đang tập kết thu quân, rất bất ngờ lo lắng, anh Thái la lên: "Thôi chết! Địch bắt sống cậu Minh rồi".

Vừa mới nghe đến đó, tôi vội vàng ôm súng chạy đuổi theo cậu, vừa chạy vừa hô vang nhằm để nghi binh địch, để kịp thời giải thoát cho Minh, nhưng khi gặp được nhau thấy còn nguyên vẹn, tôi mừng quá.

Trong cổ họng tôi lúc đó nghẹn lên không nói được lời nào để cảm ơn Coỏng. Hai mắt nhoà đi, nước mắt lăn dài trên má, vì tình yêu thương đùm bọc của đồng đội, cụ thể là Coỏng, người bạn thân thiết của mình, đã không bỏ rơi nhau trong lúc nguy nan, quên mình đang còn nguy hiểm, xông lên chia lửa chi viện cứu nguy cho tôi. Cảm ơn Coỏng(1), cảm ơn anh em và cảm ơn tất cả đồng đội yêu thương của tôi.

Cho đến bây giờ, sau thời gian 35 năm, những lời nói, hành động cử chỉ đó vẫn hiện lên in sâu vào tâm trí tôi như chuyện vừa mới xảy ra.

Trận chiến đấu với địch ở ấp Rừng Dầu, Bến Cầu, Tây Ninh trong đại đội tôi lại có thêm một người nữa hy sinh, đó là anh Vũ Đình Ngọc quê ở Quảng Châu, Quảng Xương, Thanh Hoá. Ngoài ra, còn có hơn 10 người bị thương, trong đó có anh Trần Đức Căn chính trị viên trưởng, anh Nguyễn Văn Thụ, chính trị viên phó đại đội.

Độ khoảng 22 giờ ngày 29-4-1972, cả đại đội tôi được lệnh rút về phum Sóc Nóc, Cămpuchia. Tất cả chúng tôi ai nấy đều buồn rười rượi, trầm lặng hẳn đi, chỉ lầm lũi bước, khi cáng những người hy sinh, bị thương trở về. Mọi người lặng im không một tiếng nói cười.

Khi đang còn hành quân đi cắt qua cánh đồng dưa, cơn khát trong họng tôi bất ngờ trỗi dậy. Bởi cả một ngày quần nhau đánh địch không nghỉ, rồi đồng đội bị thương, thương vong, ai nấy đều quên ăn, quên uống. Giờ đây chúng tôi đang bước đi trên cánh đồng dưa đầy quả đang chuẩn bị vào mùa thu hoạch, làm sao mà có thể bỏ qua được. Rất nhanh chóng, tất cả mọi người đều tranh thủ tìm cho mình một quả to nhất để thưởng thức.

Khi cầm những quả dưa trên tay, vì không có dao nên mọi người cứ loay hoay, xoay xở không biết làm cách nào để ăn nó được. Nếu đưa vào miệng cắn thì nó lớn hơn miệng rất nhiều, xem ra đa số mọi người đều có vẻ đầu hàng. Có miếng ăn trên tay mà đành phải chịu.

Với tôi không có gì đáng ngại cả, hai tay cầm quả dưa đập mạnh vào tay cầm lên đạn nhô ra ngoài của súng tiểu liên AK, rồi giật mạnh. Quả dưa vỡ ra, cứ thế đều đều đánh đến căng tròn bụng, gần hết cả một quả dưa to, mát, ngọt lịm.

Phương pháp ăn dưa không cần dao này nhanh chóng được phổ biến cho tất cả mọi người. Giờ đây ai nấy đều thấy, cái đói khát nóng bức đã bị xua bớt đi, sự mệt nhọc đã được vơi đi nhiều.

 

30-4-1972

Khoảng 7 giờ 30 sáng, chúng tôi hành quân về đến đường quốc lộ 1 thuộc địa phận Bờ Vét, tôi nhìn thấy xác lính Sài Gòn rải đầy trên các bờ ruộng, mặt ruộng và mặt đường. Chúng chết ở rất nhiều tư thế khác nhau, nằm sấp, nằm ngửa, cúi lom khom. Màu da trên mặt và bụng đã chuyển màu xám ngắt, đồ đạc vứt bừa bãi trên đường dưới ruộng ngổn ngang.

Đó là kết quả trận đánh ngày hôm qua của bộ đội tiểu đoàn 7 thuộc trung đoàn 271 anh hùng. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, trung đoàn chúng tôi cùng một vài đơn vị bạn, đã chiến đấu giải phóng một khu vực rộng lớn dọc theo con đường từ Lò Xúc đến cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh dài gần 30km.

Đại đội 3 lại về đóng quân ở phum Sóc Nóc, nơi đây tôi đã gặp Quỳnh ở đại đội C18 bạn cùng quê, khi hành quân đi qua. Hai đứa rất vui mừng nhìn thấy nhau đều còn đang nguyên vẹn. Nhưng niềm vui ấy đến với chúng tôi không lâu, lúc cậu ta thông báo:

- Trần Văn Hồng (bạn thân của tôi) liên lạc cho anh Hàn tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 7 và anh Trần Kim Trọng ở C2, D9, đã hy sinh anh dũng trong trận chiến đấu với quân địch vào buổi chiều ngày hôm qua rồi.

Vừa mới nghe đến đây, tôi ôm chặt lấy Quỳnh nước mắt chảy giàn giụa. Cậu ta cũng sụt sùi gục vào vai tôi, thế là ba đứa chúng tôi Minh, Hồng, Nam, giờ đây chỉ còn lại hai đứa: Đó là tôi và Nam, nỗi đau mất bạn, bóp nghẹt trái tim tôi. Cái buổi chia tay của ba đứa hôm nào, sau trận B52 tại Sóc Đôn Tây lại là buổi chia tay cuối cùng với Hồng.

Giờ đây, thật sự bạn phải nằm lại mãi mãi trên mảnh đất xa lạ này. Không một người thân đưa tiễn, chỉ có những người  đồng đội thay mặt tất cả đưa tiễn bạn thôi. Nam ơi! Cậu đã biết tin Hồng và anh Trọng hy sinh chưa? Hãy cố gắng bảo trọng nhé. Mình biết cuộc chiến đấu gay go, ác liệt này còn kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc.

Khi tôi trấn tĩnh lại, Quỳnh kể rằng: Buổi sáng ngày hôm qua (29-4-1972) vào khoảng 9 giờ rưỡi, trong lúc bộ đội tiểu đoàn 7 đang xung phong, tấn công tiêu diệt và truy đuổi địch tháo chạy ở trên cánh đồng trống trải của thị trấn Bờ Vét, Hồng bị máy bay C130 nhào xuống bắn như vãi đạn. Một viên đạn xuyên qua bụng anh, ruột đổ ra ngoài, máu chảy ướt cả áo và quần ở phần bụng dưới.

Hồng ngã xuống một lúc rồi tỉnh dậy, anh bình tĩnh lấy tay nhét ruột đang đổ ra ngoài vào trong bụng. Sau đó lấy mũ vải mềm tai bèo đang đội trên đầu xuống che kín vùng bị thương rồi chạy tiếp, nhưng chỉ được một bước thôi, anh đã gục hẳn.

Bộ đội cứu thương nhanh chóng sơ cứu chuyển anh về bệnh viện tiền phương K20 của Miền. Đến 4 giờ rưỡi chiều, anh trút hơi thở cuối cùng và ra đi mãi mãi. Sự mất mát này đối với tôi đau đớn vô cùng.

Trong thời gian chúng tôi nghỉ ở Sóc Nóc, quân số trong đại đội giờ đây chưa được 40 người. Cán bộ chỉ huy các cấp bị thiếu nghiêm trọng.

Anh Lê Xuân Hưu trung đội trưởng trung đội 1 được điều lên giữ chức chính trị viên trưởng đại đội, thay anh Trần Đức Căn, anh Phạm Vinh trung đội trưởng trung đội 2, Trần Xuân Coỏng về trung đội 1 giữ chức trung đội phó, anh Nguyễn Văn Tài nuôi quân về trung đội 1 giữ chức tiểu đội trưởng.

6-5-1972

Vào khoảng 4 giờ 30 chiều, cả đơn vị rời Sóc Nóc để đi về vùng đất Long An thân yêu. Chặng đường đi khá dài của chúng tôi phải vượt qua Trà Cao nơi quân đội Việt Nam Cộng hoà đang chiếm giữ. Đồn này nằm ở vị trí rất hiểm yếu, nhằm án ngữ cả con đường tiến quân của ta từ Cămpuchia về Long An.

Qua được đồn Trà Cao, chúng tôi hành quân vượt qua cánh đồng Chó Ngáp tiếng Cămpuchia gọi là Ba Thu (người ta bảo cánh đồng này rộng dài tới mức, không một con chó nào chạy vượt qua, nếu có qua được, không chết thì cũng chỉ còn nằm mà ngáp).

Chúng tôi nghỉ tại một khu vườn trong ấp chiến lược bỏ hoang, không có người và súc vật, nhà cửa hầu như bị bom đìa đốt cháy hết rồi. Nơi đó, cách bờ sông Vàm Cỏ Đông về phía đông không xa. Ở đây thuộc xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ. Bên kia bờ sông thuộc nhà máy đường Hiệp Hoà, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An.

 

7-5-1972

Khoảng 12 giờ đêm, chúng tôi vượt sông Vàm Cỏ, vì theo quy luật hoạt động của địch, vào những giờ này chúng ít khi đi tàu tuần tra. Trên bờ sông là những cây tràm tán cao đến 5,7 mét, phía dưới nó là những bụi cây cơm nguội lá xanh phủ kín từ mặt đất lên cao gần đầu chúng tôi. ở nơi đây, hầu hết là bãi sình, lầy, để ra được bờ sông, buộc phải lần mò đi trên bờ đất của những con kênh nhỏ.

Trên mặt sông ven bờ có rất nhiều thuyền gỗ 3 lá, trông như tàu lá dừa đang nổi dập dềnh, nhấp nhô trên mặt sông Vàm Cỏ.

Đâu đây từ dưới mặt sông vọng lên tiếng mời chào của các cô, chị mời chúng tôi xuống thuyền để vượt sang bên kia bờ. Những giọng nói nghe rất nhẹ nhàng, dịu dàng, trìu mến, thân thương, không ồn ào sôi động dưới ánh trăng sáng trắng, mờ mờ, dìu dịu.

Lâu lắm rồi, hôm nay chúng tôi mới được gặp và nghe các má, các chị người Việt mình nói. Những ngày chiến đấu trên nước bạn, được trở về mảnh đất thân yêu của Tổ quốc mới thấy được giá trị thiêng liêng, quý giá của nó. Không có gì so sánh và đổi được, ý thức đó ăn sâu vào tâm trí tôi mãi mãi.

Con thuyền ba lá mong manh, chòng chành khi tôi vừa bước chân lên. Cả ba anh em chỉ ngồi vào được theo một hàng dọc, súng cầm trong tay. Rất may, đồ đạc ba lô chúng tôi đã để lại ở nơi vị trí vừa đóng quân, chứ nếu có mang theo, với chiếc thuyền bé tý xíu này, làm sao đưa hết mọi người qua sông được.

Nước cứ mấp mé sát mạn thuyền, tưởng như lúc nào con sông rộng đang chảy và nhấp nhô sóng nước cũng sắp nuốt chửng anh em chúng tôi. Tuy vậy, tất cả mọi người vẫn bình an vô sự, bởi có sự điều khiển chèo thuyền rất thiện nghệ của người dân Long An vùng Đức Hòa, Đức Huệ.

Người cầm lái và chèo thuyền cho tôi là một cô gái không nhìn rõ mặt, mà chỉ thấy được chiếc khăn rằn đang quấn trên đầu, còn trên mình khoác bộ bà ba màu đen. Tôi đoán cô gái này rất trẻ, bởi nghe qua giọng nói: "Các anh bộ đội cứ an tâm ngồi yên nhé. Chỉ một chút xíu thôi, em sẽ đưa các anh tới bờ bên kia".

Hai người bạn cùng thuyền ríu rít bắt chuyện với cô gái. Qua những câu trả lời , tôi nghe loáng thoáng cô gái ấy quê ở Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, Long An.

Còn tôi cứ mải mê nhìn xuống dòng sông lấp lánh ánh trăng, nơi đó đang có những mảng lục bình lững lờ nối theo nhau trôi về phía hạ nguồn.

Mặt sông xung quanh tôi dày đặc thuyền ba lá, nghe rộn ràng tiếng "oàm oạp, oàm oạp" của những mái chèo khua nước trong đêm, hối hả đưa chúng tôi qua sông. Đây là lần thứ hai, tôi cùng bạn bè, đồng đội lại trở về với dòng sông Vàm Cỏ.

Chúng tôi lại tiếp tục hành quân về phía đông của con sông, sau đó đi về theo hướng ngược dòng. Dọc hai bên bờ chủ yếu là sình lầy, nên việc đi lại của bộ đội ta gặp rất nhiều khó khăn.

Nơi chúng tôi đóng quân nằm ở phía sau nhà máy đường Hiệp Hoà, trên các bờ kênh rạch nhỏ của bãi sình. Thời gian còn lại đến lúc trời sáng không còn nhiều, ai nấy đều rất mệt mỏi và buồn ngủ vì cả một đêm hành quân thức trắng. Tuy vậy, việc đào công sự không vì thế mà bỏ qua được. Bởi vậy, vừa chiếm lĩnh trận địa, tất cả mọi người đều tranh thủ triển khai công việc ngay để cho kịp trước lúc trời sáng.

Ban ngày trên bầu trời, các loại máy bay trinh sát quần đảo liên tục, luôn lùng sục rình mò bộ đội ta. Bên dưới sông các tàu tuần tiễu của địch chạy qua chạy lại không lúc nào nghỉ.

 

8-5-1972

Trời vừa sáng, lúc đó chưa ai kịp chợp mắt thì lực lượng địch trên tàu dưới sông bắn đạn về phía chúng tôi ầm ầm. Tiếng đạn nổ ào ào, liên tục kéo dài theo từng hồi một, cắt đứt rất nhiều thân cây tràm và thân cây cơm nguội ở bờ rạch.

Những viên đạn DKZ 90 trên các tàu tuần tiễu của quân đội Việt Nam Cộng hoà đang chạy dưới sông bắn ra nổ "oàng, oàng", phá tan một khoảng bờ kênh, bùn đất bay lên trời rào rào, nhưng bọn lính dưới tàu vẫn không dám lên bờ vì sợ quân ta tiêu diệt.

Chúng cứ chạy đi chạy lại trên mặt sông, thi nhau bắn đạn thả giàn cho đến chán mới chịu dừng lại, quay đầu chạy lùi về gọi máy bay A37 đến ném bom.

Vừa qua được một trận mưa đạn của quân địch dưới tàu bắn lên, giờ đây chúng tôi lại hứng chịu hàng loạt bom trên máy bay ném xuống. Công sự trong bờ kênh lắc lư đung đưa liên tục, trời đất mù mịt bùn đất.

Tôi không phân biệt được những tiếng bom nổ nữa. Tai đã ù hẳn, ngực bị bóp nghẹt rất tức và khó thở, bởi vì bom nổ quá gần. Rất may, trước đó ai nấy đều đã xây dựng cho mình một công sự khá chắc, cho nên cả ngày hôm ấy cả đội tôi không ai bị thương vong.

 9-5-1972

Chúng tôi đã có mặt ở Gò Nổi thuộc xã An Ninh Tây, Đức Hòa, Long An. Dưới ánh sáng trăng, nhìn từ dưới bờ sông lên gò cao có một khoảng đất trống rộng, bao quanh nó là những bụi cây mọc lúp xúp, nơi đấy có hai cây cao vượt trội hẳn lên. Đấy là điểm chuẩn để tập kết của đơn vị. Nếu có ai đó bị thất lạc, cứ nhìn thấy hai cây cao đó mà tìm về. Khi đến nơi, tôi mới phát hiện đấy là hai cây duổi.

Nhắc đến Gò Nổi là nói lên bao nhiều điều vui buồn của các cán bộ chiến sĩ trung đoàn chúng tôi. Trong đó niềm vui thì ít, nhưng nỗi buồn thì rất nhiều. Mảnh đất nơi đây đã trộn đầy máu xương của những người con yêu quý miền Bắc. Họ là những chiến sĩ thuộc trung đoàn 271 đã vĩnh viễn nằm yên nghỉ tại đây. Ngay như xung quanh hai gốc cây duổi đó thôi, phải đến hơn chục anh đang nằm lại đó.

Máu của chúng tôi đã thấm đỏ trên từng mét đất ở quê hương xa xôi này, tất cả vì công cuộc thống nhất đất nước.

Có thể ngày đất nước được thái hoà một số hài cốt các anh may mắn tìm được đưa về an táng ở các nghĩa trang. Nhưng còn rất nhiều, rất nhiều anh, thịt xương đã hoà trộn trong mảnh đất này, trong đó có những người bạn thân của tôi.

Giờ đây ngồi tưởng nhớ lại các anh, mong các anh hãy tha thứ. Tại những thời điểm khó khăn, gian khổ, ác liệt đó, đồng đội của chúng ta chưa chu đáo trọn vẹn với các anh được. Sơ suất rất nhiều khi đánh dấu vị trí các anh yên nghỉ. Bởi cuộc chiến lúc đó quá cam go, khốc liệt. Cầu mong cho linh hồn của các anh ở dưới suối vàng nhẹ nhàng, thanh thản, siêu thoát.

 

10-5-1972

4 giờ 30 phút sáng, chúng tôi có mặt tại ấp An Thuận, xã An Ninh Đông, huyện Đức Hoà, cách thị xã Hậu Nghĩa khoảng 12 km về phía Tây Bắc, cách ngã ba Lộc Giang 7 km về phía Tây Nam.

Ấp An Thuận nằm ở một vị trí đặc biệt: Về phía tây cách đó khoảng 5 km có con sông Vàm Cỏ, về phía đông có con đường 10 kéo dài từ thị trấn Đức Hoà qua Hậu Nghĩa, ngã ba Lộc Giang đến Tây Ninh.

Do nằm ở vị trí hiểm yếu, nên địch đã bố trí các chốt bao quanh. Phía tây chốt An Thuận, phía nam có chốt Rừng Tre, La Cua. Phía tây bắc có bốt Rạch Gần. Phía đông sát lộ 10 có bốt An Hiệp.

Khi chúng tôi tiến quân vào trong ấp An Thuận, ở đó không thấy một bóng người, chỉ có mấy cô du kích dẫn đường là người địa phương.

Ban chỉ huy Đại đội 3 đóng quân trong nhà má Hai Quân. Bao bọc xung quanh vườn là dãy giao thông hào, do mưa nắng lâu ngày cát bụi lấp gần đầy. Mép bờ phía ngoài được che chắn bằng những bụi tre già. Ngôi nhà mái tôn, tường gạch vôi trắng có những mảng vỡ lớn do trận bom đìa của tháng trước đó vừa mới được sửa sang lại nằm ở giữa vườn.

Rồi một ngày khá bình yên đã trôi qua. Khi hoàng hôn vừa buông xuống, ở trong bờ tre nhìn dọc theo con đường nhỏ bắt từ cổng nhà ra phía trước, trong ánh sáng mờ mờ, nhạt nhạt của trời bắt đầu đã về tối, tôi bắt gặp một nhóm người gồng gánh, gánh gánh, theo sau có mấy đứa trẻ đang chạy lon ton. Tất cả rất vội vàng đi về nơi chúng tôi chốt giữ.

Mọi người trong đơn vị lặng im chăm chú quan sát tất cả mọi hành vi thay đổi bất thường của nhóm người này. Có lẽ họ cũng đã quen với sự đề cao cảnh giác cũng như luôn luôn sẵn sàng chiến đấu của bộ đội giải phóng, nên khi gần đến chúng tôi, một người phụ nữ trung tuổi trong nhóm đó chủ động cất tiếng:

- Chào các con, má Hai Quân đây! Má và Sáu Tiệm cùng sắp nhỏ về thăm các con đây!

Rồi bà ta lấy tay chỉ từng người nói:

- Đây là Hai Tặng và sắp nhỏ này là con của má, còn kia là má Mười Hét, Hai Mến, Tư Phiên, và Tư Lập, Sáu Tiệm cùng sắp nhỏ của con Sáu đó.

Biết chắc không có gì nguy hiểm, tôi nhảy ra ngoài bờ tre chào đón các má và các chị, cùng các cháu đã trở về nhà.

Khi gặp được chúng tôi là những người lính vừa từ miền Bắc vào, các má và các chị xuýt xoa khen bộ đội miền Bắc đứa nào cũng trẻ đẹp sáng sủa. Thương chúng nó đã vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ vất vả, hy sinh, đã băng rừng, lội suối, vượt dốc cả hàng nghìn cây số mới về đến vùng đất này, về với má và các chị, về với bà con cô bác lâu nay đang mong chờ chúng tôi.

Má và các chị kể:

- Lâu nay bọn địch ở đây bố ráp thường xuyên, luôn luôn lùng tìm các gia đình cơ sở, cán bộ cách mạng, làm khó dễ cho dân rất nhiều. Các con biết không? ở đây vẫn có tổ chức chi bộ Đảng rất mạnh đấy, mà anh Năm Liêm là bí thư. Chỉ có một điều, chưa được hoạt động công khai thôi. Hôm nay các con về đây, má và các chị cùng bà con mừng lắm. À chút xíu nữa thì quên, có một chút quà nhỏ mang về cho các con đây!

Rồi ngay sau đó, mọi người lôi từ trong thúng ra những gói nhỏ bọc trong bịch ni lông. Vẫn má Hai Quân nói:

- Tụi bay biết không, bọn địch nó kiểm tra mọi người lúc trở về gắt gao quá trời, má và các chị tìm mọi lý do mới mang về được chút xíu đó.

Chúng tôi rất ngỡ ngàng cảm ơn má và các chị rối rít. Tôi cầm lấy gói quà và mở ra, đó là gói mắm tôm khô trộn với thịt lợn. Món ăn thật ngon vì đã lâu lắm rồi hôm nay chúng tôi mới được thưởng thức.

Mải vui mừng phấn khởi khi gặp chúng tôi, chị Sáu Tiệm và chị Tư Lập mới nhớ ra chưa về nhà mình, hai chị vui vẻ chào tạm biệt. Vừa đi được một đoạn, chị Sáu còn ngoái cổ lại nói:

- Nhà chị đó các em, nhớ sang thăm nhé!

Lúc này nhìn kỹ vào hai chiếc thúng trên đôi quang của chị, có hai đứa nhỏ đang ngồi trong đó, còn lại một đứa lớn chạy lon ton theo sau.

Những ngày tiếp đó, khi đã quen biết thân thiện, tôi mới biết về hoàn cảnh gia đình của chị. Chị có ba cháu nhỏ, chồng bị bắt lính quân dịch. Anh rất hiền lành và chân chất, mộc mạc đặc trưng của người dân Nam Bộ. Tuy phải đi lính, nhưng chưa làm điều gì có hại cho cách mạng.

Sau này anh ngã bệnh chết, còn lại một mình chị phải gồng gánh nuôi ba đứa con. Cuộc sống quá nhiều gian nan vất vả, vừa phải kiếm sống cho mình và nuôi con, vừa phải thường xuyên liên tục chạy tránh bom đạn khi cuộc chiến đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên mảnh đất quê hương của mình. Nhưng chị vẫn tích cực tham gia cách mạng bất chấp mọi hiểm nguy cùng với mọi người vận chuyển hàng tấn vũ khí lương thực, thực phẩm cho bộ đội ta trong lòng địch. 

 

12-5-1972

Trời còn chưa sáng rõ, má Hai Quân và những người dân nơi đây lại trở về vùng địch hậu, nơi đó ban ngày hầu như không có bom đạn. Giờ đây, trong ấp chỉ còn lại anh em đồng đội chúng tôi.

Khoảng 7 giờ 30, một tốp lính nguỵ đã xuất hiện ở đầu ấp An Thuận, cả đại đội tôi được báo động khẩn cấp.

Từ bờ tre nhà má Hai Quân nhìn ra, tôi thấy cả một đại đội địch, đầu đội mũ sắt vai mang ba lô tay cầm súng AR 15, quanh thắt lưng giắt đầy lựu đạn và bình tông đựng nước. Có người còn khoác thêm trên vai một khẩu súng M72 chống tăng, hay một khẩu cối cá nhân M79. Chúng đi theo đội hình hai hàng dọc, thẳng tiến về hướng chúng tôi, nhưng hơi chếch sang tay phải.

Đại đội tôi đã triển khai chiến đấu, đợi cho đối phương tiến vào cách tổ tiền tiêu độ khoảng 10 mét, tất cả chúng tôi đồng loạt nổ súng. Quân địch bị bất ngờ bỏ chạy toán loạn lùi về phía sau, một số nấp vội ở các bờ ruộng nổ súng chống trả quyết liệt.

Một cuộc đấu súng tập thể giữa hai bên rất căng thẳng kéo dài, lợi dụng những bờ đất cao, chúng tranh thủ vận chuyển những người lính đã chết và bị thương lùi về phía sau. Rồi tiếng súng hai bên thưa dần cho đến khoảng gần 10 giờ thì ngừng hẳn.

Tôi biết phía bên kia bờ ruộng trước mặt có một người lính bị thương nặng. Khi tiếng súng của hai bên đang còn nổ giòn giã, tiếng la của người lính đó vang lên:

- Má ơi, con chết mất thôi, con bị thương rồi...

Nghe tiếng kêu la não ruột của người lính Sài Gòn bị thương, lòng tôi bỗng dưng thắt quặn lại. Thương cảm cho một kiếp người, thương cảm cho tôi, cho đồng đội tôi và tất cả những người đang còn tham gia chiến trận, nếu cũng rơi vào trường hợp như vậy. Người lính đó với chúng tôi chưa một lần gặp mặt, chưa một lần quen biết. Thế mà...

Lúc này bọn địch còn lại đã rút ra ngoài xa và đang bắn vào xối xả, tuy không căng lắm nhưng vẫn còn nguy hiểm, nên tôi không thể ra bắt người lính kia vào được. Sau đó chỉ một lúc, cả phi đội máy bay A37 gồm ba chiếc lao đến tới tấp dội bom vào đội hình đơn vị chúng tôi đang chốt giữ.

4 giờ 30 chiều, khi bọn địch dưới mặt đất và trên không hoàn toàn rút hẳn, tôi lao mình ra nơi người lính Sài Gòn bị thương để bắt sống. Nhưng khi vừa nhảy được sang bên kia bờ ruộng, thì thấy anh ta đã nằm chết cong queo từ lúc nào. Tôi lục túi áo lấy giấy tờ ra xem được biết tên là Võ Văn Ba, quê ở Cần Thơ.  Rồi vội vàng nhặt khẩu súng tiểu liên AR15 và khẩu súng cối cá nhân M79 cùng với 30 viên đạn đem về nộp ban chỉ huy.

Trong trận này, anh Thêm đại đội trưởng và một số cán bộ tiểu đội trưởng, chiến sĩ ở các trung đội bị thương. Vậy giờ đây trong ban chỉ huy đại đội tôi còn lại một mình anh Lê Xuân Hưu, chính trị viên trưởng chỉ huy đơn vị. Quân số đại đội lại cứ giảm dần theo ngày tháng.

Hoàng hôn vừa xuống, các mẹ, các chị, các em trong ấp trên vai gồng gánh, tay xách nách mang rồng rắn quay trở về nhà. Vừa đến đầu ngõ mọi người đã la lên:

- Các con, các em có bình an không? Có đứa nào làm sao không vậy?

Khi tôi vừa từ trong ngõ ló đầu ra để đón mọi người trở về, chị Sáu Tiệm reo lên:

- Ơ cái thằng Minh giỏi thiệt, nó vẫn lành lặn nguyên vẹn đây nè! Anh em mình có bị sao không em?

- Chúng em đều bình an cả, má và các chị biết không, có một lính địch tên là Võ Văn Ba quê ở Cần Thơ nằm chết ở cạnh bờ ruộng kia kìa, chị và mọi người báo cho gia đình người lính đó để họ biết. - Tôi trả lời.

Mọi người ồ lên, chị Sáu nói:

- Sáng nay các em đánh giỏi quá! Buổi chiều khi chúng rút về có mang theo nhiều thương binh và lính chết. Nhưng mà ở ngoài nhìn vào trong ấp, thấy máy bay nó ném bom xuống nơi các em dữ quá, chị và mọi người đã khóc rất nhiều.

Quà các chị mang về cho chúng tôi hôm nay rất nhiều thứ, những bịch đường, hộp sữa, có cả những bao thuốc Con Mèo và một vài chai rượu đế nữa.

Phải thương yêu chúng tôi lắm, các chị mới dũng cảm hy sinh tính mạng mình, để mang những thứ cấm nghiêm ngặt được gọi là "Tiếp tế cho cộng sản" trước sự kiểm tra gắt gao của quân thù.

Là những người con miền Bắc chiến đấu xa nhà, rất cảm ơn và luôn ghi nhớ những tình cảm cao quý của các má, các chị… trên mảnh đất Long An đã dành cho chúng tôi trong những ngày khó khăn, gian khổ ác liệt ấy.   

         

13-5-1974

Hôm nay được một ngày yên bình, vì gần 5 giờ chiều rồi vẫn không thấy tên nào mò đến. Tôi vội vàng rủ anh Huyên y tá sang nhà chị Sáu Tiệm bắt gà. Khi ý kiến này vừa được đưa ra, anh Huyên không một chút đắn đo, nhanh chóng chấp nhận ngay.

 Đến nơi, chúng tôi thấy đàn gà quá nhiều, con nào cũng lớn cả. Hai anh em nhanh chóng lùa chúng chạy dồn vào góc công sự xây bằng những bao cát chất đầy bọc quanh nhà để dễ dàng bắt.

Độ khoảng 10 phút sau, chúng tôi đã bắt được ba bốn con. Bất chợt tôi nghe thấy tiếng kẽo kẹt của ai đó gồng gánh vang lên từ ngoài con đường vào cổng nhà. Tôi vội quay đầu nhìn ra đầu ngõ đã thấy chị Sáu đang gồng gánh đồ đạc trở về, nên vội vàng kêu lên khe khẽ:

- Anh Huyên ơi, chị Sáu về kia kìa!

Anh Huyên lúng túng la lên:

- Bây giờ xử lý thế nào đây Minh ơi!

Tôi sợ quá, lần này đi ăn trộm bị bắt quả tang. Đây lại là nhà cơ sở cách mạng đang giúp đỡ chúng tôi, thế mới chết chứ. Liếc mắt sang công sự có bao cát bên cạnh, tôi chỉ kịp nói vội:

- Anh đổ cát trong bao ra ngoài, rồi cho gà vào đó. Em ra cổng để chặn chị Sáu lại.

Vừa mới ló đầu ra đến cổng, tôi đã gặp ngay chị đang kĩu kịt gồng gánh trên vai bước vào.

- Em chào chị Sáu, sao hôm nay chị về sớm vậy?

- Hôm nay chị thấy địch không đi càn và máy bay không ném bom, nên chị vội về sớm xem các em có cần gì không?

Vừa lúc đó anh Huyên khoác sau lưng một bao cát căng đầy, từ sau sân nhà đi ra ngoài miệng tươi cười chào chị Sáu. Nhìn thấy phía ngoài túi cát máu gà đã thấm ướt đỏ từng mảng nhỏ, mặt tôi tái ngắt sợ chị phát hiện ra điều này.

Chị vẫn để nguyên quang gánh trên vai đứng nói chuyện rồi mời chúng tôi vào nhà tiếp, tôi từ chối và hẹn vào dịp khác (mục đích nhanh chóng rút ngay). Trong khi đó anh Huyên không hiểu ý còn quay lưng sang chị nói chuyện với tôi. Thật là tai hại, tôi vội đi vòng sau lưng anh Huyên để che mắt chị, đồng thời lấy cùi tay thúc nhẹ vào anh với ngầm ý nhắc nhở, phải nhanh chóng rút về.

Mọi việc rồi cũng trôi qua, nhưng vừa thoát ra khỏi nhà chị, hai anh em nhìn nhau thật hú vía và thở phào nhẹ nhõm (thực ra lúc đó chị đã biết điều gì xảy ra, nhưng vẫn không quát mắng, mà vẫn vui vẻ cho chúng tôi những con gà vừa mất).

Cũng trong thời điểm đó, Ban chỉ huy đại đội được cấp trên bổ sung anh Lê Quảng Ba về đảm nhiệm chức chính trị viên phó đại đội, và anh Trần Quang Đăng từ tuyến sau trở về.

14-5-1972

Thêm một ngày bình yên nữa. Khoảng 5 giờ chiều, chị Sáu đã trở về, tôi sang nhà chơi, nhìn thấy đàn gà vắng đi khá nhiều, chị bảo:

- Minh ơi! Em ở lại trông nhà, vậy bây giờ đàn gà của chị đâu hết rồi?

Tôi giật mình xấu hổ, lúng túng, nhưng rồi chống chế ngay:

- Chắc lại lính Sài Gòn vào càn và bắt gà của chị rồi đó.

- Lại là lính bộ đội chứ gì? - Chị đáp lại, rồi cười xoà như không có chuyện gì xảy ra.

Còn tôi cảm thấy rất ân hận về những việc làm bồng bột của mình với chị Sáu và người dân Long An luôn một lòng chung thủy với cách mạng.

15-5-1972

Khoảng 3 giờ đêm, cả đại đội tôi xuất phát hành quân đến ngã ba Lộc Giang (ngã ba này thuộc huyện Đức Hoà nơi giao nhau của con đường đi đến Trảng Bàng, Tây Ninh, sông Vàm Cỏ và thị xã Hậu Nghĩa).

Khi đến bãi đất hoang có nhiều bụi cây lúp xúp, cách những dãy nhà đầu tiên ở ngã ba khoảng 300 mét thì cả đơn vị dừng lại. Tôi được anh Hưu giao nhiệm vụ tiến nhập vào ngã ba trinh sát, kiểm tra khả năng hoạt động của địch ở đấy.

Vừa vượt qua khoảng đất trống của thửa ruộng, bất ngờ tôi nằm trong tầm đạn H12 (Cachiusa) của quân ta bắn, tiếng hút, hút, hút... liên tiếp trên đầu, và cũng ngay sau đó là tiếng oàng, oàng, oàng,... ở phía trước sát cạnh tôi. Để tránh bị sát thương, tôi lăn mình vào con rãnh nhỏ.

Rất tiếc cho những viên đạn của ta đã bắn không trúng mục tiêu. Giá như nâng tầm bắn cách xa phía trước tôi độ hơn hai trăm mét nữa thì trúng vào giữa bốt địch rồi. Nếu được vậy thì hiệu quả biết bao.

Trong trận đánh bốt ở ngã ba Lộc Giang này, chúng tôi được thông báo trước: Có lực lượng pháo binh hỗ trợ, theo như hợp đồng, sau ba loạt đạn của pháo của ta bắn ra, bộ binh chúng tôi sẽ tiền nhập áp sát đồn địch.

Tôi nằm đợi đúng lúc ba loạt đạn vừa dừng, vội vàng vùng dậy xông thẳng vào các dãy nhà ngã ba Lộc Giang. ở phía sau, bộ đội cũng đang vận động tiến quân vào.

Một mình lọt thỏm vào hai dãy phố bên đường. Tất cả đều im lặng vắng tanh, không một bóng người. Tôi khom người vượt qua những dãy nhà đó. Phía trước có một nhà khác biệt lạ thường bởi màu sắc đỏ tươi xen lẫn có màu vàng óng ánh. Khi vừa đến gần, tôi mới phát hiện ra, đấy là một nhà chất đầy quan tài màu đỏ có những viền vàng xung quanh.,

Không gian trong phố tĩnh lặng, lành lạnh, u buồn nặng nề và chết chóc. Tôi hoảng sợ rùng mình sởn gai ốc, vội vàng lùi lại đi sang ngõ khác và gặp được anh Trần Dôn xạ thủ B40 ở phía sau vừa tới.

Nhìn sang dãy nhà ở gần ngã ba, tôi thấy trên nóc nhà có nhiều cột ăng ten mọc lên tua tủa. Phía dưới chân tường xám có một ô đen đen. Tôi đoán đây là nhà thông tin của địch, nên vội chỉ ngay cho anh Dôn mục tiêu, để bắn vào cửa sổ lô cốt đen đen ở dưới.

Rất nhanh, anh Dôn quỳ ngay xuống, vác khẩu B40 trên vai hướng nòng súng về hướng đó bóp cò: "ùm, oàng", một vùng lửa bùng lên ở ngôi nhà trước mặt, đất đá vôi vữa bắn ra tung toé  khói đen  bay mù mịt. Sau tiếng nổ đó một lúc, vẫn không thấy địch ở trong đấy phản ứng, động tĩnh gì. Hai anh em mạnh dạn tiến lên kiểm tra mới biết đã bắn nhầm vào nhà dân.

Cái ô đen đen mà ở xa trong sương mờ mờ, tôi nhìn nhầm là lỗ lô cốt, đó chính là viên đá đen nằm lẻ loi trong những viên đá màu xám để xây chân tường nhà. Những cột ăngten trên nóc nhà là của tivi (vì thời kỳ đó chúng tôi chưa được biết tivi là gì?). Hai chúng tôi rất ân hận về sự việc đã xảy ra, do sự quan sát không kỹ càng của mình. Mong sao người dân hãy tha thứ cho chúng tôi về sự nhầm lẫn này.

Cả đại đội tôi triển khai đội hình ở phía sau dãy nhà dân dọc theo con phố cách đồn địch độ 80 mét qua bãi đất trống. Hoả lực ở trong bốt bắn ra rất mạnh hòng áp đảo chúng tôi. ở phía bên ngoài quan sát hoạt động của địch bên trong khá rõ.

Cứ thế, mỗi khi phát hiện được một mục tiêu mới, chúng tôi lại gửi một chùm đạn vào đấy. Bọn lính trong đồn hoảng loạn không biết chính xác vị trí của quân ta ở ngoài. Buộc phải co cụm lại, gọi pháo và máy bay đến ném bom chi viện.

Những trận mưa bom và đạn pháo lại đến với đại đội tôi, nhưng đều rơi ở phía sau. Bởi vì do chúng tôi đã tiếp cận gần sát với hàng rào của bốt địch. Chính vì thế quân số bị thương vong của đơn vị trong ngày hôm đó rất ít.

Tranh thủ những lúc im tiếng súng, tôi luồn lách qua các dãy nhà đi đến vị trí từng trung đội đang chiến đấu. Xem ra đến thời điểm này, cán bộ, chiến sĩ trong đại đội tôi đã dạn dày kinh nghiệm, điềm tĩnh, từng trải, khi tham gia chiến trận, không còn lúng túng ngỡ ngàng như những trận đầu.

Bọn địch trong đồn đã hoàn toàn bị chúng tôi khống chế nên chỉ co cụm trong những công sự vững chắc, thỉnh thoảng mới ló đầu ra ngoài, làm mồi cho những tay súng thiện xạ trong đại đội tôi tiêu diệt.

Các lô cốt, công sự ở trong đó đều xây bằng bao cát nhô lên cao ở trong bốt, đều lần lượt được nhận một hai quả đạn súng B40, B41 của chúng tôi gửi đến.

Nhìn về phía sâu trong đồn, tôi phát hiện nơi đó có một công sự đắp bằng bao cát thấp thấp, bọn địch đang điên cuồng bắn ra về phía đội hình trung đội 3. Chúng biết rằng: Với khoảng cách khá xa này, vượt qua tầm bắn khống chế của súng AK và B40, B41. Tôi báo cáo với chính trị viên trưởng Lê Xuân Hưu xin được điều cối 60 của tiểu đội hoả lực A10 đến.

Khi được tôi chỉ rõ mục tiêu, anh Truyền tiểu đội phó lên thay anh Thiết chỉ huy tiểu đội hoả lực A10, (lúc này anh Thiết đảm nhận chức trung đội trưởng chỉ huy trung đội 1) chỉ trong chớp nhoáng các anh trong khẩu đội cối đã xác định được cự ly, phương vị, góc độ súng, rồi bình tĩnh thả liên tiếp 3 quả đạn cối 60 vào nòng.

Từng tiếng "chóc, chóc, chóc" kế tiếp nhau phát ra ở đầu nòng súng cối. Chỉ trong phút chốc ở phía trước có 3 cột khói và đất cát bay lên, kèm theo 3 tiếng nổ "Oàng, oàng, oàng" rất to, bao quanh chụm vào những công sự quân địch đang còn cố thủ. Đến lúc này, ở phía trong bốt tiếng súng chống cự, phản công của quân địch yếu ớt, rời rạc, giảm dần kéo dài đến độ 5 giờ chiều thì tắt hẳn.

Đại đội tôi được lệnh trên truyền xuống: Nhanh chóng bàn giao cứ điểm vừa giành được cho đơn vị khác tiếp quản, thu chiến lợi phẩm và bắt giữ tù binh. Còn chúng tôi tiếp tục hành quân đi nhận mục tiêu khác.

Điểm lại quân số trong ngày, lại thêm 4 người nữa hy sinh. Đó là các anh: Bùi Xuân Đoành, quê ở Quỳnh Long (Quỳnh Lưu, Nghệ An); Lê Quang Sáng, quê ở Quỳnh Mỹ (Quỳnh Lưu, Nghệ An); Hoàng Minh Quang, quê ở Nghi Quang (Nghi Lộc, Nghệ An); Nguyễn Văn Ly, quê ở An Thuỷ (Lệ Thuỷ, Quảng Bình). Ngoài ra, còn có một số anh em khác bị thương.

Giờ đây cả đại đội tôi chỉ còn lại gần 30 người. Mới đây thôi, mọi người trong đơn vị còn vui đùa với nhau, còn chia sẻ cho nhau những món quà nhỏ mà các mẹ, các chị ở huyện Đức Hoà đã vượt qua nhiều chặng khám xét nghiêm ngặt, gắt gao của địch, nhưng vẫn che được mắt chúng mang về cho chúng tôi và cũng mới đây thôi, mọi người còn xung phong xông lên chia lửa cho nhau, khi quân địch phản công ác liệt. Thế mà giờ đây, các anh đã nằm lại đó để rồi ra đi mãi mãi, không còn cơ hội được trở về nơi quê nhà mà bao người thân còn đang ngóng trông, chờ đợi.

Những người còn lại không còn nước mắt để khóc vĩnh biệt các anh nữa. Bao đau thương, mất mát ngày càng chất nặng đầy trong lòng mỗi người. Trên đường hành quân  chúng tôi đã mang các anh đi theo, và an táng các anh yên nghỉ tại Gò Nổi thuộc xã An Ninh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An.

 

16-5-1972  

Chúng tôi lại trở về đóng quân tại gia đình má Hai Quân. Mấy ngày ở đây khá yên tĩnh, tôi tranh thủ đến thăm anh em các trung đội đóng quân ở những nhà xung quanh. Khi đến một gia đình gần nhà má Hai, tôi phát hiện có một đống sách truyện kiếm hiệp nằm dưới đất cạnh góc nhà.

Lúc đang còn hăm hở tìm cho mình một quyển truyện để đọc, mới phát hiện ở trong đống sách đó có mấy quyển vở học sinh, hiện rõ nét chữ tròn trĩnh của một người con gái. Vì tò mò, tôi lật bìa quyển vở để xem, đây là vở Bài tập đại số có ghi rõ tên chủ nhân của nó là Lệ Thuỷ.

Cầm quyển vở trên tay, ký ức một thời học sinh lại ập về trong tôi. Ước gì: Chiến tranh tàn khốc này không xảy ra? Tin chắc giờ này mình đang ngồi nghe giảng hay đang làm bài tập trong một trường đại học nào đấy. Như một số ít bạn cùng lớp thời phổ thông, hiện đang là sinh viên các trường đại học, trung học ở miền Bắc hậu phương.

Còn tôi, thời gian nghỉ cầm bút đã hai năm rồi. Giờ đây trong từng giây, từng phút ngày đêm đang phải đối mặt với cái chết ở nơi chiến trường xa này. Mong ước sao, mình được trở về trường cầm bút để nối tiếp con đường của thời học sinh còn dang dở.

Tôi ngấu nghiến đọc những bài tập em đã giải. Có nhiều bài làm đúng, nhưng cũng có nhiều bài làm sai. Có những cái sai buồn cười, ngớ ngẩn. Giá như em chú ý một tý thì bài tập này đã có lời giải đúng rồi.

Tôi cố hình dung dáng người em như thế nào đây? Gầy, cao hay là mập, da trắng hay nước da ngăm nâu ? Chắc cô gái này có nước da trắng và không mập. Tôi cứ tiếc rằng: Nếu có em ở đây, tôi sẽ chỉ cho những lỗi thường gặp, những công thức để áp dụng cho việc giải bài tập.

Cách lập phương trình và tìm nghiệm của nó, bao nhiêu thứ có thể em đã quên và có thể chưa biết. Nhưng cuộc chiến đang hiện diện trên mảnh đất quê hương mình. Biết đâu em cũng tạm dừng bút như anh.

Cho đến bây giờ, sau 35 năm, tôi vẫn chưa hề biết mặt em gái đó.

 

18-5-1972   

Vào khoảng 3 giờ sáng cả đại đội tôi có mặt ở ấp Tân Phú, cứ ngỡ hôm nay có một niềm vui đặc biệt. Đó là tiểu đoàn bổ sung cho đơn vị thêm 4 chiến sĩ tân binh. Thời gian gấp rút không cho phép chúng tôi làm các thủ tục tiếp nhận anh em, cán bộ quân lực tiểu đoàn chỉ giao quân bằng miệng:

- Giao cho đại đội 3 bốn chiến sĩ gồm Dương, Hoàn, Thắng, Tiến. Tiểu đoàn sẽ bàn giao danh sách họ tên về các chiến sĩ cho đơn vị sau.

Do trời đã sắp sáng, quân địch chuẩn bị tấn công vào nơi chúng tôi đang đóng quân, nên Ban chỉ huy đại đội cũng bàn giao các chiến sĩ này về các trung đội, chỉ trực tiếp bằng miệng, mà không có một văn bản giấy tờ nào.

Khoảng 6 giờ 30 phút trời vừa hửng sáng, sương còn mờ mờ chưa tan hết, hơn một đại đội lính Sài Gòn đã kéo đến trận địa nơi chúng tôi đang triển khai đợi sẵn. Khi tốp lính đi đầu cách chốt tiền tiêu độ 10 đến 15 mét, thì cả đơn vị đồng loạt nổ súng. Bọn địch đi đầu đổ gục xuống, đứa chết, đứa bị thương la hét inh ỏi. Những tên còn sống sót quay đầu tháo chạy.

Một cuộc đấu súng ác liệt giữa hai bên bắt đầu diễn ra. Tiếng đạn nổ nghe rào rào pha lẫn tiếng oàng oàng của đạn cối và DKZ của ta và của địch. Những tiếng nổ đó kéo dài khoảng 30 phút thì lặng dần.

Ta vẫn chốt trong những công sự vừa xây dựng để bắn ra ngoài. Còn quân địch đã lùi về phía sau khá xa với chúng tôi. Tranh thủ khoảng thời gian yên lặng hiếm hoi đó, các trung đội báo cáo về ban chỉ huy đại đội về tình hình chiến đấu của bộ đội và quân số thương vong.

Một tin buồn lại đến với chúng tôi. Đợt nổ súng đầu tiên, đại đội tôi có 3 người hy sinh và 2 người bị thương. Đáng buồn nhất có hai tân binh vừa mới bổ sung về, trong đơn vị chưa ai kịp biết rõ tên từng người. Nên giờ đây không thể nào biết tên ai là Dương, ai là Hoàn được?

Các bạn trước lúc hy sinh cũng chưa kịp làm quen với đồng đội đang chiến đấu ở bên cạnh mình. Chưa kịp biết rõ tên ai là người chỉ huy và đơn vị nữa, dù rằng cả đơn vị quân số không còn đông như trước, lúc này chỉ còn hơn hai mươi người nữa thôi.

Dương, Hoàn ơi hãy tha thứ cho chúng tôi nhé. Chúng ta chưa kịp làm quen, các bạn đã nằm lại trên mảnh đất này rồi!

9 giờ 30 phút sáng, địch lại ồ ạt tiến quân vào. Trước lúc vào sát vị trí công sự chúng tôi, chúng bắn tới tấp những viên đạn cay. Khói trắng lan toả cả khu vực đội hình chiến đấu của đại đội, ai nấy đều ho sù sụ, da mặt, chân tay bỏng rát như xoa ớt cay tươi vào da, mắt mũi cay xè.

Mọi người lùi sâu vào trong hầm để tránh làn khói đó. Những bình tông nước được huy động đổ vào tà áo để chụp vào mặt mũi mình chống cay. Một quả pháo cay bất ngờ rơi vào giao thông hào trước cửa hầm ban chỉ huy xè xè phun khói.

Biết rằng tiếp cận đến quả pháo này rất nguy, có thể bị gục ngay do ngạt thở, nhưng không thể nhìn nó phun khói trắng ngày càng nhiều vào cửa hầm của mình được, tôi nheo mắt và lấy một tay bịt miệng lại, lao người ra cầm ném quả pháo đang xì khói nghi ngút đó ra xa.

Khi quay về hầm, tôi tưởng như mình đã tắc thở và ho sù sụ, nước trong bình tông hết nhẵn. Trong cơn nguy cấp, anh Hưu hét lên:

-          Em hãy cố mà đái nhanh ra vào hai tà áo rồi ấp ngay vào mặt.

Tôi càng rặn lại càng không ra được giọt nào. Thật đáng ghét, lúc cần đái lại không đái được, những lúc đang còn ngon giấc ngủ lại dựng mình dậy để đái. Cứ cố gắng mãi cuối cùng hai tà áo của tôi cũng thấm ướt được một ít. Lúc này da thịt tôi bỏng rát sưng đỏ như bị dị ứng mề đay.

Làn khói trắng dần tan, tôi ló đầu lên cửa hầm nhìn ra phía trước và sửng sốt giật mình, khi thấy tốp lính Sài Gòn người nào người nấy đeo mặt nạ phòng độc nhìn như Trư Bát Giới trong phim Tôn Ngộ Không, tay cầm súng lăm lăm. Trong khi đó phía chúng tôi vẫn im lặng, bộ đội đang ẩn nấp sâu vào trong công sự để tránh thứ khói độc đó.

Khi tốp địch đi trước cách công sự chốt giữ khoảng 10 mét, tôi bất ngờ nổ súng. Chúng hoảng loạn quay đầu tháo chạy, nhưng thật tai hại, trong lúc đang còn rất nguy cấp này, khẩu súng tôi chỉ nổ được một phát "đoàng" sau đó bị kẹt cứng. Tình thế quá nguy hiểm đang đến với tôi và mọi người trong đơn vị. Nếu bọn địch liều chết xông vào, thì chúng tôi cầm chắc bị chúng nó bắt sống. May mà bọn địch vừa nghe tiếng súng của tôi bắn đã hoảng hốt rút ra ngoài.

Lúc này cả đại đội tôi mọi người mới từ trong hầm chui lên mặt đất, cùng đồng loạt nổ súng về hướng địch. Bọn chúng rất đông phải đến cả một đại đội với ý đồ hòng tấn công bất ngờ, phủ đầu chúng tôi, nhưng phải đầu hàng, buộc phải lùi về co cụm ở khu nhà đối diện bên kia ấp.

Tranh thủ thời gian, tôi cố gắng hết sức lực, lấy tay kéo quy lát súng để lên đạn nhưng vẫn không được. Hoảng quá, tôi vội tháo chiếc dép cao su đang đi ở dưới chân lên, cầm đập mạnh vào quy lát. Thế mà nó vẫn cứ nằm lỳ ra, không chịu nhúc nhích. Mà chẳng có gì tốt hơn để thay thế chiếc dép trong lúc này, tôi quyết không nản chí, vẫn cứ tiếp tục đập mạnh hơn nữa vào cần quy lát. Bỗng nhiên nghe thấy có tiếng cạch, cần quy lát đã được giải phóng qua vị trí đã kẹt cứng đó.

Biết không thể nào sử dụng tiếp khẩu súng này nữa, nếu như không tháo các chi tiết súng ra ngoài để cạo rỉ và lau chùi. Lâu nay súng của tôi nhả đạn liên tục, đã có lần nòng súng nóng đỏ rực lên, chính đấy là nguyên nhân gây rỉ ống đỡ thoi và thoi đẩy về bị kẹt cứng.

Quân địch bắn điên cuồng để chống trả mãnh liệt về phía chúng tôi, chếch bên tay trái ở phía trước mặt khoảng 100 mét, một khẩu đại liên của địch nấp sau khóm cây thấp thấp, đủ che khuất người nằm và khẩu súng, đang khạc đạn khống chế trung đội 1 và 2.

Qua đám bụi đất hất tung lên, tôi nhanh chóng xác định chính xác vị trí khẩu súng đang vãi đạn đó. Vừa đúng lúc chi tiết cuối cùng của súng AK  đã lắp xong. Không còn thời gian đắn đo, suy nghĩ nhiều, tôi nhanh chóng giương súng ngắm ngay vào khóm cây bóp cò điểm xạ hai viên "pằng pằng". Khẩu đại liên đang "tành, tành, tành... " vãi đạn, bỗng nhiên đột ngột tắt hẳn.

Các trung đội 1,2 thừa cơ nổ súng ào ạt vào quân địch. Biết không làm gì được chúng tôi, bọn chúng tức tốc bắn pháo hiệu màu tím phân tuyến ranh giới giữa hai bên, để gọi máy bay đến ném bom vào trận địa đại đội tôi.

Sau gần 30 phút phải chịu đựng máy bay địch dội bom trên xuống, hai tai tôi ù đặc đầu đau nhức choáng váng, mắt mờ đi, miệng phải há ra, hai hàng nước mắt chảy giàn giụa. Tôi chỉ kịp lấy tà áo lau vội vào mặt, rồi vội vàng thò đầu lên khỏi cửa công sự nhìn ra phía trước để quan sát địch hoạt động.

Ở phía ngoài, bọn địch đinh ninh là đã tiêu diệt hết tất cả mọi người trong đơn vị tôi sau những đợt bom kéo dài xới qua xới lại, chúng nghênh ngang ồ ạt tiến vào.

Phải đợi địch đến thật gần rồi mới nổ súng để ăn chắc. Mệnh lệnh của ban chỉ huy đại đội nhanh chóng phổ biến đến từng người.

Khoảng cách giữa địch và chúng tôi ngày càng tiến gần: 20 mét, 15 mét rồi còn lại 10 mét. Cả đơn vị đồng loạt trút cơn bão đạn vào quân thù. Những người lính đối phương đi đầu bị đạn đổ gục trên mặt đất, với nhiều tư thế khác nhau. May cho những người lính ở phía sau đã nhanh chân chạy thoát thân, lùi về ngoan cố tìm cách chống trả.

Bất ngờ một khẩu đại liên của địch nằm ở sau bờ cây bắn mãnh liệt về phía trung đội 1 và 2. Vừa lúc đó khẩu đội cối 60 của tiểu đội hoả lực (A10) đã có mặt ở ban chỉ huy đại đội. Tôi nhanh chóng chỉ vị trí khẩu đại liên cho anh Truyền, tiểu đội trưởng. Chỉ trong nháy mắt, ba tiếng "chóc, chóc, chóc" đầu nòng phát ra bên cạnh tôi thì một lúc sau đó, tại vị trí khẩu đại liên đang mải miết khạc đạn, có 3 tiếng nổ "oàng, oàng" bao quanh. Đất cát, người, súng  bay lên rồi rơi xuống.

Đến lúc này, bọn địch ngừng hẳn phản công và rút ra ngoài. Rất may mắn, ngoài ba người hy sinh lúc sáng, cả đại đội sau trận chiến trong ngày không có ai hy sinh thêm nữa, chỉ có thêm 3 người bị thương.

23-5-1972

4 giờ 30 sáng cả tiểu đoàn 8 chúng tôi tập kết ở ấp An Hoà, nhằm bảo vệ Ban chỉ huy trung đoàn nằm tại Gò Nổi. Đại đội 2 chốt giữ phía tây tây bắc, đề phòng quân địch ở tàu chạy trên sông Vàm Cỏ đổ bộ lên. Đại đội 1 chốt giữ phía đông bắc ấp nhằm ngăn chặn lực lượng địch từ hướng ngã ba Lộc Giang đến. Còn đại đội 3 chúng tôi đảm nhiệm hướng nam tây nam, đối diện với bốt An Thuận qua cánh đồng trống có khoảng cách gần 1.000 mét.

Đội hình chiến đấu của đại đội 3 được bố trí như sau: Ban chỉ huy đại đội nằm ở giữa bãi đất hoang, có những gò đất nhỏ nổi lô nhô, xung quanh là bờ cây gai dứa dại thấp. Bốn góc bãi đất này là bốn bụi tre khá to, cây đã già ken dày đặc. Trung đội 2 bố trí lực lượng ở trong khu vườn nhà dân phía tây nam của ban chỉ huy, ngăn chặn địch tấn công từ bốt Rạch Gần đến. Trung đội 3 do anh Trần Quang Đăng chỉ huy bố trí lực lượng ở khu vườn nhà dân về phía đông nam, nhằm ngăn chặn quân địch từ bốt An Hiệp nằm cạnh con đường 10 tấn công tới. Trung đội 1 do anh Nguyễn Văn Thiết chỉ huy, bố trí lực lượng chiến đấu ở trong một khu vườn nhà dân về phía đông bắc với nhiệm vụ ngăn chặn quân địch tấn công vào từ hướng ngã ba Lộc Giang vào.

Trước khi hành quân đến đây, chúng tôi được phổ biến: Ngày hôm nay quân đội Việt Nam Cộng hoà thuộc sư đoàn 21, sẽ kéo một lực lượng rất lớn có xe tăng và xe bọc thép yểm hộ để tấn công vào căn cứ khu Gò Nổi, nơi ban chỉ huy trung đoàn 271 đóng quân.

Ý thức được cuộc chiến trong ngày sẽ rất ác liệt, nên khi vừa đặt chân đến vị trí tập kết, tất cả chúng tôi không ai bảo ai đều hối hả đào, xây dựng công sự chắc chắn cho mình.

Đại đội bộ giờ đây chia làm 2 tổ: Tổ thứ nhất có tôi và anh Hưu chính trị viên cùng Nguyễn Văn Tịch là chiến sĩ thông tin vô tuyến 2W. Tổ thứ 2 có hai anh Huyên y tá, Trữ quản lý kiêm nuôi quân bố trí ở phía sau chúng tôi.

Công sự ban chỉ huy đại đội được xây dựng khá kiên cố theo hình chữ Z, có hai cửa nằm ở hai hướng khác nhau, trên nóc hầm được đắp một lớp đất dày nằm ở cạnh góc bãi đất hoang sau bụi tre già. Để đảm bảo thuận lợi và an toàn trong chiến đấu, sát cạnh cửa hầm phía trước, tôi đào thêm một công sự nằm bắn có độ sâu khoảng 40 cm, và đắp mô đất cao để kê súng và chắn đạn địch. Vị trí công sự nằm phía sau cạnh bờ tre được tôi nguỵ trang rất kỹ và phù hợp với màu sắc địa hình. Tôi luôn tự hào về kỹ năng nguỵ trang, chính điều này đã cứu tôi thoát chết nhiều lần.

Cả một đêm thức trắng hành quân không nghỉ rồi đào hầm chiến đấu. Chúng tôi ai nấy đều mệt nhoài, hai mi mắt sưng mọng đỏ lên vì thiếu ngủ, nên vừa hoàn thành công sự xong mọi người đều lăn ra ngủ say mê.

Còn tôi do quá đuối sức nên vừa mới xuống đến cửa hầm đã ngồi xuống gục đầu vào thành công sự ngay. Trong cơn ngủ say, cứ chập chờn nghe thấy tiếng kêu kít kít của chất kim loại từ xa xa vọng về.

Tôi giật mình bừng tỉnh, bò lên miệng hầm nhìn ra phía trước. Trong đám sương mù chưa tan hết, có rất nhiều lính Sài Gòn từ hướng bốt An Thuận đang cầm súng lặng lẽ tiến về phía đại đội bộ chúng tôi.

Rất bình tĩnh và nhẹ nhàng, tôi lăn mình vào công sự nằm bắn, dụi mắt quan sát địch kỹ hơn. Phía sau những tốp lính Sài Gòn đó có 9 chiếc xe tăng đang dàn hai lớp hàng ngang cũng từ từ tiến đến.

Cả không gian lúc này chỉ có tiếng xích xe tăng cọ xát vào nhau nghe kin kít lạo xạo. Trong lúc đó bộ đội ta vẫn im lìm say trong giấc ngủ, còn bọn lính mỗi lúc một tới gần. Tuy là sát mép cửa hầm, nhưng tôi cũng không kịp lùi xuống báo cho anh Hưu và mọi người biết quân địch đang kéo quân vào.

Nguy hiểm hơn, nhìn về phía nơi trung đội 2 đang chiếm giữ, có 5 tên lính đối phương, súng cầm trong tay lăm lăm, đã phát hiện được công sự chiến đấu của một tổ 3 người, đang dò dẫm tiến vào.

Công sự đó nằm sát với bờ tre phía ngoài vườn nhà dân, mà lại nguỵ trang cẩu thả, sơ sài. Từ xa nhìn vào, rất dễ dàng nhận thấy, bởi những cành lá cây tươi cắm qua loa trên đống đất đỏ vừa được đào từ dưới hầm lên.

Tôi rất lo lắng sốt ruột cho sự nguy hiểm của tổ tiền tiêu và trung đội 2, khi quân địch ngày càng tiến đến gần hơn. Làm thế nào để báo tin cho đồng đội ở đó biết được sự nguy hiểm này?

Khoảng cách của chúng đến công sự càng rút ngắn theo từng giây từng phút. Thế mà mọi người nằm dưới hầm vẫn yên lặng không có một phản ứng gì.

Khi khoảng cách đó chỉ còn gần 2 mét,  không thể chờ thêm được nữa, tôi vội vàng bóp cò súng, bắn một loạt đạn về phía 5 tên địch. Trong nháy mắt, chúng đổ ngã gục giãy giụa, kêu la trên mặt ruộng, có tên khi ngã xuống đầu chúi vào cửa công sự tổ tiền tiêu.

Quá bất ngờ khi có tiếng súng của tôi, nhất là khi thấy tốp lính đi đầu đã bị tiêu diệt, chúng hoảng sợ quay đầu tháo chạy. Nắm bắt cơ hội này, tôi điểm xạ từng viên đạn vào từng tên một đang chạy quay lưng lại, hoặc bò lổm ngổm men theo bờ ruộng.

Mọi người trong đại đội tôi đang nằm ngủ dưới hầm chợt bừng tỉnh khi nghe tiếng súng nổ. Nhưng vì còn ở dưới hầm sâu nên không xác định được địch đang ở hướng nào. Bởi vậy, tất cả đều nằm im nên không biết để chi viện cho tôi.

Phía trước những người lính Sài Gòn bò lổm ngổm đầy một thửa ruộng lớn. Tôi không bỏ qua cơ hội này, mà vẫn mải mê tiếp tục điểm xạ hai viên một "pằng pằng, pằng pằng" vào những mục tiêu di động đó.

Thật bất ngờ, phía bờ ruộng ngay trước mặt bên tay trái,  một người lính đang cầm quả cối 61 định thả vào nòng súng. Có lẽ, nó đã phát hiện ra vị trí tôi nằm bắn.

Chỉ trong chớp mắt tôi rê nòng súng tiểu liên AK bóp cò điểm xạ tiếp 2 viên đạn vào đấy. Ngay tức thì, tên lính đó đã bị gãy gập cánh tay cầm quả đạn cối. Đến lúc này, anh ta nằm lăn mình xuống mặt ruộng kêu la, gọi đồng bọn đến cứu.

Trên đầu tôi đạn đại liên của những chiếc xe tăng ở phía trước đã khoá tầm bắn, bay vù vù như cơn bão lớn. Đạn cắm vào bờ tre nghe phầm phập, phầm phập... Nhiều gốc tre đã nổ toác, có một số cây đã đổ xuống mặt ruộng.

Mặc dù được sự yểm trợ về hoả lực mạnh như vậy, nhưng những tên lính đang bò lổm ngổm trên mặt ruộng kia, thực sự hốt hoảng với cách bắn chính xác của tôi. Chúng bỏ mặc những người bị thương ở lại, nhanh chóng tháo chạy về phía sau.

Khi binh lính đối phương lùi về vượt ra khỏi tầm bắn của tôi, những chiếc xe tăng tiến lại gần hơn, thi nhau nã đạn như mưa trút vào trận địa đại đội, tạo ra một âm thanh ào ào nối liền, kéo dài của các loại súng đại liên, trung, tiểu liên và được đệm đều đều những tiếng "Oàng, oàng" của đạn DKZ90 nổ ngay trước mặt chúng tôi.

Đến lúc này, tôi nhẹ nhàng lùi lại cửa hầm chui sâu vào phía trong tránh đạn và báo cáo sự việc diễn ra vừa rồi cho anh Hưu(1). Anh cảm động ôm tôi vào lòng, luôn miệng nói:

- Anh thay mặt Ban chỉ huy tuyên dương công trạng em. Cảm ơn em đã cứu nguy cho cả đơn vị. Nếu như em không tỉnh dậy trước và chủ động nổ súng tiêu diệt địch, thì giờ đây cả đại đội ta không biết sẽ như thế nào?

Rồi anh quay sang phía cậu Tịch nói:

- Em điện về Ban chỉ huy tiểu đoàn báo cáo tình hình: Có hơn một tiểu đoàn lính nguỵ kèm theo 9 chiếc xe tăng yểm trợ, từ hướng bốt An Thuận, tấn công trực diện vào đại đội ta. Đồng chí Minh liên lạc đã chủ động nổ súng tấn công. Hiện giờ, chúng đã rút ra ngoài đang chuẩn bị tổ chức tấn công tiếp quân ta.

Mấy viên đạn DKZ 90 của địch nổ phía trước, đất cát bung ra mù mịt, mảnh đạn bay vèo vèo. Nhưng nhờ có bụi tre che chắn nên công sự chúng tôi không hề hấn gì.

Ngồi dưới hầm, tôi cứ nghĩ: Nếu như vừa rồi mình ngụy trang sơ sài, cẩu thả, hoặc không phù hợp với địa hình hiện tại, chắc rằng, tôi không có cơ hội để ngồi báo cáo những gì đã xảy ra cho các anh được.

Những chiếc xe tăng của địch ở ngoài vẫn đứng yên nhả đạn vào, chúng không dám tiến lên vì sợ bị thiêu cháy bởi những viên đạn chống tăng B40, B41 của ta.

Phía trước, chếch hướng tay phải tôi độ khoảng 60 mét, một chiếc xe tăng đang cuốn xích sắt ken két, từ từ liều lĩnh xông lên.

Không thể để cho nó tiến thêm được nữa, xạ thủ B41 của tiểu đội hoả lực (A10) Nguyễn Văn Thắng đã kịp thời giương súng lên bóp cò, phóng một viên đạn cắm thẳng vào cạnh sườn chiếc M41 đó. Một chùm lửa bùng lên chùm kín chiếc xe, kèm theo đó là tiếng nổ "ùm". Chiếc xe tăng khựng lại, một cột khói bốc lên cao.

Tôi rất vui mừng và thán phục về tay súng thiện nghệ của Thắng. Cậu ta bắn quá chính xác trúng vào nơi hiểm yếu nhất của chiếc xe tăng đó.

Nhưng niềm vui không được kéo dài, vì ngay sau đấy, hai chùm lửa liên tiếp toé ra tại một điểm, cùng với tiếng nổ "Oàng", "Oàng" chói tai tại vị trí Thắng đang nhoài nửa người trên mô đất sau bụi cây dứa dại.

Xác anh và đất cát bay tung toé lên cao, mảnh đạn vút qua xèo xèo sát sàn sạt ngay trên đầu tôi, cắm vào bờ đất bên cạnh nghe phầm phập.

Một mảnh ống tay áo của Thắng bị cháy nham nhở, xé tung còn phất phơ dính chặt trên ngọn một cây tre trên đầu tôi.

Nơi anh nằm giờ đây là một hố sâu nham nhở, có đường kính bằng chiếc nong, dưới miệng hố một làn khói đen đang bốc lên.

Đấy là hai viên đạn DKZ90 của hai chiếc xe tăng ở phía sau bắn vào, khi chúng phát hiện được chính xác vị trí vùng lửa,khói của súng B41phát ra sau khi Thắng bóp cò. Tôi ngỡ ngàng, sửng sốt, bàng hoàng. Sự việc đến quá nhanh, tôi thừ người không có một chút phản ứng nào.

Chỉ mới cách đây có ít phút thôi, từ phía sau anh đã bò, toài lên phía trước nơi có mô đất cao đó, để đến thật gần hơn mới bắn được chính xác vào những chiếc xe tăng đang hùng hổ tiến vào, hòng nuốt sống đại đội tôi. Thế mà giờ đây, xác anh đã tan ra từng mảnh, trộn lẫn trong cát bụi An Hoà, Đức Hoà, Long An này. Rồi đây, trên mảnh đất này có ai còn nhớ và biết đến anh không?!

Riêng tôi làm sao có thể quên được anh, hình ảnh oai hùng, đau thương của những giây phút cuối cùng được làm người sống trên cõi đời này. Tất cả đã vì mọi người, vì đồng đội, vì một mong ước cuộc sống của chúng ta sau này được hoà bình, thoát cái nghèo nàn lạc hậu, có một cuộc đời tự do, hạnh phúc.

Các loại súng của địch ở phía ngoài cứ thi nhau vãi đạn vào chúng tôi kéo dài gần một tiếng đồng hồ, nhưng rồi sau đó thì dừng lại. Giờ đây, chúng đã thay đổi chiến thuật vội bắn pháo hiệu màu phân tuyến (giữa ta và địch) gọi máy bay đến ném bom vào đội hình chiến đấu của đại đội tôi.

Tôi ngồi gần cửa hầm, cả người rùng mình đung đưa. Sau đó nghe những tiếng ục, ục phát ra. Bom nổ quá gần chúng tôi ai nấy ù đặc tai không nghe rõ tiếng nổ.

Qua khoảng trống nhỏ nhìn lên, đất đá bay mù mịt, trời tối đen như mực. Một lúc sau là những tảng đất to như những chiếc thúng lớn rơi xuống, theo sau là những hòn đất đá nhỏ dần. Rồi đến bụi đất mù mịt, ánh sáng tăng dần, cuối cùng trời lại sáng.

Những chiếc máy bay A37 điên cuồng, lồng lộn thay nhau dội bom xuống chúng tôi, kéo dài cả tiếng đồng hồ. Ngồi dưới hầm, tôi đếm được tám loạt, bom đào, bom sát thương và bom bi, nổ sát xung quanh.

Lúc này anh Hưu ngồi ở bên cạnh tôi luôn thở dài lo lắng:

- Bom địch ném xuống nhiều như thế này, có còn ai sống để chiến đấu chống trả bộ binh và xe tăng địch tràn vào không?

Tôi thì nước mắt lưng tròng, đang bàng hoàng, ám ảnh về cái chết của Thắng. Tịch cũng khóc khi phải chứng kiến trận mưa bom đủ chủng loại đang nổ ngay sát cạnh, kéo dài triền miên mà không có dấu hiệu dừng lại.

Sau khi những con quạ sắt vừa rút về, các loại súng đại liên, trung liên, cối 81 ly, DKZ90 trên xe tăng và các loại súng đạn khác của địch, lại thi nhau vãi đạn vào chúng tôi.

Quan sát phía trước, tôi thấy những chiếc xe tăng đang dàn hàng ngang từ từ tiến vào hướng chính diện nơi hầm ban chỉ huy đại đội đóng.

Tôi báo cáo vắn tắt tình hình chiến sự đang xảy ra cho anh Hưu ở dưới công sự biết. Theo lệnh anh, cậu Tịch thông tin vô tuyến 2W tập hợp lại, báo cáo với tiểu đoàn, về các diễn biến của địch và ta, đồng thời xin chi viện cối 82 bắn vào đội hình đông đúc lính Sài Gòn có xe tăng hộ tống, đang từng phút tiến dần đến.

Nhưng anh Dương Văn Hiêu, tiểu đoàn trưởng thông báo về: Địch đang bao vây ba phía tiểu đoàn 8 đang chốt giữ. Anh lệnh cho đại đội 3 chúng tôi bằng mọi giá phải kìm chân chúng lại, không được cho nó chọc thủng đội hình.

Trước nguy cơ lực lượng rất đông đảo của địch có xe tăng yểm trợ đang hùng hổ tiến quân tấn công chúng tôi. Lúc này đại đội 3 quân số chưa được 20 người còn lại, đạn dược hầu như đã cạn, không có ai còn đảm bảo cơ số, nhất là đạn chống tăng B41.

Trong khi đó đại đội bộ của tôi và tiểu đội hoả lực (A10) đóng trên bãi đất hoang bị cô lập hoàn toàn, tiểu đội A10 đã gần bị tê liệt, khi một trong hai xạ thủ B41 diệt tăng duy nhất là Thắng vừa hy sinh.

Còn các trung đội đang nằm trong khu vườn nhà dân, không thể sang chi viện cho chúng tôi được, vì bộ đội ta phải vượt qua một thửa ruộng trống trải. Điều này rất nguy hiểm, khi ở phía trước xe tăng và bộ binh vẫn còn đang tập trung hoả lực bắn vào.

Trung đội 1 thì còn chốt giữ ở phía sau, không thể chi viện hoả lực phía trước cho chúng tôi được.

Trung đội 2 nằm ở bên tay phải, nhưng công sự ngụy trang quá cẩu thả. Bị quân địch ở ngoài phát hiện, ngay từ đầu chúng đã bắn vào khống chế các anh. Giờ đây ở trong đó, hầu như mọi người đã bị hy sinh hết cả rồi.

Còn lại trung đội 3 nằm bên tay trái tôi, tuy số thương vong có ít hơn, nhưng không phát huy được hoả lực mạnh. Vì có một khu vườn trước mặt đã che chắn mất tầm quan sát. Các anh chỉ có một góc hẹp nhỏ là có thể dùng hoả lực tấn công xe tăng và bộ binh địch ở phía trước, nhưng thực tế quân địch đang tập trung hoả lực vào đó, nên đã khống chế các anh hoàn toàn.

Ngay từ lúc nổ súng cho đến bấy giờ, nguy hiểm nhất vẫn là Ban chỉ huy đại đội, lại là mặt chính diện để quân địch tập trung tấn công, mà ở đây, chúng tôi chỉ có 2 khẩu súng tiểu liên AK của tôi và cậu Tịch thông tin.

Nhiệm vụ của Tịch là phải liên tục giữ được thông tin liên lạc giữa đại đội với tiểu đoàn, còn lại mình tôi với khẩu AK trong tay, vừa nổ súng kiềm chân ngăn bước tiến quân địch, vừa phải vượt qua dưới làn đạn để truyền đạt mệnh lệnh của chính trị viên đại đội Lê Xuân Hưu, giao nhiệm vụ chiến đấu cho từng trung đội.

Phía trước, một đoàn binh lính Sài Gòn có xe tăng đi kèm vừa hành tiến vừa bắn, đang chọc thẳng vào nơi đại đội chúng tôi chốt giữ.

Tôi thật sự lo lắng trước sự tấn công như vũ bão của chúng, nhưng vẫn cứ bình tĩnh điểm xạ từng viên một vào tốp lính  đối phương đang cầm súng đi sau những chiếc xe tăng đó.

Đạn của tôi giờ này không còn nhiều nữa, mặc dù trước đó đã sử dụng hơn nửa cơ số đạn của cậu Tịch. Rất may, tôi có một năng khiếu bắn súng rất chính xác, không cần phải ngắm, dù mục tiêu đó là cố định hay là di động. Thực ra, cũng không hiểu được lý do tại sao? mà chỉ biết rằng: mọi thao tác của tôi lúc đó, hầu như đều là phản xạ tự nhiên.

Một tiếng nổ “ùm” từ nơi có bụi cây thấp bên cạnh, tôi liếc mắt nhìn sang, cậu Sáng ở tiểu đội hỏa lực (A10) vừa phóng quả đạn B41 vào chiếc xe tăng gần nhất. Chiếc xe tăng bốc cháy, quân đối phương đột ngột dừng lại lăn lê bò càng trên mặt ruộng.

Cùng ngay sau đó, một quả đạn DKZ90 từ một chiếc xe tăng M113 bên cạnh, phóng về vị trí của Sáng. Đạn nổ, nửa người phía trên của anh tung ra, để lại nửa người phía dưới còn lại nhuốm đỏ máu. Như vậy, cả hai xạ thủ B41 còn lại duy nhất của tiểu đội hoả lực đã hy sinh.

Trước tình thế nguy cấp này, anh Hưu lệnh cho tôi bằng mọi cách phải đến liên lạc được anh Nguyễn Văn Thiết, anh Trần Quang Đăng trung đội trưởng trung đội 1 và 3, đang chốt giữ ở khu vườn phía sau phía tay trái chúng tôi, gấp rút điều xạ thủ B40 và bộ đội sang Ban chỉ huy đại đội, để tiêu diệt những chiếc xe tăng và bộ binh địch đang ở ngoài tiến đến.

Tôi quan sát địa hình xung quanh quá trống trải, rất ít vật che chắn đạn nên vội nói với anh Hưu:

- Theo em, anh không thể điều bộ binh đến chi viện cho ta được, địa hình quang đãng như thế này bộ đội sẽ bị thương vong mất. Hơn nữa ở đây anh em không có công sự tránh bom, pháo nguy hiểm lắm anh ạ. Bây giờ chỉ cần thêm một xạ thủ B40 để chống tăng là được, còn đối với tụi bộ binh tiến vào, một mình em ngăn chặn. Nếu em hy sinh, anh gọi cậu Tịch lên thay. Hãy bằng mọi giá, nhất quyết không cho chúng tràn vào.

Anh Hưu đã thống nhất theo ý kiến của tôi đề xuất. Lúc này, địch ở phía trước điên cuồng trút đạn vào. Tình thế cả đơn vị ngày càng nguy hiểm. Chúng dễ dàng chọc thủng vào vị trí hiểm yếu nhất của đội hình chúng tôi.

Nếu tôi rời khỏi khu vực này để đi về các trung đội, thì ở đây chỉ còn lại một tay súng tiểu liên AK của Tịch canh giữ nữa thôi. Mà cậu ta lại là lính thông tin, dù sao cũng không có nhiều kinh nghiệm như tôi.

Trước lúc rời vị trí chốt giữ của Ban chỉ huy đại đội, tôi rất băn khoăn, lo lắng, nên vội gọi Tịch từ dưới công sự bò lên đến bên cạnh rồi dặn dò:

- Tịch phải bảo vệ cửa chính diện của bọn địch tấn công đại đội ta. Để đảm bảo thật bí mật vị trí đang nằm bắn này, cậu phải bình tĩnh ngắm chính xác từng thằng một, rồi mới bóp cò điểm xạ từng viên. Tuyệt đối không được bắn liên thanh, như vậy sẽ bị lộ ngay. Trừ trường hợp quân địch rất đông xông đến quá gần mình, lúc ấy mới được phép nổ súng liên thanh. Mình phải vượt sang các trung đội một lúc, sẽ quay trở về với Tịch ngay. Hãy bằng mọi giá kiềm chân chúng lại, mình tin ở cậu. (Mấy tháng sau Nguyễn Văn Tịch đã bị địch bắt và hy sinh anh dũng trong một trận chiến đấu ác liệt, không cân sức kéo dài suốt cả một ngày giữa ta và địch).

Tranh thủ khi quân đối phương đang ở phía ngoài chưa dám tiến vào, tôi lùi lại về phía sau đến khu vực của tiểu đội hoả lực A10. Nơi đây bây giờ tan hoang, chi chít hố bom, tôi bàng hòang khi chứng kiến cảnh tượng này. Bất chợt rùng mình cảm thấy đơn côi, khi đang nằm trên bãi hố bom không một bóng người này.

Quên mình đang còn hiểm nguy, thương các anh, thương đồng đội, nước mắt tôi chảy giàn giụa, mà không khóc được thành tiếng.

Tôi vừa bò vừa lần mò xung quanh để tìm có còn ai sống nữa không? Khi đến bờ tre, các thân cây hầu như bị tiện đứt ngang nham nhở, đổ gục xuống bao quanh bờ tre. Nằm ở phía ngoài tôi gọi vào:

- Anh Truyền và các anh ơi! Có ai ở trong đó còn sống nữa không?

Tôi cất tiếng gọi mấy lần, một lúc sau đó có tiếng đáp lại:

- Minh đấy phải không? Anh Truyền đây! Anh bị thương rồi.

Nghe thấy có tiếng trả lời, tôi mừng quá. Vậy vẫn còn người đang sống.

- Có còn ai sống nữa không anh? - Tôi vừa hỏi vừa tìm cách kéo những cây tre nằm chắn lối trên mặt đất để vào giúp anh ra ngoài.

- Những công sự bên cạnh không rõ, nhưng ở đây chỉ còn lại mình anh.

Tôi đưa mắt nhìn bao quanh, không thấy đâu là công sự. Chỉ còn lại trên mặt đất là những hố sâu nham nhở của đợt đạn bom vừa rồi để lại.

Anh Truyền bị thương vào đầu và chân, tôi đưa anh ra ngoài và gọi anh Huyên y tá ở công sự phía trước đến sơ cứu.

Còn tôi nhiệm vụ chính được anh Hưu giao phó rất nặng nề, không chần chừ ở lại đây được. Lại phải tiếp tục vượt qua thửa ruộng trống trải để sang khu vườn phía sau, nơi trung đội 1 chốt giữ.

Khi vừa vào đến khu vườn, một cảnh tượng tan hoang, tiêu điều đập vào mắt tôi: Ngôi nhà ở giữa vườn tan tành, hầu như không để lại một dấu tích gì cả. Nơi đó, giờ đây là một hố bom sâu hoắm không có nước. Xung quanh vườn cây cối đổ gãy tan hoang. Tôi đảo mắt nhìn mà chẳng thấy ai, nên vội cất tiếng gọi:

- Anh Thiết và các anh ơi! Các anh đang ở đâu?

Sau tiếng gọi của tôi, tiếng ai đó đang ở dưới giao thông hào phía góc vườn bên tay phải tôi reo lên:

- Em Minh đấy phải không? Anh Tài đây!

Tôi mừng quá vội lao nhanh đến, mặc cho đạn bay chíu chíu trên đầu.

- Thế mọi người đâu hết cả rồi anh? - Tôi hỏi anh.

Anh Tài giơ tay chỉ và trả lời:

- Anh em trong trung đội sau trận bom hy sinh gần hết rồi, chỉ còn anh và Coỏng thôi. Nó đang canh giữ hướng địch đến tấn công ở góc kia kìa.

Vừa nghe đến đây, lòng tôi đau thắt lại. Ôi chiến tranh tàn khốc và khủng khiếp quá, đã cướp đi hầu hết bạn bè của tôi, tất cả đã vắt kiệt đến mức hầu như không còn sức để gồng mình lên được nữa.

Suốt cả mấy tháng ròng rã vừa qua, chúng tôi chẳng được nghỉ ngày nào. Uống thì chỉ có nước lã là chủ yếu, còn ăn chỉ có độc cơm nắm nhưng rất thất thường, nhiều hôm chỉ có nước lã trừ bữa. Những cơn đói khát như căn bệnh mãn tính cứ bám riết không lúc nào buông tha. Đêm thì hành quân rồi đào hầm xây dựng công sự cho đến lúc trời sáng mới tạm xong. Còn nằm ngủ thì ở dưới hầm hoặc trên mặt đất, chưa kịp chợp mắt chúng nó đã mò đến rồi, bom đạn thì triền miên cứ dội trên đầu, kéo dài suốt ngày này qua ngày khác, làm cho đồng đội tôi liên tiếp thay nhau ra đi.

Nghe thấy có tiếng tôi, Coỏng mừng quá vội lao đến. Ba chúng tôi ôm lấy nhau nghẹn ngào. Trong cơn nấc, Coỏng nói:

- Minh ơi! Anh Thiết trung đội trưởng đã hy sinh sau đợt bom thứ nhất. Giờ đây trung đội 1 chỉ còn lại mình và anh Tài thôi! Mọi người đã hy sinh hết cả rồi... Ôi...

Tôi lau nước mắt và động viên hai anh:

- Em cũng đau lòng lắm, quân lính Sài Gòn đang tìm mọi cách tiêu diệt chúng ta để chọc thủng tuyến phòng ngự này. Các anh hãy cố gắng chốt giữ những hướng mà mình đảm nhiệm, kiên quyết không cho chúng tiến vào. Em phải về Ban chỉ huy đại đội báo cáo đây!

Tôi lợi dụng bờ tre tiến dần đến mép ruộng, nơi có bờ đất nối liền giữa khu vực Ban chỉ huy và trung đội 3.

Đạn cứ bay chiu chiu, xé gió trên đầu tôi. Từng gò đất nổi lên trong trận địa chúng tôi, đều nhận đủ một quả đạn pháo DKZ90 của xe tăng ở ngoài bắn vào, để lại mặt đất nơi đó một hố rộng toang hoác.

Tôi nằm im ở mô đất thấp có bụi cây nhỏ che khuất, khi đạn địch bắn vừa chuyển làn sang hướng khác, nhanh chóng vùng dậy vụt lao ra ngoài mặt ruộng, rồi nằm lăn mình chúi đầu vào bờ đất phía trước.

Chúng đã phát hiện ra, nên tập trung hoả lực bắn về tôi rất mạnh. Nằm áp sát bờ đất nghe đạn bắn cứ phập, phập, phập liên tục vào phía bên kia bờ. Phía bên trên cách mặt tôi khoảng 10-20cm đạn cày xới đất bắn tung tóe phủ đầy mặt và người.

Nghiêng mặt để tránh đám đất cát đó, tôi nhìn xuống phía sau hai chân mình, cách đó khoảng một mét, đạn đại liên của chúng bắn ra, tung toé đất bụi bay mù.

Tôi rùng mình hoảng sợ khi cả người còn ở trong tư thế nằm ngửa. Các loại đạn bay dày đặc sàn sạt vút qua, chỉ cần hơi nhổm một chút chắc sẽ bị băm nát người.

Tình thế nguy hiểm khẩn cấp bất lợi cho cả đại đội 3 tăng theo từng phút, từng giây. Tất cả đang chờ tôi đi gọi hỏa lực B40 nhanh chóng về Ban chỉ huy đại đội, nếu không địch sẽ nhanh chóng chọc thủng đội hình từ nơi lực lượng và hoả lực yếu nhất. Mà ở đó, chỉ còn lại một mình Tịch chiến sĩ thông tin, với một khẩu súng tiểu liên AK chống đỡ.

Không thể nằm chờ lâu ở đây được, tôi phải tìm mọi cách vận động đến được vị trí của trung đội 3. Bờ đất quá thấp, không cho phép bò được, giờ chỉ còn cách nằm lăn vuông góc với nó, chân hướng ra phía ngoài, đầu hướng vào phía trong, tay nắm nòng súng AK lôi đi từng quãng ngắn.

Lực lượng đối phương ở phía ngoài phát hiện ra tôi còn sống, bởi đám cát bụi bay theo do khẩu súng đang lôi xềnh xệch trên mặt ruộng.

Đạn lại cắm phầm phập vào bờ đất bay chiu chiu xèo xèo. Đã có viên đạn sướt thủng qua ống tay áo, dọc từ vai đến khuỷ bên tay trái, do khi tôi đang lăn mình phần vai có hơi nhô cao lên một chút. Nhưng mặc kệ, vẫn cứ tiếp tục lăn tiếp dần về phía bờ tre quanh khu vườn, nơi trung đội 3 đang còn ở trong đó.

Vừa chạm đến chân bờ, tôi nằm im bất động một lúc, để quân địch ở phía ngoài nghĩ rằng mình đã chết. Khi bọn chúng bắt đầu bắn chuyển dần sang hướng khác, tranh thủ cơ hội này, tôi lao mình nhảy vào phía bên trong bờ tre. Cũng rất nhanh, 3 quả đạn DKZ90 của địch nổ ngay vào sát cạnh đó. Do bờ tre bao quanh vườn khá vững chắc nên không ai hề hấn gì. Tôi truyền đạt nhanh mệnh lệnh của Ban chỉ huy đại đội cho anh trung đội trưởng Trần Quang Đăng.

Anh Trần Dôn, xạ thủ B40 vừa nhận được mệnh lệnh, đã nhanh chóng nhảy sang bên kia bờ tre băng qua thửa ruộng lao sang bên khu đất hoang nơi có anh Hưu và Tịch đang chốt giữ ở đó.

- Hãy cẩn thận, anh Dôn nhé!- Tôi chỉ kịp hét lên.

Ở phía ngoài, xe tăng và lính Sài Gòn đua nhau nổ súng vào chúng tôi ào ào, như một cơn bão rất lớn, khủng khiếp đang đổ về. Tôi không thể nào phân biệt riêng rẽ từng loại âm thanh được, may ra còn nghe có tiếng nổ “ Oàng, oàng” của đạn DKZ90.

Những tiếng súng vừa tạm dừng, tôi cũng nhanh chóng lao mình vượt qua thửa ruộng, quay trở về công sự chỉ huy gặp anh Hưu.

- Anh Dôn đã về đến đây chưa anh? - Tôi hỏi anh Hưu

- Cậu Dôn đang vận động theo mép bờ ruộng kia kìa, để tiếp cận áp sát chiếc xe tăng đang đậu gần đó mà bắn cho chính xác. -  Anh lấy tay chỉ và trả lời.

Từ xa nhìn vào rất rõ anh Dôn đang hai tay ôm súng lom khom tiến, những quả đạn B40 nằm trên lưng cứ nhấp nha, nhấp nhô ngay sát mép bờ ruộng. Cứ kéo dài như thế này sẽ bị bọn địch ở ngoài dễ dàng phát hiện ra.

Đúng như dự đoán, một phát đạn cối cá nhân M79 của địch bắn đến nổ ngay bên cạnh anh.

Một cụm khói đen trắng và đất cát tung lên, những cái nhấp nhấp, nhô nhô trên mặt bờ ruộng giờ đây không còn nữa. Tôi biết anh đã hy sinh rồi!

Chỉ vài phút trước đây tôi vừa mới nhắc nhở hãy thận trọng, nhưng anh đã vội vàng lao vụt đi đến chi viện cho chúng tôi. Thế mà, bây giờ anh đã ngã xuống nằm lại mãi mãi nơi mảnh đất này.

Thương tiếc anh, tôi quên hết mọi nguy hiểm lao vội đến, vẫn trong tư thế khom khom tựa nghiêng vào bờ ruộng, hai tay đang ôm chặt khẩu súng, mặt vẫn hướng thẳng về phía quân đối phương (anh Trần Dôn là sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Sư phạm Vinh).

Trời đã trở về chiều, bọn địch không thể tiến lên được bước nào nữa, buộc  phải rút quân về. Vậy là, trong cuộc chiến đấu gay go ác liệt của ngày hôm nay, chúng tôi đã bắn cháy hai xe tăng và tiêu diệt rất nhiều lính Sài Gòn. Trong đó, chưa tính đến bọn bị thương, nhưng vẫn không bù đắp được, khi quân số đại đội chỉ còn lại có 13 người, nhưng đâu còn nguyên vẹn hết, vì trong đó có 6 anh bị thương.

Tôi chợt nhớ về bộ phim "Thượng Cam Lĩnh" được xem vào những ngày đầu đặt chân lên dải Trường Sơn. Phim nói về một lực lượng ít ỏi và vũ khí thô sơ của Hồng quân Trung Quốc đã chiến thắng một đội quân hùng hậu có trang bị vũ khí tối tân của quân đội Mỹ. Lúc đó, mọi người không thể tin được mà còn nói đùa với nhau: Đó là chuyện bốc phét. Thế mà giờ đây, chúng tôi đã vượt qua trong trận chiến kinh hoàng, cam go và ác liệt của ngày hôm nay, chẳng có một tý gì gọi là "bốc phét" cả.

Tối hôm đó, đại đội 3 của tôi không đủ người làm nổi công tác thương binh tử sĩ. Anh Hưu đã chỉ thị cho Tịch điện về tiểu đoàn xin được điều người về hỗ trợ. Chúng tôi an táng các anh hy sinh, an nghỉ tại khu vực Gò Nổi nằm ven bờ sông Vàm Cỏ, thuộc xã An Ninh Tây, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Đó là các anh Nguyễn Văn Thiết, Nguyễn Văn Thắng quê ở Lệ Thuỷ, Quảng Bình. Anh Trần Dôn quê ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nguyễn Văn Sáng quê ở Nghệ An...

24-5-1972

Khoảng 3 giờ sáng, hai tiểu đoàn 8 và 9 cùng các đại đội trực thuộc của trung đoàn 271 chúng tôi, tập kết ở bờ đông sông Vàm Cỏ Đông để vượt sang bờ bên kia về đất Cămpuchia đóng quân. Còn tiểu đoàn 7 ở lại tiếp tục chốt giữ trên đất huyện Đức Hoà.

Đêm nay trăng ngoài mùng mười nên rất sáng. Dưới mặt sông, những chiếc thuyền ba lá đang đậu chờ đợi chúng tôi, dày đặc bến. Lần này vượt sông chúng tôi đã khá quen, nên cứ 4 người xuống một thuyền, rồi tự mình chèo lấy sang bờ bên kia.

Trên thuyền lúc này có tôi và các anh Hưu, Huyên, Trữ. Tôi ngồi ở phía sau cầm mái chèo để vừa lái vừa chèo. Khi còn đứng trên bờ nhìn mọi người lướt thuyền dưới sông , thấy quá ư dễ dàng, chả khó khăn gì. Thế nhưng, giờ đây tự tay mình cầm mái chèo lái, mới thấy khó vô cùng.

Con thuyền mà tôi đang điều khiển cứ quay tròn ở giữa sông, không tiến thêm được một chút nào. Giá như dòng sông không sâu, nước không chảy mạnh, tôi đã nhảy xuống sông bơi và đẩy thuyền qua rồi. Đang loay hoay cố gắng tìm cách lái con thuyền ương bướng, cứng đầu này, một giọng nói nhỏ nhẹ của cô du kích lái chiếc ghe đến ngay sát cạnh nói:

- Anh Hai cứ bình tĩnh, không được chèo một bên, mà phải thay đổi cả hai bên, như vậy mới điều chỉnh chiếc ghe đi đúng hướng.

Một lúc sau đó, con thuyền chúng tôi mới thực sự lướt qua sang băng băng. Vì mất nhiều thời gian về việc chèo lái, nên khi còn cách bờ bên kia khoảng 10 mét nó đã bị mắc cạn, do nước thuỷ triều ở sông rút quá nhanh.

Tôi loay hoay tìm mọi cách điều khiển đưa nó vào bờ, nhưng vẫn không được, cứ đứng ỳ tại chỗ, mà lại còn xoay tròn tại ngay tại vị trí  đó thôi.

Không một chút do dự, tôi nhảy xuống dòng sông, lấy hai tay đẩy mạnh con thuyền tiến về phía trước. Nhưng dưới chân mình lúc này, bùn  mềm nhũn. Người tôi cứ tụt dần, tụt dần xuống gần đến ngực rồi mà chân vẫn không chạm tới đáy. Tôi cố gắng nhích dần, thay đổi chân từng bước hòng thoát lên, nhưng càng cử động lại càng bị sụt xuống bùn sâu hơn.

Biết rằng khả năng mình không tự giải thoát được, khi con thuyền đã bị đẩy đi cách xa rồi, tôi đành phải đứng yên và gọi mọi người đến cứu.

Ở trên thuyền, vừa trông thấy tôi đang chìm dần dưới đáy sông đầy bùn, anh Hưu vội vàng ném khẩu súng AK xuống. Tôi đặt nó nằm ngang trên mặt bùn rồi lấy hai khuỷu tay choàng lên. Lúc này, tốc độ chìm xuống mới được từ từ hãm lại.

 Một con thuyền khác theo dòng nước ở con kênh bên cạnh đổ ra sông, mọi người đang ngồi trên đó đã kịp thời kéo tôi lên và chiếc thuyền bị mắc cạn vào bờ. Thật là hú vía, chậm một chút nữa thì tôi đã bị chôn vùi vào lớp bùn đen dày đặc của dòng sông Vàm Cỏ Đông này.

Khi vừa lên đến bờ, cả người và khẩu súng nhuộm một màu đen bùn đất, trông rất kinh dị. Tôi nhảy xuống dòng kênh bên cạnh, gạt tạm những gì đang còn bám đầy trên mình cho sạch bớt, rồi tiếp tục theo đoàn quân hành quân về vùng đất nước bạn.

Khi đi qua bên cạnh một hố bom đầy nước trong xanh giữa cánh đồng "Chó ngáp", chớp cơ hội này tôi vội nhảy ùm xuống để vò đầu gột rửa. Thật là tuyệt vời! Cả một tháng qua, chúng tôi chưa hề có khái niệm tắm là gì? Quần nhau với địch suốt ngày, bom đạn triền miên, chẳng lúc nào được nghỉ ngơi cả.

Giờ đây giữa hồ nước trong vắt mát lạnh đang ôm trọn vào lòng, tôi thỏa thích mải mê bơi lội, ngụp lặn, bù lại cho những ngày gian khổ, vất vả vừa qua. Tất cả những gì mà mình đã chịu đựng, như được vơi bớt đi, chìm lắng sâu dưới đáy nước hồ.

Đang mải mê vẫy vùng dưới nước, tôi chợt tỉnh khi biết rằng: Anh em trong đơn vị đã vượt quá xa, nên vội vàng nhảy lên bờ, sục sâu khẩu súng đang cầm xuống nước cho sạch bùn còn bám vào.

Tôi chạy đuổi theo đơn vị. Nhưng lạ thay, phía dưới đũng quần của mình sao cứ thấy man mát. Cúi đầu xuống để nhìn, mới thấy nó đã rách vụn từ lúc nào.

Gần một tháng trời liên tục rồi còn gì?  Chúng tôi không có điều kiện tắm và thay quần áo nên vải đã bị mủn, bây giờ chỉ cần đụng vào là rơi ra từng mảng. Thực ra, không riêng gì tôi mà ai cũng như vậy.

Khi gần đến phum Sóc Nóc, cả đơn vị  dừng lại ngoài cánh đồng để đợi trung đội 2 do anh Phạm Vinh chỉ huy, chốt giữ phía sau cạnh đồn Trà Cao, đảm bảo cho đại đội tôi rút quân an toàn. Nói trung đội cho oai chứ, quân số bây giờ chỉ có hai người thôi.

Một tin xấu lại đến : - Anh Vinh bị địch phục kích bằng mìn định hướng Claymo đã hy sinh rồi.

Đơn vị tôi lại giảm thêm một người nữa, chỉ còn có mười hai người nữa thôi. Mới đầu tháng năm, cũng phải qua con đường này, nhưng chỉ khác là đi ngược chiều nhau. Quân số của đại đội 3 khi đó có hơn bốn mươi người. Thế mà giờ đây...

Tất cả anh em nước mắt đã cạn kiệt, không thể khóc được nữa, dẫu rằng rất thương tiếc anh. Chúng tôi là những người còn lại đang đứng tại đây lặng im, cúi đầu mặc niệm, tiễn đưa anh về nơi yên nghỉ tại gò đất giữa cánh đồng gần phum Sóc Nóc trên đất nước Cămpuchia.

Lại trở về Sóc Nóc, số người trong đại đội tôi chỉ ở gói gọn trong 2 ngôi nhà sát cạnh nhau. Một tháng trước đây, cũng trên dãy phố kéo dài này, đồng đội chúng tôi đóng quân vào các nhà dân chen đầy. Nhưng giờ đây, những chiếc xoong quân dụng lớn không còn cần đến nữa. Cả đại đội chỉ dồn về một bếp ăn do anh Trữ đảm nhiệm, với nồi quân dụng nhỏ nhất để nấu cơm. Đâu rồi tiếng leng keng, gõ bát thìa đũa vang rộn làm náo động một khu phố trước giờ ăn của những chiến sĩ thích đùa và háu đói. Đi đâu hết rồi các bạn?!...

Chúng tôi là những người còn lại, không còn sức để nghĩ về mình. Giờ đây không còn một chút gì là của riêng, ngoài khẩu súng và một ít đạn được giao đang cầm trên tay. Tất cả ba lô đều nằm lại bên tây bờ sông Vàm Cỏ Đông ngày nào, để nhẹ nhàng vượt sang bờ bên kia. Chiến đấu giữ mảnh đất thân yêu của Tổ quốc, mà chúng tôi không còn điều kiện để quay trở lại lấy.

Trên người tôi chỉ còn mỗi một bộ kaki màu xanh, mặc từ ngày còn ở ngoài Bắc vào. Giờ đây vải đã mục rách, chiếc quần không còn đáy nữa. Nếu như là những ngày bình thường, cánh lính trai trẻ chúng tôi ai nấy đều xấu hổ, khi hàng ngày luôn đụng chạm với những cô gái Cămpuchia. Nhưng không một ai còn nhớ và bận tâm đến điều đó. Tất cả còn đang bàng hoàng về cuộc chiến vừa xảy ra, thương nhớ những người đồng đội đã mãi mãi ra đi, nhớ về những người bị thương nay tạm rời xa đơn vị để về phía sau điều trị.

 

27-5-1972

Cấp trên bổ sung anh Dương Hoài Nam người Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, Nghệ An về nhận cương vị đại đội trưởng đại đội 3. Trần Xuân Coỏng chỉ huy trung đội 1. Anh Nguyễn Thế Tứ chỉ huy trung đội 2. Anh Nguyễn Ngọc Quỳnh chỉ huy trung đội 3, thay anh Đăng trung đội trưởng vừa bị thương.

Cũng trong ngày, chúng tôi tiếp nhận mỗi người được hai bộ quần áo sơ mi vải thường mỏng có hai màu xanh và nâu và một chiếc võng vải nilon, một chiếc màn vải xô. Tất cả được dồn vào trong chiếc túi vải gọi là: ‘‘bồng’’ thay cho chiếc ba lô mang sau lưng.

28-5-1972

Ngày hôm nay, đại đội chúng tôi được bổ sung thêm tân binh mới và tiếp nhận những người đã bị thương trong những trận trước vừa điều trị từ các bệnh viện về, nâng quân số đơn vị lên 30 người.

 

4-6-1972

4 giờ 30 phút chiều, tiểu đoàn 8 chúng tôi cùng với các đơn vị trực thuộc đặc công (C25), công binh (C19), Cối 82 (C16), DKZ 75 (C17), đại đội súng 12 ly 7 (C18)... rời khỏi khu vực Sóc Nóc để đi về Long An.

Khoảng 11 giờ đêm, khi chúng tôi đang đi đến gần cánh đồng "Chó ngáp", đột ngột có lệnh trên truyền xuống: "Cả đơn vị tạm nghỉ", sau đó lại đi lùi trở lại.Mọi người dự đoán: Chắc có điều gì đó "Lành thì ít, dữ thì nhiều".

Sau này tôi mới được biết: Tối hôm đó trăng cuối tháng nên trời rất tối, trinh sát dẫn đường cắt nhầm vào chốt Trà Cao. Cả đơn vị đành phải lùi lại cắt đường đi theo hướng khác, vượt qua cánh đồng "Chó ngáp" về bến đò Mỹ Quý Đông thuộc huyện Đức Huệ để vượt sông.

 

5-6-1972

4 giờ 30 sáng, các đơn vị chúng tôi tạm trú quân ở vườn đất trống rộng không nhà cửa, xung quanh được bao bọc bởi bờ tre ken dày, ở phía ngoài cùng sát với bờ ruộng là một dãy giao thông hào khô nước. Nơi đây, gần ngã ba Phước Chỉ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Giáp ranh với Mỹ Quý Đông, Đức Huệ, Long An.

Theo như hợp đồng về thời gian với đơn vị cơ sở địa phương tổ chức đưa bộ đội qua sông, chúng tôi đến được bến sông không đúng hẹn, vì trời bắt đầu đã hửng sáng. Đây là thời gian của tàu tuần tiễu quân địch lùng sục trên sông, nên Ban chỉ huy tiểu đoàn đành phải quyết định cho các đơn vị tìm nơi trú ẩn.

Không đón được chúng tôi, bà con chị em cô bác vùng Đức Hòa đành ngậm ngùi đem những chiếc xuồng ba lá về nơi cất giấu.

Đội hình triển khai tác chiến của tiểu đoàn như sau:

Các đơn vị phối thuộc và tiểu đoàn bộ được bố trí nằm ở phía trong bờ tre vườn đất trống. Các đại đội 1, 2, 3 bộ binh được triển khai phía ngoài bờ tre, xung quanh khu vườn, nhằm ngăn chặn quân địch tấn công từ các hướng vào vị trí tập kết của đoàn quân.

Đại đội 3 chúng tôi bố trí lực lượng dưới giao thông hào dọc bờ tre, từ nơi này nhìn qua cánh ruộng bỏ hoang khoảng một trăm mét là con đường đất rộng chạy song song với giao thông hào, nối từ ngã ba Phước Chỉ đến Mỹ Quý Đông.

7 giờ sáng, một chiếc xe bò do một người đàn ông trung niên điểu khiển, đang đi vào nơi đơn vị chúng tôi đóng quân. Khi còn cách công sự của tổ tiền tiêu chừng 5 mét, bộ đội ta xông ra bắt sống, ngay sau đó đơn vị báo cáo cho Ban chỉ huy tiểu đoàn biết.

Anh Thi trợ lý tác chiến tiểu đoàn, người Nghi Xuân, Hà Tĩnh đã xuống trực tiếp giải quyết. Chủ chiếc xe bò hoảng hốt, khóc lóc van xin:

- Qua chỉ đi làm qua đây thôi! Các chú thả cho qua quay trở về...

Sau một lúc người đàn ông đó năn nỉ, anh Thi mềm lòng không tỉnh táo, cảnh giác đã thả ông ta quay trở về.

Chỉ khoảng 30 phút sau đó, binh lính Sài Gòn từ đâu đã ùn ùn kéo đến. Chúng bao vây và bắn như vãi đạn vào nơi chúng tôi đang đóng quân.

Riêng về hướng đại đội 3, có khoảng hơn đại đội địch, liều lĩnh vượt qua khu đất trống, bám dọc theo mép đường đất trước mặt tiến quân.

Lúc này, tôi còn ở dưới giao thông hào sát với bờ tre, cũng vừa gác xong mấy cây củi khô trên đầu, để dồn hết những chiếc bồng của tôi và anh Hưu anh Nam lên đó tạm, phòng khi pháo, bom quân địch dội đến, vì thời gian triển khai đào hầm chúng tôi không có.

Khi quân địch tiến vào, tôi có ý chờ đợi anh em các trung đội nổ súng. Có thể, đa số anh em tân binh vừa mới bổ sung vào, là trận đầu chạm mặt trực tiếp với kẻ thù, nên mọi người còn rất do dự.

Không thể để bọn chúng tiến thêm, tôi bóp cò súng bắn từng loạt đạn AK vào tốp lính đối phương đi đầu, chúng đổ gục hàng loạt, những đứa còn sống sót hoảng hốt khiếp sợ bò lổm ngổm lùi về phía bên kia đường.

Lúc này cả đại đội địch không dám tiến vào, mà từ xa dùng súng đại liên bắn vào phía chúng tôi. Đạn cắm vào bờ tre trên đầu tôi nổ "phầm phập, toang toác".

Khi khẩu đại liên đang bắn vừa chuyển làn, tôi thò đầu lên khỏi bờ giao thông hào quan sát về phía trước, xác định được ngay vị trí của nó. Ước lượng khoảng cách đến mục tiêu, tôi chỉnh lại thước ngắm khẩu súng của mình, rồi bóp cò điểm xạ bắn hai viên vào đó.

Khẩu đại liên đang còn khạc đạn nhảy như con cào cào, đột ngột câm bặt. Đến lúc này, bọn lính ở phía ngoài, đã bỏ trống hướng tấn công vào tôi.

Giờ đây trên khu vườn hoang không rộng lắm, nơi cả tiểu đoàn 8 và các đại đội trực thuộc đang có mặt, phải trực tiếp hứng chịu những đợt bắn của máy bay địch ném vào đội hình.

 Từ dưới giao thông hào nhìn lên trời, từng tốp máy bay A37 nối đuôi nhau bổ nhào xuống, rồi ném những quả bom đen trũi, xoay tròn lao thẳng vào nơi tôi đứng.

Tôi vừa thụp đầu xuống thì ngay tức thì, hai tiếng nổ nghe "ục, ục" ở phía sau bờ tre. Đất đá bay mù mịt, mảnh bom bay vèo vèo cắm xuống mặt đất và những thân cây tre bên cạnh.

Suốt ngày, chúng tôi không ngừng phải gánh chịu những loạt bom khủng khiếp đó. Đến 4 giờ 30 phút chiều, những chiếc máy bay hùng hổ, điên cuồng đó mới chịu rút về.

Lúc này, tiếng bom đạn hầu như mới dừng hẳn, tôi nhìn ra phía trước, bọn địch đã rút hết. Những chiếc bồng vải dùng để che chắn trên giao thông hào bị thủng lỗ chỗ do mảnh bom xuyên vào làm hỏng hết áo quần, võng, màn.

Một mảnh bom nhỏ xuyên vào bình tông đầy nước của tôi, khi vừa nghiêng để đổ nước ra uống, tiếng lanh canh kim loại va vào thành bên trong.

Cũng rất may, nhờ có những vật che chắn này, nên cả ba chúng tôi không ai hề hấn gì.

Sau khi kiểm lại quân trong đại đội, có thêm 2 người hy sinh. Đó là cậu Phương, Quảng Trạch, Quảng Bình, và anh Tứ, trung đội trưởng trung đội 2 quê ở Nghệ An và thêm năm, sáu người nữa bị thương.

Lại một lần nữa cả tiểu đoàn 8 chúng tôi bị tổn thất nặng nề, đành phải hành quân lùi về phum Chếch (nếu dịch ra tiếng Việt là Chuối) mà chúng tôi gọi là phum Chết, thuộc huyện Công Pông Rồ, Cămpuchia sát biên giới huyện Đức Huệ, Long An.

Có lẽ đau buồn nhất là các đại đội phối thuộc. Hầu hết bom đạn địch đã trút xuống trong ngày, đều tập trung vào giữa khu vườn hoang nơi các anh đang đóng quân.

Đối với đại đội đặc công (C25), đại đội cối 82 (C16) và đại đội công binh (C19), các anh chỉ quen đánh theo kiểu "mật tập" và mạnh về hoả lực, chứ không quen cách đánh địch "trực diện" như chúng tôi.

Đại đội các anh thiệt hại quá nặng nề, nên khi hành quân rút về vị trí mới, một số vũ khí hạng nặng không thể mang theo được, đành phải để lại cất giấu.

 

8-6-1972

Tôi được Ban chỉ huy điều về tiểu đoàn bộ nhận nhiệm vụ tiểu đội trưởng Truyền đạt, thuộc trung đội thông tin, do anh Nguyễn Trọng Khánh quê ở Hưng Nguyên (Nghệ An) chỉ huy gồm có 3 tiểu đội: Vô tuyến, Hữu tuyến và Truyền đạt.

Bữa cơm chia tay để tôi về đơn vị mới được các anh chuẩn bị khá chu đáo. Cả đại đội dồn lại gần 20 người, quây quần bên nhau nhớ về những kỷ niệm vui buồn trong những ngày tháng qua.

Chúng tôi đã cùng sống chết có nhau, đắng cay, ngọt bùi đều chia sẻ, đã từng xông pha trong lửa đạn, quên mình để cứu nhau. Tất cả chúng tôi giờ đây như một gia đình, mà các thành viên luôn gắn kết chặt với nhau, tưởng như không tách rời được, thế mà, giờ đây tôi phải tạm biệt các anh.

 Trong bữa cơm chia tay đó, hầu như chúng tôi không ai nuốt nổi.

Không thể để không khí nặng nề này kéo dài, anh Hưu đã đứng dậy lên tiếng:

- Em lên tiểu đoàn nhận nhiệm vụ mới, tất cả mọi người đều rất nhớ. Anh thay mặt đại đội cảm ơn em những ngày tháng vừa qua đã cứu nguy cho đơn vị ta nhiều trận. Em rất dũng cảm và mưu trí trong chiến đấu, lập nhiều chiến công. Cả đơn vị  bình bầu em là Dũng sĩ Quyết thắng, xứng đáng được nhận Huân chương Chiến công hạng Ba. Anh đã gửi công văn đề nghị lên tiểu đoàn, nhớ thỉnh thoảng về thăm các anh.

Tôi cảm động và bật khóc, khi những tình cảm cao quý các anh và các bạn đã dành cho, rồi ôm lấy các anh Hưu, Tài, Huyên, Ba và tất cả mọi người trong buổi chia tay phải rời xa gia đình thân yêu đó.

Quá xúc động, nghẹn ngào không nói được lời nào hơn, tôi chỉ biết cảm ơn các anh, các bạn rất nhiều và hứa sẽ thường xuyên trở về thăm đơn vị…

Vừa bước chân đến tiểu đoàn bộ, anh Dương Văn Hiêu, tiểu đoàn trưởng gọi tôi vào:

- Cậu Minh đâu rồi vào đây xem thế nào? Nghe tên dưới đại đội đã lâu mà tớ chưa biết mặt đấy!

Vừa gặp anh, tôi vội chào: "Em chào thủ trưởng ạ. Em là Minh có mặt".

- Cậu Minh đấy à? Tớ cứ nghĩ cậu nhỏ con da đen rắn chắc lắm, đâu có ngờ lại trắng, cao, gầy và thư sinh thế này.

Rồi anh hỏi thăm về hoàn cảnh gia đình bố mẹ anh chị ở quê, về diễn biến các trận đánh trong thời gian mà tôi vừa trải qua.

Tôi kể hết mọi điều, anh đã biểu dương và động viên, rồi nói về trận đánh vào ngày 23-5 tại ấp An Hòa. Khi bộ binh địch có xe tăng yểm hộ bao vây trung đoàn chúng tôi. Nếu như hôm ấy đại đội 3 không phát hiện được địch vào, hoặc không kìm chân chúng mà để tràn qua thì rất nguy hiểm. Hậu quả thiệt hại của cả trung đoàn không thể tính được. Trong lúc đó, tiểu đoàn bộ nằm sát phía sau đại đội 3.

Tiểu đội truyền đạt do tôi chỉ huy, có nhiệm vụ: Nhận lệnh trực tiếp của Ban chỉ huy tiểu đoàn, truyền mệnh lệnh kịp thời xuống các đại đội đang trực tiếp chiến đấu với quân thù.

15-6-1972

Buổi chiều tôi nhận lệnh từ Ban chỉ huy tiểu đoàn xuống các đại đội, truyền lại: - Chuẩn bị chiếm lĩnh vị trí Chùa Nho, bên cạnh phum Rồ thuộc huyện Côngpôngrồ, gần ngã ba của con đường nối về thị trấn Mộc Hoá, Long An để triển khai lực lượng đánh địch đổ quân từ hướng biên giới sang.

Khi về đến Ban chỉ huy đại đội 3, tôi được biết: Chiến sĩ Đinh Văn N. Ở trung đội 3, quê ở Nghệ An vừa đào ngũ. Sự việc gây xôn xao trong đơn vị, vì đây là trường hợp đầu tiên.

Thực ra, lâu nay ở trung đoàn đã có người đào ngũ rồi. Chúng tôi và những người trong cuộc đều hiểu rằng: Với những ngày vừa qua khó khăn ác liệt quá nhiều. Bom đạn dội xuống suốt ngày, đồng đội cứ thay nhau nằm lại, rồi bị thương, máu hồng nhuốm đỏ, băng bông trắng toát đầy người. Cái sống, cái chết chẳng biết thế nào, bởi vì khi đã vào chiến trận: "Bom đạn nó tránh mình, chứ mình đâu tránh được nó".

Áp lực kinh hoàng, căng thẳng luôn luôn đè nặng lên anh và mọi người. Chỉ cần một giây chao đảo, anh bỏ đơn vị ra đi. Dẫu biết rằng: Giờ đây, khi rời bỏ đội ngũ, phía trước đối với mình là con đường hầm đã bịt lối, chẳng le lói một tia hy vọng gì. Cuộc sống sẽ là đơn độc, chui lủi, lẩn tránh tất cả, lẩn tránh mọi người. Vất vơ, vất vưởng không biết sẽ trôi dạt về phương trời nào?

 

16-6-1972

Một trận chiến đấu ác liệt diễn ra giữa tiểu đoàn 8 chúng tôi với sư 7 của quân đội Việt Nam Cộng hoà, trên đất Công Pông Rồ. Cuộc chiến này thật sự không cân sức, khi quân số của cả tiểu đoàn tôi bây giờ gộp lại không được một đại đội chính quy. Vũ khí đạn dược quá thiếu thốn, nhất là các loại đạn cối 82, đạn chống tăng B40, B41…

Trong lúc đó, lực lượng địch kéo đến rất đông, phải đến cả một trung đoàn bộ binh, có xe tăng yểm trợ đang dàn hàng ngang tiến vào nơi chúng tôi chốt giữ.

Đạn địch ở phía ngoài bắn vào như cơn bão lớn. Những tiếng nổ nghe cứ "ào, ào, ào..." không thể nào phân biệt âm thanh từng loại đạn. Dù đã khá quen với cách đánh này, nhưng mọi người vẫn lo lắng và sờ sợ, khi lực lượng của mình giờ đây quá mỏng.

Sau những đợt bắn phá của chúng, các đường dây thông tin hữu tuyến bị đứt, thông tin vô tuyến không liên lạc được, mọi liên lạc giữa tiểu đoàn và các đại đội đều do tiểu đội của tôi đảm nhiệm.

Mười một chiến sĩ được tôi phân công nhiệm vụ cụ thể, anh em đã vượt qua làn mưa bom bão đạn để truyền mệnh lệnh, chỉ thị chiến đấu của Ban chỉ huy tiểu đoàn cho từng đơn vị kịp thời.

Trong trận chiến đấu ngày hôm đó, chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cấp trên giao phó, đặc biệt cả tiểu đội không ai bị thương vong.

Đến cuối giờ chiều qua, thông tin của các đại đội báo lên tiểu đoàn, tôi được biết: Trong trận chiến ngày hôm nay, đại đội 3 có 3 người hy sinh. Đó là các anh Trần Xuân Coỏng, quê ở Quỳnh Long (Quỳnh Lưu, Nghệ An), là bạn liên lạc cùng đại đội của tôi trước đây. Anh Mai Khả Châu (Nga Sơn, Thanh Hóa), anh Nguyễn Ngọc Quỳnh nhà B3 phòng 30 khu tập thể Kim Liên (Hà Nội). Cả 3 người đều là cán bộ, trung đội trưởng.

17-6-1972

19 giờ 30. Từ Ban chỉ huy tiểu đoàn, tôi nhận được thông tin: Chiến sĩ Hoàng Ngân S. ở C2, D7 đã đầu hàng địch.

Sự việc xảy ra như sau: Trong trận chiến đấu với sư 7 quân đội Sài Gòn kéo dài từ ngày hôm qua cho đến hết ngày hôm nay, quá căng thẳng và ác liệt. Bộ đội ta thương vong rất nhiều, trong lúc đó đạn dược hầu như gần cạn kiệt. Khi những chiếc xe tăng và bộ binh địch ùn ùn xông đến, S. đã phóng một quả đạn B40 vào chiếc xe tăng gần nhất. Chiếc xe bốc cháy, đội hình địch đang hành tiến, bất ngờ bị chững lại rồi quay rút về phía sau.

Nhưng do nằm bắn quá vội vàng, S. đã để khẩu súng B40 nằm dọc theo thân người mình, mà không chếch theo một góc nhất định. Nên hai chân bị bỏng do ngọn lửa của liều phóng đạn phụt mạnh ra phía sau.

Anh em trong đơn vị cử S. ở lại giữ ba lô, để tất cả mọi người xung phong lên phía trước truy kích địch. Nhưng sau đó địch phản kích, S. đã vác B40 chạy về phía chúng.

Ngày 29-6-1972, đại đội 12 ly 7 (C18) của trung đoàn 271 đã bắn rơi một máy bay trinh sát L19. Ta đã thu được một quyển nhật ký có đoạn ghi: "…Theo lời khai của đương sự Hoàng Ngân S. C2, D7, E271 cho biết: D7, E271 tăng cường cho trung đoàn 2, Sư 5 Cộng quân…"

1-7-1972

Tiểu đoàn bộ 8 chúng tôi vẫn đóng quân ở gần giữa phum Rồ nằm ở phía nam chùa Prây Chăm Na, được nối với con đường đất rộng khá dài, trống trải không cây cối.

 Khoảng 8 giờ tối, anh Hiêu gọi tôi lên giao nhiệm vụ:

- Em chỉ huy hai cậu trinh sát này, hãy đến chùa Prây Chăm Na cuối phum Rồ kiểm tra hoạt động của địch ở trong đó. Có hay không có, về báo cáo cho các anh biết.

Chùa Prây Chăm Na có diện tích khoảng 3 héc ta, được bao bọc bởi bờ tre bảo vệ dày đặc lâu đời. Khu giữa là những ngôi nhà cho các sư sãi ở, học tập và tập trung tụng kinh trong những ngày lễ.

Phía ngoài chùa là cánh đồng khô cạn không cây cối rộng mênh mông. Trước mặt có con đường đất rộng kéo dài từ phum Rồ nơi chúng tôi đang đóng quân, vượt qua chùa nối với con đường đi thị trấn Cham Tria.

Cũng theo con đường này cách chùa độ khoảng 200 mét về phía bắc, là ngã ba con đường đất lớn nối về thị trấn Mộc Hoá, Long An.

Tôi khoác vội khẩu tiểu liên AK trên vai và quàng chiếc ống nhòm qua cổ, vội vàng cùng hai chiến sĩ trinh sát lên đường.

Khi chúng tôi đang chuẩn bị rời khỏi phum Rồ, nhìn sang bên kia chùa là cả không gian một màu đen kịt và im lặng lạ thường. Chỉ có những tiếng thình thịch phát ra sau lưng tôi, do bộ đội ta đang đào hầm xây dựng công sự chiến đấu.

Tôi giơ ống nhòm lên quan sát, mọi vật phía trước có rõ hơn một chút nhưng tất cả đều mờ mờ, ảo ảo. Trước địa hình trống trải này, hai chiến sĩ trinh sát đã nản lòng và đề nghị với tôi:

- Anh Minh ạ, phía trước yên lặng thế, chắc không có địch đâu, ta trở về báo cáo với tiểu đoàn như vậy là được rồi.

Tôi không đồng ý và trả lời:

- Nhiệm vụ đã được giao: Phải biết chắc chắn địch có mặt trong chùa hay không có. Theo tôi, chúng ta tổ chức tiến nhập theo đội hình chữ A. Tôi đi trước có nhiệm vụ quan sát cảnh giới phía trước, còn hai anh đi hai bên, quan sát cảnh giới phía sau và theo hướng tiến của mình, tiến quân không theo trục đường chính này vì bọn địch hay phục kích quân ta ở đây, mà phải cắt thẳng ra ngoài cánh đồng khoảng 300 đến 400 mét rồi tiền nhập vào phum. Vận dụng kỹ thuật đi khom thấp, khi cách bờ tre bảo vệ chùa, chúng ta sẽ bò vào. (Cánh đồng Cămpuchia rộng mênh mông trống trải một mặt phẳng, hiếm khi thấy được bờ ruộng ngăn cách).

Khi ba chúng tôi đến cách chùa độ khoảng 100 mét, tôi đưa ống nhòm lên quan sát. Tuy là trời rất tối, nhưng đã thấy rõ hơn bờ tre bảo vệ bao quanh chùa. Áp sát tai xuống mặt đất tôi nghe tiếng thịch thịch xa xa, nhưng khi bò đến cách bờ tre chỉ còn độ khoảng 10 đến 15 mét, tiếng đào hầm cùng tiếng nói lào xào giọng người miền Nam vọng ra nghe khá rõ.

Biết chắc chắn địch đã chiếm được chùa Prây Chăm Na và đang triển khai đào công sự, tôi ra hiệu cho mọi người lùi về.

Khi chúng tôi vượt ra khỏi vòng bán kính nguy hiểm, hai chiến sĩ trinh sát tỏ vẻ hối hận thốt lên:

- May mà chúng ta tiếp cận đến được, biết chắc chắn có quân lính Sài Gòn đang đào hầm ở đó.

Ba anh em vừa về đến tiểu đoàn bộ, anh Hiêu và mọi người đang đứng đợi sẵn ở trên công sự của Ban chỉ huy.

Vừa nhìn thấy tôi bước vào, anh Hiêu đã vội hỏi:

- Tình hình địch ở trong chùa thế nào hả Minh?

- Báo cáo thủ trưởng: Trong chùa có địch đang đào hầm xây công sự. Em nghe rõ có tiếng nói giọng miền Nam. - Tôi trả lời.

Vừa nghe đến đây anh Hiêu đã quát ngay mấy cậu trinh sát:

- Tôi đã bảo mà, không thể tin mấy cậu trinh sát được. May mà cử cậu Minh đi.

Mới nghe đến đây, tôi ngỡ ngàng không hiểu chuyện gì đã xảy ra trước đó. Một lúc sau, mới nghe được mọi người xì xào với nhau...

Anh Hiêu vẫn còn đang bức xúc, bực bội với cánh trinh sát dẫn đường (đêm ngày 6-6-1972) cho tiểu đoàn tiến quân về Long An bị lạc vào chốt địch đóng ở Trà Cao, đã đem lại hậu quả cho quân ta tổn thất rất lớn.

2-7-1972

Khoảng 4 giờ 30 sáng, cả ba trung đội của đại đội 3, tiểu đoàn 8, với 25 tay súng bí mật tiền nhập áp sát với bờ tre bao quanh chùa. Còn các đại đội 1, 2, 4 chốt giữ xung quanh Ban chỉ huy tiểu đoàn đang đóng ở phum Rồ.

Đến 5 giờ 30, quân ta đã vào được phía trong bờ tre. Đến lúc này, quân địch mới phát hiện được có bộ đội trong chùa, nên anh em cùng đồng loạt nổ súng để chống cự.

Tiếng súng các loại của hai bên thi nhau nổ rầm rầm, trước sự tấn công áp đảo mãnh liệt của ta, quân đối phương rút về phía bắc chùa cố thủ, chờ quân tiếp viện.

Từ đây, ta và địch thực sự giành nhau từng mét đất. Có lúc hai bên đứng sát cạnh nhau, chỉ cách nhau qua một bờ tre, nghe được tiếng gọi đối phương mà không nhìn thấy mặt nhau.

- Chạy sang đường ni. - Tiếng nói của những chiến sĩ người Nghệ Tĩnh gọi nhau.

Phía bên kia quân địch la lên: "Đánh bỏ mẹ quân khu 4 đi".

Súng hai bên lại nổ ran nhưng không có viên đạn nào lọt qua bờ tre ken dày đó được.

Độ khoảng 8 giờ, trên bầu trời từng đàn máy bay địch lao xuống ném bom vào phum Rồ và đầu chùa Prây Chăm Na. Cả tiểu đội tôi đi lại dưới bom đạn như thoi, để truyền mệnh lệnh của tiểu đoàn đến từng đại đội.

Quân số thương vong trong đơn vị đã xuất hiện, lúc này chỉ mới đến 9 giờ sáng, từ đây đến 5 giờ chiều thời gian còn rất dài (thông thường khoảng 5 giờ chiều quân đối phưong mới rút về, cuộc chiến trong ngày giữa hai bên lúc đó mới tạm nghỉ).

Trên con đường cát nối từ Mộc Hoá đến, từng đoàn lính Sài Gòn tiến quân về chùa để chi viện bọn lính đang còn co cụm trong đó. Trên đầu chúng là những chiếc trực thăng Utiti, "Cán gáo" bay qua, bay lại sát ngọn cây, dọc theo con đường đất mà bộ binh của chúng đang hành quân ở dưới.

Xa xa ngoài cánh đồng rộng phía bắc chùa, từng đàn xe tăng lúc nhúc dàn hàng ngang có lính đi sau, đang hành tiến, tạo thế gọng kìm bao vây.

Tôi đứng bên cạnh tiểu đoàn trưởng Dương Văn Hiêu quan sát, hai tay anh vò đầu đi đi, lại lại, rồi trực tiếp cầm máy điện thoại gọi về cho trung đoàn xin hoả lực pháo chi viện cho tiểu đoàn trong lúc nguy cấp này. Nhưng các cơ số đạn pháo dự trữ của trung đoàn đã cạn kiệt, nên không đáp ứng được.

Biết chắc rằng không có sự chi viện của hoả lực pháo binh, chúng tôi ai nấy đều lo lắng, khi trên cánh đồng và dọc con đường sau phum Rồ nhung nhúc xe tăng và lính Sài Gòn ùn ùn kéo đến. Tất cả giờ đây chỉ chờ vào sự dũng cảm, mưu trí của bộ đội ta đang chiếm giữ một phần của khu vực chùa Prâychămna.

Tiếng súng bộ binh và pháo trên xe tăng địch lại rộ lên liên hồi. Lực lượng địch đang tổ chức phản công lại quân ta.

Thông tin hữu tuyến từ ban chỉ huy tiểu đoàn đến các đại đội bị ngưng trệ do đợt bom vừa rồi cắt đứt đường dây. Thông tin vô tuyến lúc được lúc mất. Lúc này mọi liên lạc từ tiểu đoàn đến các đơn vị đều đè nặng trên vai tiểu đội truyền đạt.

Chúng tôi có 12 người, nhưng lúc này chỉ một mình tôi ở nhà để nhận lệnh điều hành chỉ huy. Còn lại mười một người, phải chạy đi chạy lại như thoi truyền lệnh. Đến chiều có một hai người bị thương.

Khoảng 4 giờ chiều, bọn lính và xe tăng chọc thủng tuyến phòng ngự trong chùa của đại đội 3. Giờ đây, tiếng súng không còn chát chúa như trước nữa. Thỉnh thoảng mới rộ lên một loạt đạn liên thanh của súng tiểu liên, hoặc oàng oàng của tiếng lựu đạn nổ hoặc đạn súng cối cá nhân M79 của địch.

Ở Ban chỉ huy tiểu đoàn, mọi người lặng đi, thần kinh căng như dây đàn lo lắng về sự an nguy của bộ đội ta.

"Ùm oàng, pằng pằng, pằng pằng". Tiếng ai đó reo lên: - "A, anh em mình còn sống, có tiếng súng B40 và AK đấy!".

Khoảng 5 giờ chiều, tiếng súng của hai bên hầu như đã ngừng hẳn. Tôi nhìn ra phía cổng chùa, phát hiện có một người đầu quấn băng trắng đang bò sát mép rãnh của con đường hướng về chúng tôi. Tôi báo cáo kịp thời cho anh Hiêu biết.

Sau trận đó, đại đội 3 chỉ còn năm người được trở về, nhưng đa số các anh đều bị thương. Lòng tôi quặn đau với một nỗi buồn khó tả.

Tôi hỏi thăm anh Lê Quảng Ba chính trị viên phó đại đội - Thế anh Tài và anh em đâu hết rồi? Anh không trả lời ngay câu hỏi mà kể lại diễn biến cuộc chiến trong ngày: - Sau khi anh em trong đơn vị đã chiếm giữ một số công sự của địch trong chùa, bọn địch co cụm dần lại một phía, gọi máy bay, bộ binh, xe tăng tấn công ta. Xe tăng vào quá nhiều, anh em đã bắn cháy 6 chiếc xe tăng, đến quá trưa thì đạn chống tăng hết, biết xe tăng vào mà không làm gì nó được. Trong đại đội đã có một số người hy sinh và bị thương. Lúc đó, các trung đội của ta co cụm lại ở ba hầm công sự gần nhau, với quyết tâm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, cố gắng cầm cự với quân địch, giữ vững trận địa cho hết buổi chiều, đến tối thì rút ra. Nhưng chúng rất đông, hoả lực mạnh. Quân ta đã hy sinh và bị thương khá nhiều, đạn các loại cạn kiệt. Khi địch bao vây, anh em mới tổ chức mở đường máu rút ra. Khởi đầu cho cuộc tấn công đó, là anh Tài trung đội trưởng trung đội 1.

Cảm nhận được mình và đồng đội khó lòng thoát khỏi lực lượng đông đảo và hoả lực cực mạnh của địch, anh đã nhanh chóng quyết định, một mình từ dưới hầm cầm súng đứng lên và hô vang: - "Tất cả các đảng viên, đoàn viên hãy dũng cảm xông lên, trả thù cho những đồng đội chúng ta đã hy sinh!". Nhằm tập trung sự chú ý của địch về phía mình, để cho đồng đội rút ra ngoài theo cửa hầm lối sau.

Chúng tôi cùng đồng loạt đứng dậy nổ súng xông lên. Một loạt đạn tiểu liên AR 15 của tốp lính đối phương cách đó khoảng 15 mét đã bắn thẳng vào ngực, anh Tài gục đổ ngay trước cửa hầm công sự của mình.

Anh em liền nổ súng tiêu diệt hết 5 tên lính đó, rồi  nhanh chóng vượt qua khe hở bờ tre nhảy ra ngoài. Phía trong chùa, tiếng súng AK và lựu đạn của bộ đội ta rộ lên, độ khoảng 10 phút sau thì tắt hẳn. Lúc đó gần 5 giờ chiều".

Thật đau lòng thương tiếc các anh.  Đặc biệt với anh Tài, hai anh em đã có rất nhiều kỷ niệm trong những tháng ngày bên nhau. Một đôi lần tôi làm phật lòng, nhưng không bao giờ anh chấp cả, mà rất độ lượng với em út của mình.

Nhớ ngày ra trận đầu tiên ở bàu Statung, tỉnh Tây Ninh. Anh và một số người ở phía sau nấu cơm, khóc rất nhiều khi thấy bom và đạn pháo địch dội lên đầu chúng tôi ở phía trước. Trời gần tối, khi quân địch vừa rút về, anh kịp thời mang cơm, vừa gặp được nhau đã mừng mừng tủi tủi, nước mắt lưng tròng anh ôm chặt lấy từng người, rồi khóc hu hu như không muốn cho ai được rời xa mình nữa. Rồi cái lần giơ cao chiếc xẻng vừa chạy vừa huơ huơ trên đầu, miệng hô xung phong để chi viện cho tôi. Thế mà giờ đây, anh đã hy sinh nằm lại trên mảnh đất xa lạ này.

Sau 35 năm trôi qua, khi tóc đã ngả hai màu, tôi mới có điều kiện tìm lại danh sách những người hy sinh ngày ấy. Vẫn chưa thấy tên anh và một số bạn bè trong đó. Tuy vẫn biết rằng:
Giấy báo tử đã về đến gia đình thân nhân của các anh, từ ngày đầu thống nhất nước nhà. Lại một lần nữa xin các anh tha thứ cho tôi và đồng đội cũng như tất cả người dân luôn biết ơn và ghi nhớ công lao của các anh. Trong tim tôi và tất cả mọi người, các anh là một tượng đài bất diệt.

Sau ngày hôm đó, quân địch vẫn chốt giữ ở chùa Prây Chăm Na. Mãi đến mấy ngày sau, các tiểu đoàn 7 và 9 mới tấn công tiêu diệt được lực lượng địch để chiếm lại chùa, lúc đó xác các anh mới được đem về quy tập, nhưng vẫn không nhận diện được ai.

8-7-1972

Buổi sáng, tôi nhận được quyết định của cấp trên cử về trường Quân chính miền Đông Nam Bộ. Trong danh sách cử đi học đợt đầu tiên của trung đoàn 271 có 9 người, riêng cùng tiểu đoàn 8 của tôi có thêm anh Nguyễn Hải Đăng.

Thế là tôi lại phải chia tay anh em tiểu đội truyền đạt yêu quý của mình, chia tay trung đội thông tin và tiểu đoàn trưởng Dương Văn Hiêu, cùng Ban chỉ huy tiểu đoàn 8.

Quyết định đi học thật bất ngờ đối với tôi và mọi người. Trước đó, anh Hiêu gọi tôi lên nói là giao nhiệm vụ mới. Vừa gặp tôi, đã nói ngay:

- Anh và Ban chỉ huy tiểu đoàn đồng ý quyết định cho em đi học sĩ quan đợt này. Em biết đấy, trung đoàn ta lúc này đang rất thiếu người, anh cũng rất cần đến em, nhưng vì sự phát triển lâu dài của đơn vị, các em cần phải đi học để nâng cao trình độ chỉ huy. Ra đi nhớ giữ gìn sức khoẻ, cố gắng học tập thật giỏi, sớm trở về phục vụ đơn vị.

Tôi cảm động nghẹn ngào không biết nói gì hơn, mà chỉ hứa với anh sẽ quyết tâm học thật giỏi, nhất định sẽ trở về đơn vị cùng được chiến đấu bên cạnh các anh.

9-7-1972

9 giờ sáng, chín anh em tập trung tại Ban cán bộ của trung đoàn. Anh Đỗ Quang Quỳ trưởng ban, gặp chúng tôi nhắc nhở một số điều, chỉ dẫn tuyến đường đi đến trường Quân chính H12 đang đóng. Trung đoàn cử anh Nguyễn Xuân Biên, lớn tuổi nhất làm trưởng đoàn.

Một lúc sau, chúng tôi đến thăm và chào tạm biệt lãnh đạo trung đoàn. Rất may, tại thời điểm đó mọi người trong Ban chỉ huy đều có mặt đầy đủ, đang chuẩn bị có cuộc họp quân chính chiều nay.

Chúng tôi vừa bước tới phòng họp, chính uỷ Lê Đình Trân, đã tươi cười giới thiệu với mọi người trong đó:

- Đây là những đồng chí cán bộ ưu tú ở các đơn vị cơ sở được cử đi học ở Miền đợt này. Cậu Minh đâu rồi! Chúng tôi nghe tên đã lâu nhưng chưa biết mặt đấy.

- Em chào các thủ trưởng, em là Minh đây ạ. - Tôi trả lời.

- Sao trông gầy thế, anh em đều ca ngợi cậu dũng cảm, nhanh nhẹn, mưu trí trong chiến đấu. Ban lãnh đạo trung đoàn đã đề nghị lên cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công và Dũng sĩ Quyết thắng cho cậu rồi đó.

 Tôi bối rối về sự quan tâm của Chính uỷ, các thủ trưởng trung đoàn đã dành cho, mặc dù cả một thời gian dài vừa qua, các anh đã rất vất vả lãnh đạo đơn vị từng phút từng giây giành giật với địch từng mét đất một.

Tham mưu trưởng trung đoàn Cao Hồng Cửu đứng bên cạnh, nhìn tôi và bảo:

- Thế đồ đạc đâu hết rồi? Sao anh chả thấy em mang một thứ gì cả?

Lúc này tôi mới nhớ ra mình chỉ mặc trên người một bộ quần áo đã sờn. Trong túi vải đựng mìn Claymo đang khoác trên người có thêm mấy thứ linh tinh không đáng kể. Thực ra, trước đó, có một chiếc võng vải ni lon đã bị mảnh bom làm thủng đôi chỗ. Trước lúc chia tay, tôi đã kỷ niệm lại cho anh em trong tiểu đội truyền đạt rồi.

-          Báo cáo thủ trưởng, em chỉ có vậy thôi ạ! - Tôi lý nhí trả lời.

Anh định gọi bộ phận hậu cần đến cấp quân trang cho tôi, nhưng chợt nhớ giờ lên đường đi học của chúng tôi sắp đến.

- Em đứng đây đợi nhé, anh đang có một bộ quần áo ở trong ba lô sẽ về lấy ra cho em.

Một lúc sau anh mang ra cho tôi một bộ quần áo sơ mi vải mỏng và một chiếc võng ni lon màu xanh. Các anh lãnh đạo đang có mặt nhìn thấy thế ai nấy đều ái ngại, rồi mọi người lần lượt giúi vào túi tôi một số thứ cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày.



(1)  Cậu Lượng người Nghi Khánh (Nghi Lộc, Nghệ An)

(1) Trung đội trưởng Lê Ổn – người lính già từ thời kì chống Pháp.

(1) Hoàng Thanh Toại là bạn đồng ngũ với tôi

(1) Anh Trần Xuân Coỏng quê ở Quỳnh Lưu (Quỳnh Long, Nghệ An), anh hi sinh ngày 16-6-1972 ở cương vị trung đội trưởng tại Cụng Pụng Rồ (Cawmpuchia).

(1)  Anh Lê Xuân Hưu hiện về nghỉ hưu tại xã Hoằng Hợp, Hoằng Hóa, Thanh Hóa


Pre
5
6
7
8
9
10
Tin mới