Eliot (nhà thơ Anh gốc Mỹ): Cái xác anh trồng năm ngoái trong vườn/ Đã bắt đầu nẩy mầm chưa? Thanh Quế: Tôi như thấy những tháng năm đời mình còn lại/ Là những tháng năm vay mượn của các anh/ Những người đã khuất (Nói với một người anh - nhớ Lê Anh Xuân)

   
Chào mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội
Thế rồng bò và những cây cầu rồng bay
Cập nhật: 20:38:00 1/10/2010

Tôi không thể biết khi làm lễ Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, vị quan chức thay mặt cả nước cúng khấn Đức Vua những lễ thức gì. Xin cứ đoán trong Chúc văn thể nào cũng nhắc đến những cây cầu. Những cây cầu nối gần lại đất nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau: Long Biên, Thăng Long, Chương Dương, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, cầu sông Gianh, cầu Tràng Tiền, cầu Sài Gòn…cầu Mỹ Thuận, cầu Rạch Miễu, cầu Cần Thơ….Những cây cầu giúp Việt Nam phát triển, những cây cầu nối dài và làm sáng rõ tư tưởng quy hoạch và kiến quốc vĩ đại của Lý Thái Tổ anh minh. Nhưng xin chớ quên những nhịp cầu bắc vào lòng người, nhịp cầu của Đại Việt, của dân chủ; ấy là cái bất biến để ứng với mọi biến thiên thời cuộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn cụ Huỳnh trước khi sang Pháp xây dựng nhịp cầu cho Việt Nam ra cùng thế giới.

 

Văn Chinh

Trong Chiếu Dời đô của Lý Thái tổ có đoạn: Đại La Thành ở trung tâm đất nước, có hình thế hiểm yếu như rồng bò hổ phục (*), bốn phương sum họp, người đông vật lắm, thực là chỗ kinh đô muôn đời bền vững. Sử lại ghi nhà vua thấy rồng bay lên, nhân đó đặt tên mới là Thăng Long.

Rồng bay lên? Nó bay lên từ chỗ nào, bay về đâu? Không thấy nói. Có điều chắc chắn là cả người nói lẫn người nghe đều biết rằng rồng là con vật không có thật. Nhưng hồi bấy giờ, xung quanh Đại La thành còn là một vùng sông hồ đầm mênh mông, hơi nước bay lên tụ thành mây hình dáng rồng thì hẳn không mấy ngày không thấy, gặp ráng đỏ chiều hôm, hắt sáng lên thì một người có trí lự, có tư tưởng quy hoạch vĩ đại như ngài ắt sẽ thấy rồng bay.

Đó là sự thật của khát vọng thăng hoa.

Vả lại, khi chọn Thăng Long định đô, vua Lý Thái Tổ đã coi ngàn dặm bằng phẳng của châu thổ, coi sông Hồng, coi miền núi Sơn Tây, Kinh Bắc với trăm họ giàu có là thế trận vừa phát triển vừa phòng thủ cho kinh đô được bền vững. Đó chắc chắn là một khát vọng, một trù liệu.

Có thể còn phải bàn về lễ phục của pho tượng nhà Vua, nhưng tay cầm chiếu chỉ, mắt cúi nhìn Hồ Gươm, nhìn kinh kỳ và giang sơn hôm nay của đức vua Lý Thái Tổ là rất đáng để chiêm bái và ngẫm ngợi. Đã trải qua một ngàn năm, nhiều lắm những biến thiên sao dời vật đổi, từng có phen giặc tàn phá thiêu rụi cả kinh thành, nhưng Kinh đô của ngài thì vẫn còn đó với một thành phố nhiều lần lớn rộng hơn, nhà của dân còn nguy nga hơn một thời điện ngọc. Trong những dáng vóc hiện đại hôm nay của con cháu, Đức Vua hẳn sẽ rất ngạc nhiên về những cây cầu bắc qua Sông Mẹ.

Những cây cầu!

Mỗi thời đại đều có những cây cầu của mình. Có cây cầu tình yêu mà ông bà ta xưa từng hát:

Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi

Lại có những nhịp cầu kết thân giữa Kinh đô với các chúa đất vùng biên viễn, xưa các vua Lý vua Trần vẫn gả công chúa cho con trai các tộc trưởng, chúa Mường. Đó là nhịp cầu kết thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Nhờ vậy, và cũng nhờ các chính sách thân dân của nhà Lý, nhà Trần, của thời đại Hồ Chí Minh; dân tộc Đại Việt nhỏ bé của chúng ta mới đủ sức mạnh để chống lại mọi đế quốc hùng mạnh vào bậc nhất vào mỗi thời của nó.

Các sử gia muốn phong sông Hồng là đệ nhất công thần của nền độc lập trong ý nghĩa nó là hào luỹ hiểm trở. Tôi nghĩ không chỉ có vậy. Sông còn tải phù sa làm nên châu thổ Bắc bộ. Sông cũng tạo nên văn minh làng xã, lập làng mới giữa mênh mông sú vẹt và lau sậy đòi hỏi sức của nhiều người, với nhiều năm tháng. Nguyên hình ảnh chuyền đất đắp đê, hòn đất sáu múi do người thủ mai xắn ra, được người vật lên, quăng lên cho người đứng cạnh mình; người đứng thứ nhất quăng cho người thứ hai, thứ ba, thứ một trăm, sao cho sức nặng của nó rời khỏi mình nhanh nhất, hơn nửa thời gian là nằm trên đường bay mà đến lưng đê; nguyên hình ảnh ấy đã đủ cắt nghĩa vì sao người làng phải sống bó bện, phải thương nhau giữa hoang vu. Lại còn trồng tre giữ đất, còn đào ao vượt thổ, còn đau ốm rồi khi mình chết lại cần có xóm giềng khênh chôn. Nhìn một đám tang đông người đưa tiễn và xót thương, đủ hoán cải một tâm tính ngạo ngược hay tu thêm nhân, tích thêm đức và nhờ vậy, cuộc sống của làng càng trở nên thanh bình. Sau bao nhiêu việc đòi hỏi sự ăn ở phải chăng, ở làng xã cũng có thể có cái ác nhưng không dám ác đến giết người tình rồi còn chặt đầu nhau; có thể có cái ngu, nhưng còn già làng, còn sư ông trên chùa, cụ thủ nhang ngoài đình, gặp việc khó con trai ương ngạnh, con gái chê người do cha mẹ chọn, cho đến ông lý ông trương muốn có sự trị an tử tế thì cứ đến mà hỏi họ, khắc ra lý cố để mọi chuyện lại đâu vào đấy mà không sợ oan sai. Cứ như vậy mà tình làng nghĩa xóm di truyền qua ngàn năm, khi quốc sự thì là kẻ thất phu cũng tự lãnh lấy trách nhiệm ra trận, mỗi làng lập tức biến thành mỗi pháo đài. Đại Việt không xây thành cao hào sâu, không giữ thành bao giờ, giặc đến là chạy, sau mới quay về đánh và bao giờ cũng thắng. Như một sự trớ trêu, Hồ Quý Ly định xây thành Tây Đô theo kiểu Trung Quốc thì thành chưa xây xong đã bị bại trận, nước mất nhà tan.

Làng xã là một yếu tố đặc biệt của cộng đồng đặc biệt Việt Nam trên thế gian, không những để hơn một ngàn năm người Việt vẫn giữ được cốt cách của mình; mà nó còn phản ánh vào sinh hoạt triều chính như một hệ quy chiếu ngược lại so với hệ quy chiếu Khổng Mạnh. Dân chủ làng xã ùa vào triều đình, triều đình gần dân hơn.Vâng, câu kết của chiếu dời đô không phải hai chữ “Khâm thử” vốn là mệnh lệnh thức quen thuộc, mà là “Các ngươi nghĩ sao?” Chiếu là pháp lệnh mà còn hỏi dân, còn muốn dân bàn thêm, huống chi là việc vẫn đương khi bàn bạc, phải tự do dân chủ và thấu đáo biết dường nào. Câu chuyện Nguyên phi Ỷ Lan được giao quyền nhiếp chính, chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” rồi sau đó do phải sang Pháp vận động ngoại giao dài ngày, quyền Chủ tịch Nước lại được trao cho cụ Huỳnh Thúc Kháng cho chúng ta mở rộng sự nghĩ ngợi về dân chủ và nguyên tắc của lòng tin cậy. Hẳn ai cũng biết, khi đã làm vua, việc lấy ai, ăn nằm với ai đều được quan liêu hoá vì nó có liên can đến sự an nguy của các nhóm quyền lực, nói thác ra là sự an nguy xã tắc. Việc trước, do Bộ Lại (Bộ Nội vụ ngày nay) làm, việc sau do Tổng quản Thái giám làm và có ghi vào sử sách cụ thể. Đào hoa ghê gớm như Càn Long, cũng chỉ dám vui vẻ ngoài dân gian trên những chuyến hành phương Nam, chứ không dám tự ý mang mỹ nhân lý lịch không rõ ràng về nội cung. Nhưng Lý Thánh Tông thì “vượt rào” khi lấy thêm vợ, gặp mỹ nhân ngoài nương dâu, nói thác ra là vẫn đứng tựa gốc lan chứ không màng đến vua là để giữ giá cho nàng, nhân đấy về sau phong là Nguyên phi Ỷ Lan. Chẳng những thế, vua còn vượt rào khi trao quyền nhiếp chính cho Nguyên phi để đi đánh ngoại xâm. Trao nước cho một người có lý lịch không rõ ràng, nhưng có tình yêu (cái này thì vua biết hơn ai hết) và trí lự là vua “tôi luyện” niềm tin của mình, của triều đình. Vả chăng, chả phải minh triết lắm, mới thấy triều đình luôn luôn cần bồi bổ khí lực trẻ trung và trí tuệ dân gian đúc kết cả ngàn năm; chứ ở chốn cung đình, mọi nói năng cư xử đều phải sách vở hoá, quy chế quan liêu hoá, bề tôi lúc nào cũng vâng vâng dạ dạ “bệ hạ sáng suốt” với “thánh thượng vạn tuế” thì trí lự không cùn mòn mới là sự lạ! Gần hơn và có thể kiểm chứng là việc Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Cụ Huỳnh không đảng phái, đương kim Phó chủ tịch nước, nhưng cái cơ bản của niềm tin là tư chất chí sỹ lòng yêu nước chống ngoại xâm được hiển lộ qua 17 năm làm báo Tiếng dân, là nhà Nho có danh vọng; những người như cụ, không thể làm bất cứ việc gì khiến có thể ô danh. Nguyên tắc niềm tin của Hồ Chí Minh không dựa trên các điều lệ đảng phái, không coi quá trình thử thách trong Đảng là duy nhất có giá trị; Chủ tịch dựa trên chân lý từng kết tinh cả ngàn năm Đại Việt, đó chính là điều mà cụ Hồ lấy làm cái bất biến để dặn cụ Huỳnh ứng xử với mọi biến động trong tình thế nền cộng hoà non trẻ như trứng để đầu đẳng năm 1946.

Nói đặc biệt, vì ví dụ như ở Trung Quốc anh em, lịch sử làng xã bắt đầu từ việc phong vương (hầu, bá, tử, nam) kiến địa sau khi đã theo minh chủ khởi nghĩa hay thôn tính nước khác thành công. Làng xã do đó mà của ông chủ được phong, dân chỉ là kẻ ăn người ở. Mọi người đều biết rõ, sông Hồng bắt nguồn từ Nguy Sơn, Trung Quốc chảy vào đất Việt Nam ở Lào Cai rồi ra biển Đông; sau khi đã dành những hạt phù sa mang nặng từ núi rừng tấp lên bờ làm nguồn nuôi dưỡng cho dân Việt. Nhưng từ chi tiết địa lý sực nhớ câu chuyện cũ: Tề Án Anh sang sứ nước Sở, do bé người, hình dung xấu xí, bị vua quan Sở dựng chuyện để chế nhạo. Bèn cho giải một tù nhân qua sứ quán, nói là người nước Tề bị bắt vì trộm cướp; lại hỏi sao người Tề xấu thế? Án Anh ung dung nói, người Tề ở nước Tề thì tốt, sang ở nước Sở thành kẻ trộm cướp; như giống quýt trồng ở nước Tề thì ngọt, mang sang nước Sở trồng thì chua. Không biết câu chuyện ấy có thật không, thật đến ngần nào, nhưng có một sự thật ai ai cũng biết, là dân Việt gọi sông Hồng là sông Mẹ, sông Cái như một sự tri ân và công khai: Dù khởi nguyên từ Trung Quốc, nhưng sông đã sinh ra cho xứ sở này sự khác biệt về văn hoá, về phong tục và đó chính là sức mạnh tiềm tàng.

Men theo cái thế rồng bò quanh Hà Nội của sông Hồng, chúng ta gặp chi chít các địa chỉ văn hoá, tâm linh. Đầu cầu Chương Dương phía bên kia là Đền Ghềnh, nghe nói là Công chúa Huyền Trân khi vua Chiêm chết, đã trở về tu hành tại đây. Khi bà hoá, tro cốt được rắc xuống bến Ghềnh, để dễ hoà nhập với phong tục quê chồng, dù không có tình yêu thì cũng là nghĩa phu thê mấy năm thời đầu xanh tuổi trẻ? Đi thêm một quãng nữa là làng gốm Bát Tràng, nghe nói dân làm gốm sứ đã theo vua Lý Thái Tổ từ Hoa Lư về lập nghiệp ở đây, tiếp tục làm đồ gia dụng, đồ thờ cúng và gốm xây dựng cho Hoàng cung. Gốm sứ là văn minh của toàn thể nhân loại, ở Việt Nam có gốm Phù Lãng, gốm Chu Đậu, gốm Đồng Nai cũng rất nổi tiếng; nhưng cái hồn hậu của người Việt, cái mộc mạc nhưng tinh tế khéo léo thì chỉ có ở gốm Bát Tràng và nó đã trở thành nét đặc trưng của gia đình Việt, của tâm hồn Đại Việt. Men theo sông Hồng xuôi nữa, chúng ta lại gặp đền Chử Đồng Tử, một cổ tích đẹp nhất mà nhân loại có được. Bạn bè thế giới du học tại Việt Nam, bạn chẳng cần học gì nhiều. Chỉ một chuyện Tiên Dung Đồng Tử gặp nhau tại bãi cát bến sông này, do lỡ nhìn thân thể nhau khi tắm, đã thành tình yêu, bất chấp vua cha doạ từ rồi bỏ đói, Tiên Dung vẫn nhẹ nhõm về làm vợ chàng Đồng Tử nghèo đến không có khố mà vận. Chỉ một chuyện ấy thôi, bạn đủ hiểu người Việt quý trọng tình yêu và nhân nghĩa đến thế nào, vì dân tộc này đã thờ cặp tình yêu ấy là một trong Tứ Thánh Bất Tử của tâm linh.

II


Nhưng, sông Hồng cũng là một cách trở nếu muốn thông thương thuận lợi ra toàn cõi. Mãi đến thế kỷ XIX, thời Kinh đô Thăng Long bị giáng xuống thành tỉnh Hà Nội; mọi giao thông ở đây vẫn chỉ bằng thuyền. Để viết bài này, tôi có xem lại nhiều đoạn phim do người Pháp quay, thấy người ta thòng cổ con bò lên ca nô, cùng những hàng hoá thực phẩm khác, chở ra Hải Phòng rồi sẽ tăng bo lên tầu thuỷ mà về Pháp quốc.

Khi người Pháp sang, họ thấy nếu không có cầu cứng thì không thể phát triển ra miền Đông – Bắc, do vậy từ năm 1898 Pháp khởi công xây dựng cầu Doumer (nay là cầu Long Biên), đến tháng 3 năm 1902 thì hoàn thành. Cầu xây dựng trong 4 năm, vừa kịp toàn quyền Doumer hết nhiệm kỳ; vào thời ấy không thể nói là chậm; tốn hết 6 triệu Frăng, vừa bằng số tiền đóng thuế tiêu thụ đặc biệt của những người uống rượu trên toàn cõi Đông Dương trong có 1 năm giời! Có các chi tiết lý thú mà ông cựu Toàn quyền Pháp Doumer đã hồi ký lại: Để làm cầu, ban đầu người ta sử dụng nhân công Trung Quốc, họ được tiếng là ăn khoẻ và vóc dáng cao lớn. Nhưng sức chịu đựng của họ kém hơn, nên lại phải dùng người An Nam. Những người An Nam bé nhỏ lại tỏ ra khéo léo, sức chịu đựng trong dẻo dai hơn, nhất là công cuộc đào đất vét bùn ở độ sâu 32 m. Nhà doanh nghiệp trẻ Bạch Thái Bưởi có lòng yêu nước, có ý chí chấn hưng dân tộc bằng doanh thương đã trúng thầu B phẩy của nhà thầu chính; và đó cũng là sự mở đầu cho công nghiệp hiển hách của đời ông, của nền vận tải và xây cầu hiện đại Việt Nam.

Do đất nước liên tục có chiến tranh, những cây cầu phao như một nỗ lực rất lớn trong chiến tranh của ngành Giao thông - Vận tải lại một lần nữa gợi nghĩ đến các cây cầu cứng. Và thế rồi, ngay từ cuối những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nhà nước ta đã tính đến các cây cầu bắc qua sông Cái. Vào ngày 17-1-1974 Chính phủ đã thành lập Ban Kiến thiết cầu Chèm (sau này gọi là Ban Quản lý Dự án Thăng Long) và ngày 26-11-1974 đã khởi công xây dựng cầu Thăng Long. Vậy là từ cầu phao đến cầu Thăng Long giấc mơ ấp ủ cả ngàn năm mới sắp thành nổi sự thật.

Nhưng còn một điều quan trọng hơn là khi xây dựng xong cầu Thăng Long, nền xây dựng cầu đường còn non trẻ của nước ta hình thành một đội ngũ kỹ sư, công nhân xây dựng cầu ngày càng thiện nghệ. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói đại ý:….Xây dựng thành công cầu Thăng Long rất quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn là chúng ta đã hình thành một đội ngũ xây dựng cầu lớn mạnh”.

Đúng như lời Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cầu Chương Dương đã bất ngờ “mọc lên” vắt qua sông Hồng chỉ già giặn 1 năm sau cầu Thăng Long. Không trống dong cờ mở, vào những năm nền kinh tế khó khăn khủng khiếp với quy mô cấm vận đầy thù hận. Cầu Chương Dương dài 1210, 96m. Trải qua 1 năm 9 tháng thi công, ngày 30/6/1985 cầu được khánh thành như một chàng Phù Đổng của ý chí tự lực tự cường dân tộc.

Có thể nói, cầu Thăng Long nối Hà Nội với miền Việt Bắc (cũ), miền đất giàu tiềm năng nhưng còn khó khăn vào bậc nhất của nước nhà. Khi cầu xong, lác lác mới có ô tô chạy qua, có người nói nó như cái tủ lạnh Saratop của cô con gái gửi từ Liên Xô về cho ông bố ở nhà quê chưa có điện lưới. Nhưng cầu Thăng Long chính là tiền đề dẫn đến trước hết là tỉnh công nghiệp hoá đầu tiên của miền Bắc: Vĩnh Phúc; và mố bên tả cầu Chương Dương là ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đang khó nhọc đi những bước cuối cùng của lộ trình công nghiệp hoá của cư dân chỉ biết có gieo trồng và lễ hội. Âu cũng là một ví dụ để nói rằng đã là người Việt Nam thì ai ai cũng bàn về chính sự nhưng không thể bàn chính sự với tất cả mọi người.

Cũng chính Tổng thống Mỹ Bill Clinton, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã qua cầu Thăng Long để vào Hà Nội, họ đã vào thăm Văn Miếu, đã dâng hương tưởng niệm nền văn hiến Đại Việt; và dóng dả gõ những tiếng trống của hữu nghị và hội nhập. Không biết khi cúi xuống xoa đầu rùa với một vẻ thích thú ra mặt, ông Bill Clinton nghĩ gì. Nhưng hẳn ông biết nó có tới ba, bốn trăm năm tuổi; nó là chứng nhân của lòng hiếu học, của khát vọng văn minh và là văn hiến an khang của Đại Việt chúng tôi. Không biết khi gõ trống ở Văn Miếu, ông Bill Clinton nghĩ gì. Nhưng hẳn ông biết tiếng trống ở Đại Việt chỉ làm có hai việc, nó có thể vang lên báo đại hoạ chiến tranh, thúc giục lòng dân ra trận; nó cũng lại là tiếng loan báo khải hoàn chiến thắng hay đình đám hội hè. Nó chính là văn hoá ứng xử giữa cá nhân với cộng đồng, hẹp là làng xã, rộng ra là cả bốn phương dưới gầm giời này.

Nhưng, như người ta nói, càng học càng biết mình còn quá nhiều điều chưa biết; đất nước và Thủ đô càng phát triển mở mang, càng thấy mình còn thua anh kém chị. Người Pháp dường như cũng không thể bước qua được thời đại mình khi quy hoạch đường phố cho Hà Nội, đường chật chỉ vừa cho năm ba trăm ngàn dân. Nay Hà Nội có từ năm đến bẩy triệu cư dân, rồi lại từ thành phố của xe đạp đến thành phố của xe máy; hàng chục năm như đông cứng lại vì tắc đường. Tôi vốn là dân góp của Hà Nội, hồi trước ở Khương Thượng, tuần sáu ngày đi làm thì bị tắc đường tới 12 lần, mỗi lần ít nhất nửa tiếng. Ấy là chưa kể những ngày mưa lụt. Sợ quá bỏ chạy sang Gia Lâm mua đất xây nhà, đêm đầu tiên ngủ ở nhà mới, nghe tiếng ếch kêu mưa, sướng quá mà than: Người ta bảo bần cố nông rất nhanh thoả mãn, thánh thật! Thế rồi, hãy đợi đấy, chỉ vài năm sau cầu Chương Dương mới chính là điểm nóng của ách tắc Hà Nội. Nếu mạn Trung Tự, Ngã Tư Sở chỉ tắc giờ cao điểm, thì Chương Dương càng về tối càng tắc, tắc cho đến khua. Những đoàn xe ô tô tải, xe containe biển số 11, 14, 16, 24, 99, 33…cứ nối nhau như rồng nằm khàn mà “thi gan” với sự sốt ruột lo vợ kêu con khóc giữa khói bay mù mịt mùi dầu cháy. Chợt nhớ câu thơ Nguyễn Thái Vận: Tầu như rồng xưa bay trong nắng đỏ/ Bồi hồi đậu lại ga Tiên Kiên. Càng chua chát cái nghịch lý giữa khát vọng lãng mạn với sự thật trần trụi.

Như thế, Hà Nội đã như chàng Phù Đổng không còn mặc vừa áo của chính mình khi vươn vai đứng dậy. Cầu Vĩnh Tuy rồi cầu Thanh Trì đi kèm với Dự án đường vành đai II và III đã ra đời như một nỗ lực vùng thoát khỏi cái đai thắt. Vâng, đai thắt có nghĩa là cân đai, là đẹp nhưng cũng còn có nghĩa thắt ngặt và cương toả.

Cầu Vĩnh Tuy như một người em sinh đôi của cầu Chương Dương. Nó dài gấp ba lần cầu anh, mố hữu ngạn phải vượt trên nóc nhà dân mà nối vào đê hữu sông Hồng vì nội thành chật; mố tả ngạn bắc vào mênh mông châu thổ, thoả chí cho vươn xa, cho uốn lượn đường dẫn để giống dáng rồng bay. Vĩnh Tuy cùng chìa vai gánh vác sứ mạng giảm áp lực cho cầu Chương Dương, nhân gấp đôi sức phục vụ của cho nhu cầu phát triển về phía Đông Bắc. Khi làm đường dẫn cầu Vĩnh Tuy, Dự án đã lấy của tôi hơn mười thước đất rau, đền cho tôi hơn 70 triệu, trong khi giá tôi mua là hơn 300. Của đau con xót, cũng như tôi họ Đinh, quê gốc ở Ninh Bình; tôi có đủ cơ sở để oán thán sự bội tình, nhưng nhờ chính đó lại là “cầu dẫn” cho công cuộc bầu Điện tiền Thị vệ Lý Công Uẩn lên làm vua khai mở một triều đại dân chủ và thịnh vượng bậc nhất thời phong kiến. Nên mỗi khi bùi ngùi, tôi vẫn trèo lên sân thượng mà nhìn về phương Tây Bắc lấp lánh vẩy rồng trên những toà nhà cao tầng, nhìn về phương Đông Nam có cây cầu Vĩnh Tuy như rồng bay trong ráng đỏ, cho khuây khoả, cho thêm dưỡng khí.

Nhưng cầu Thanh Trì vượt Sông Hồng mới là một trù liệu dự ứng lực cho phát triển từ nay về sau. Quy mô kỹ thuật của công trình lớn: 3,1 km chiều dài cầu bê tông đúc đẩy, vĩnh cửu. Chiều rộng 33,6 m cho 6 làn xe. Cầu có 4 nhịp thông thuyền, mỗi nhịp rộng 130m. Ngoài ra còn xây dựng 9 km đường cao tốc rộng 70 m (phía Thanh Trì ) và 50m (phía Gia Lâm), tạo nên các nút vượt lập thể. Có thể so tầm nhìn của dự án cây cầu cho vành đai III với dự án cầu Thăng Long cuối thế kỷ trước, nó làm chứng rằng, trong cái phong tục kỳ lạ là cứ gần ngày Đại lễ mới đào xới đường lên mà rải nhựa của chúng ta, cũng có những người biết nhìn xa trông rộng. Lại có thể so với cầu Long Biên về sự cùng được xây dựng bằng công nghệ tiên tiến nhất của nhân loại đang có.

Nhưng cũng để thúc đẩy cho nó có điều kiện phục vụ hết công suất, một dự án nữa đã ra đời gần như đồng thời, Dự án cầu vượt Mai Dịch – Pháp Vân, nút đặc biệt cuối cùng của đường cao tốc nối Hà Nội với miền Trung và miền Nam bởi con đường số 1 được coi như một động mạch chủ của cơ thể Việt Nam. Từ đây, Quốc lộ 1 sẽ nối thẳng với Quốc lộ 2 và 3 qua Mai Dịch hoặc chạy tiếp để nối với Quốc lộ 5 sau khi qua cầu Thanh Trì. Khi cầu vượt này xong, các ô tô trọng tải lớn sẽ từ Việt Bắc xuống thẳng Hải Phòng qua Thanh Trì, vào miền Nam qua ngả Pháp Vân (và ngược lại) mọi lam lũ rầm rập và bụi bậm sẽ không “hiện diện” ở Hà Nội; để hành lang Thăng Long - Nội Bài chỉ còn làm tư cách “tiền sảnh” của Thủ đô, làm đường chạy lấy đà để Việt Nam cất cánh.

Rồng bay!

*

* *

Nhưng làm thế nào để rồng có thể bay lên như cương lĩnh (trù liệu) suốt ngàn năm qua chúng ta tâm niệm?

Tôi không thể biết khi làm lễ Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, vị quan chức thay mặt cả nước cúng khấn Đức Vua những lễ thức gì. Xin cứ đoán trong Chúc văn thể nào cũng nhắc đến những cây cầu. Những cây cầu nối gần lại đất nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau: Long Biên, Thăng Long, Chương Dương, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, cầu sông Gianh, cầu Tràng Tiền, cầu Sài Gòn…cầu Mỹ Thuận, cầu Rạch Miễu, cầu Cần Thơ….Những cây cầu giúp Việt Nam phát triển, những cây cầu nối dài và làm sáng rõ tư tưởng quy hoạch và kiến quốc vĩ đại của Lý Thái Tổ anh minh.

Nhưng xin chớ quên những nhịp cầu bắc vào lòng người, nhịp cầu của Đại Việt, của dân chủ; ấy là cái bất biến để ứng với mọi biến thiên thời cuộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn cụ Huỳnh trước khi sang Pháp xây dựng nhịp cầu cho Việt Nam ra cùng thế giới.

(*) Nguyên văn “long bàn hổ cứ”, có bản dịch là rồng cuộn hổ ngồi, tôi theo bản dịch của Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Giáo dục, 1998

.

Nguồn: Hà Nội mới


1
2
3
Tin mới