Eliot (nhà thơ Anh gốc Mỹ): Cái xác anh trồng năm ngoái trong vườn/ Đã bắt đầu nẩy mầm chưa? Thanh Quế: Tôi như thấy những tháng năm đời mình còn lại/ Là những tháng năm vay mượn của các anh/ Những người đã khuất (Nói với một người anh - nhớ Lê Anh Xuân)

   

Chống lũ lụt ở miền Trung: Tầm nhìn và các giải pháp hữu hiệu
Cập nhật: 11:15:00 22/10/2010

TS Tô Văn Trường

Thống kê cho thấy, chưa có năm nào biến đổi thời tiết lại trái khoáy và khốc liệt như năm nay. Miền Bắc và miền Nam khô hạn, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long lũ thấp kỷ lục trong 85 năm nay, người dân than trời vì “đói lũ”. Không có lũ như hằng năm, hệ quả là không có phù sa, thủy sản, và nguồn nước để thau chua, rửa phèn, vệ sinh đồng ruộng. Trong khí đó, ở miền Trung, 2 tháng trước cũng gặp cảnh khan hiếm khô hạn nhưng chỉ trong vòng 2 tuần đầu tháng 10 vừa qua, lũ chồng lên lũ gây nên nạn “hồng thủy” thuộc loại lớn nhất trong lịch sử gây bao tang tóc đau thương, mất mát về người và của.

Vùng Bắc Trung Bộ kéo dài từ đèo Tam Điệp đến đèo Hải Vân là một trong 7 vùng kinh tế nông nghiệp của cả nước, bao gồm 6 tỉnh thành là: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế với diện tích tự nhiên 51.534 km2 (chiếm 15,56% diện tích tự nhiên cả nước), dân số 10.795.100 người tính đến 2008. Theo thống kê sơ bộ thiệt hại do mưa lũ ở vùng Bắc Trung bộ hơn 152.000 ngôi nhà bị ngập, 34 người thiệt mạng, hàng ngàn gia đình lâm vào cảnh màn trời, chiếu đất. Nhiều đoạn đường sắt, đường bộ bị ngập, gây ách tắc, gián đoạn giao thông. Ngoài việc vỡ đập Khe Hô, đặc biệt công trình thủy điện Hố Hô liên quan đến 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình do thiết kế và vận hành không đúng quy chuẩn đã gây khốn đốn cho người dân. Các tuyến đường Quốc lộ kể cả đường sắt được thiết kế không đảm bảo yêu cầu thoát lũ nên nhiều đoạn bị ngập, bị tràn.

Miền Trung với đặc điểm các con sông đều ngắn, dốc, lưu vực nhỏ nên đỉnh lũ nhọn, hễ mưa lớn hầu như sẽ có lũ. Mặc dù ở miền Trung có đến hàng ngàn hồ chứa như Quảng Nam có 65 hồ chứa, Quảng Ngãi 77 hồ chứa trong đó có những hồ được xây dựng từ xa xưa như hồ An Thọ (Phổ Ninh) năm 1938, hồ Hố Tre (Nghĩa Thuận) năm 1975. Duyên hải Nam Trung bộ có 18 hồ chứa. Vùng Bắc Trung bộ có khoảng 1.900 hồ đập nhỏ khả năng điều tiết kém . Các hồ chứa khi thiết kế trước đây đều dựa vào nguồn tài liệu thủy văn ngắn hạn, tính toán dòng chảy chưa bảo đảm. Thời gian từ thập niên 60 đến 2002 sai lầm là chỉ duy trì tính toán lũ thiết kế, bỏ qua lũ kiểm tra nên khả năng cắt lũ của các hồ chứa rất hạn chế.

Biến đổi khí hậu là vấn đề hệ trọng của sự phát triển, là thách thức lớn nhất đối với mục tiêu phát triển bền vững, hiểm họa tiềm tàng đối với nhân loại. Thích ứng một cách chủ động, có các biện pháp công trình kết hợp với phi công trình là yêu cầu tất yếu đối với các nước, đặc biệt là nước còn nghèo như Việt Nam. Để phòng tránh thiên tai và “nhân tai” một cách hữu hiệu, cần phải quyết liệt thực hiện các biện pháp có tính hệ thống và đồng bộ như sau:

Rà soát, bổ sung lại quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch của các ngành, và địa phương trong điều kiện biến đổi khí hậu. Cần phải tính toán lại một cách hệ thống lũ khả năng lớn nhất ở những công trình trọng điểm ảnh hưởng trực tiếp đô thị và dân cư sống ở vùng hạ lưu đập. Tùy điều kiện có thể ứng dụng các phương pháp đơn giản như tính mưa khả năng theo phương pháp thống kê, nếu đủ tài liệu tính theo phương pháp cực đại hóa trận mưa hoặc chuyển vị bão. Kiểm tra lại toàn bộ cơ sở hạ tầng, các tuyến đường giao thông phải có đủ khẩu độ tràn. Các hồ chứa sau khi kiểm tra thấy cần thiết phải mở rộng tràn hoặc xây thêm tràn sự cố hay còn gọi là tràn dự phòng để đảm bảo thoát lũ. Cần đẩy mạnh việc nghiên cứu cơ sở khoa học để sớm ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa.

Các hồ chứa đang và cần xây dựng mới như lưu vực sông Mã: Hồ Cửa Đạt, Hủa Na, Pa Ma, Trung Sơn trên dòng chính. Trên sông Bưởi xây dựng hồ Cánh Tạng. Lưu vực sông Cả: Hồ Bản Vẽ, Bản Mồng, Thác Muối, Ngàn Trươi, Chúc A, Đá Gân. Sông Gianh và vùng phụ cận: Hồ Thác Chuối trên sông Dinh. Lưu vực sông Nhật Lệ: Hồ Rào Đá, hồ Bang. Lưu vực sông Bến Hải xây dựng hồ Khe Mướp. Lưu vực sông Thạch Hãn-Ô Lâu: Hồ Sông Nhùng, hồ Ô Lâu Thượng. Lưu vực sông Hương: Hồ Dương Hòa (Tả Trạch), hồ Bình Điền (Hữu Trạch), hồ Hương Điền (sông Bồ).

Cần nâng cấp các cống tiêu, nạo vét các trục để tăng cường khả năng tiêu thoát. Nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông, xây dựng các tuyến đê mới để chống được mức nước triều với tần suất P=5% có gió bão cấp 9, 10 cộng thêm mức gia tăng do nước biển dâng.

Song song với việc xây các hồ mới cần quan tâm đến hơn 1000 hồ thủy lợi đang xuống cấp như hiểm họa lơ lửng từ các “lưỡi gươm” nước khổng lồ. Đừng để đến lúc vỡ đập, người chết mới nhận thức được bài học vô cảm về công tác quản lý! Chỉ cần mỗi năm bỏ ra khoảng 3% giá trị của các công trình thủy lợi để lo duy tu, bảo trì sẽ góp phần hữu hiệu vào công tác phòng chống thiên tai.

Các biện pháp phi công trình như tăng cường độ chính xác cho công tác dự báo lũ báo, chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích hợp với biến đổi thời tiết, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ven biển. Để chủ động ứng cứu tại chỗ cần xây dựng các khu nhà phòng tránh kiên cố, nơi cư trú an toàn, dự trữ lương thực, thuốc men, ghe thuyền, phao cứu hộ. Việc đầu tư cho các khu nhà ở kiên cố, đường cứu hộ là biện pháp hữu hiệu, an toàn, rẻ rất nhiều so với sự mất mát, tàn phá của lũ lụt như hàng chục năm qua.

Tại hội nghị thủy lợi toàn miền bắc ngày 17/9/1959 Hồ Chủ Tịch đã phát biểu:”Việt Nam ta có hai tiếng tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giầu nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau nâng cao đời sống nhân dân”. Cuộc sống đã cho chúng ta thấy muốn thực hiện được lời dậy của Hồ Chủ Tịch phải có tổ chức mạnh, nghĩa là coi trọng ngành thủy lợi và dựa vào yếu tố con người. Do tầm nhìn và nhận thức, thập niên 70 của thế kỷ 20 người ta tách thủy văn ra khỏi ngành thủy lợi, rồi tách thủy điện, tiếp đến chuyển phần lớn lực lượng thủy lợi sang ngành nông nghiệp và chức năng quản lý tài nguyên nước lại chuyển sang Bộ Tài nguyên và Môi trường. Truyện Tam Quốc Chí đã được mở đầu bằng câu “Thế lớn trong thiên hạ, tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan!” Trong truyện cổ tích của Việt Nam cũng có câu chuyện Cây tre trăm đốt “Khắc xuất-Khắc nhập”. Suy rộng ra, việc tách nhập về tổ chức là điều bình thường do yêu cầu, nhiệm vụ mới. Tiếc thay, chuyện tách nhập tổ chức của nước ta đối với ngành thủy lợi lại không dựa trên mối quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất, và nguyên lý quản lý tổng hợp lưu vực sông, nên nhiều việc chồng tréo. Thực tế đã chứng minh, chưa có bao giờ ngành thủy lợi lại suy yếu như ngày nay, ngành tài nguyên nước có chức năng, nhiệm vụ lại thiếu “binh hùng, tướng mạnh”! Nhiều người dân vẫn còn nhớ năm ngoái, vì chưa có quy trình vận hành liên hồ để xả lũ hợp lý, không có một tổ chức đủ mạnh, đủ hiệu quả để khắc phục thiên tai lại đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, nên Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phải bị động đứng ra giải thích, “chịu trận” trước búa rìu dư luận về việc vận hành đập thủy điện A Vương!

Từ mảnh sắt con người làm ra cây dao, nhưng tên con dao có khác nhau theo mục đích sử dụng : công cụ lao động với bà nội trợ, vũ khí tự vệ để giết thú dữ và hung khí gây án của kẻ côn đồ. Nếu tính toán thiết kế các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi sai thì những công trình này sẽ là những thuỷ tai, “thuỷ hại”. Với tầm nhìn, mục tiêu phát triển bền vũng và yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ đã đến lúc phải có tổ chức mới đủ mạnh cho ngành thủy lợi để đảm bảo nguyên lý quản lý tổng hợp theo lưu vực sông để khai thác tiềm năng có ích mà vẫn phòng tránh thiên tai một cách hiệu quả.


1
2
3
4
Tin mới