Phạm Công Trứ: Nhà quê khí chất tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân
   

Cần có Ngày Hoá giải
Cập nhật: 9:15:00 7/5/2010
Tôi từng đến thăm gò Đống Đa, nới diễn ra ngày Giỗ trận 5 tháng Giêng hằng năm, thấy mộ (giả?) Sầm Nghi Đống bao giờ cũng nghi ngút khói hương, có năm còn thấy cả xôi gà phẩm oản.

 Khi nghe các anh ở VietNamNet nói sẽ mở chuyên mục này, tôi bồi hồi nhớ lại câu chuyện của nhà văn Nguyễn Minh Châu 30 năm trước. Chúng tôi đến thăm ông, ngôi nhà có lối đi chung cắt làm đôi ở số 3 Ông Ích Khiêm, ông vẫn ngồi bên cửa sổ như mọi khi, hút thuốc lào khan và nghĩ ngợi. Hồi ấy riêng tôi có chuyện vui, nghèo khổ nhưng vui. Còn ông thì đang gặp chuyện buồn, văn bị chê là u ám, có vấn đề. Có lẽ cảm thấy người đàn ông đã ngoài ba mươi mà lại hớn ha hớn hở, ông chợt thở dài, nói:
- Đất nước có chiến tranh kéo dài 30 năm, biết bao người chết. Vậy mà sau chiến thắng không có lấy một ngày giỗ trận. Kỳ lạ là mọi người cứ hớn ha hớn hở!
Tôi giật mình và đỏ mặt. Cố nhiên, tôi chỉ là cái cớ và câu nói của ông không chỉ nói về thế sự, nó hàm ý cả văn chương, cả những người lên báo chê văn ông buồn đau. Cũng cố nhiên là Nguyễn Minh Châu không thể không thấy niềm vui rộng lớn của dân tộc được thống nhất, người người được đoàn viên là một lý do chính đáng để mà hớn hở vui mừng. Nhưng, còn những người chết trận, những thương binh (người của Sài Gòn cũ thì gọi là phế binh) và thân nhân của họ thì sao?
Tôi từng đến thăm gò Đống Đa, nới diễn ra ngày Giỗ trận 5 tháng Giêng hằng năm, thấy mộ (giả?) Sầm Nghi Đống bao giờ cũng nghi ngút khói hương, có năm còn thấy cả xôi gà phẩm oản. Sực nhớ làng tôi cạnh bến đò Dâu có miếu Quan Trấn thờ viên quan trấn thủ bị thương ở mạn trên, chạy ngựa về đến đây do ông lái đò không chịu chở, không được cấp cứu, máu chảy hết mà chết. Ấy là bản lĩnh người Việt chăng? Là kẻ đối địch, phải đánh cho tơi bời, cho chết; nhưng khi chết rồi, dẫu là kẻ địch thì cũng là con người. Đã là con người thì ngoại quốc hay đồng bào thì cũng vẫn chỉ là hỷ nộ ai lạc ái ố dục, như nhau cả thôi, khi chết vẫn bát cơm quả trứng, nếu là chết bất đắc kỳ từ lại được coi là thiêng – “Khí thiêng khi đã về trời”, vậy thì lập miếu thờ cho nhau và nhờ nhau phù hộ độ trì.
Nếu đó là bản lĩnh người Việt ta thì, đó là nét văn hoá cao siêu vào bậc nhất của nhân loại, ngay cả bây giờ trong thế giới hội nhập, thì nét văn hoá nhân loại ấy càng phải làm cho nổi bật lên trước nhân loại 6 tỷ người. Sầm Nghi Đống dẫu có vì động cơ thăng quan tiến chức mà sang đây thì đó cũng chỉ là phụ, cái chính nằm ở mệnh lệnh nhà vua, kẻ ra lệnh chịu đến 95% trách nhiệm. Huống chi, khi đã cởi giáp buông gươm, khi đã thành kẻ chết trận, thì chỉ còn là thường dân, là di hài; với tất cả sự tử tế và cao thượng, người Việt vẫn tôn trọng, vẫn thờ.
Mãi sau này tôi mới vào Nam, vấn đề nghi kỵ ta - nguỵ tôi chỉ chứng kiến qua sách báo. Phạm Trung Khâu có truyện ngắn viết về việc anh bộ đội từ R về, thấy người yêu cũ đang dính với một anh lính Sài Gòn cũ; anh ta hăm doạ, người kia đã cải tạo xong, bằng quyền lực và cả cái sự công thần, anh ta bắt đi cải tạo nữa, rõ là anh ta ghen quá hoá dại, làm chuyện riêng mà nhân danh cách mạng với những cảnh giác gỉ gì gì. Một sự thật nhỏ nhen và đi ngược lại truyền thống Việt và tinh thần thượng võ của kẻ chiến thắng. Trong Tiểu thuyết cuộc đời của Nguyễn Văn Bổng, nhân vật xưng tôi, lại từ Bắc vô chiến trường, làm cán bộ nội thành, hệt như chính tác giả; nên câu chuyện như thật. Tôi từng thầm yêu người ấy, nhưng Nam Bắc chia đôi, tôi tập kết ra Bắc. Trong Mậu Thân, tôi bị trọng thương, ngẫu nhiên gặp người ấy – nay đã là bác sỹ cứu giúp; ăn ở với nhau cả tháng trời người ấy mới móc nối được cho tôi về R. Sau 30 – 4, người ấy vẫn âm thầm cùng đứa con trai 7 tuổi chờ tôi, khi con chúng tôi 15 mà tôi không trở lại; cộng với sự kỳ thị của những cán bộ thủ cựu hoặc cá nhân như nhân vật của Phạm Trung Khâu và cả mặc cảm từng phục vụ chế độ cũ, là “nguỵ dân”; người ấy mới di cư sang Pháp. Sang Pháp chứ không phải Mỹ, vì Mỹ từng là kẻ thù trực tiếp của tôi thì xót xa hơn cho tôi quá; thì ra, dù tôi có lỗi nhưng người ấy vẫn thương vẫn trọng tôi và tiểu thuyết về kết trong sự bùi ngùi ân hận của tôi.
Tôi không nhớ rõ tên truyện ngắn ấy của nhà văn Hồ Tĩnh Tâm. Truyện kể nhân vật chỉ lên ban thờ có hai bức ảnh, rồi chỉ mấy đứa con nói với khách:
“Hai đứa ni con anh bên phải, là liệt sỹ, người Bắc mà chưa biết tỉnh nào. Hai đứa ni con anh bên trái, trung sỹ cảnh sát nguỵ, đi làm ăn xứ nước xanh nước đỏ U Minh, chết sốt rét bển. Một truyện ngắn khác của Hào Vũ, truyện Khách thương hồ. Không rõ người khách ấy là thương binh hay “phế binh”, đi tập tễnh xuống đò. Sương dăng mù mịt mặt hồ, khi không gian mênh mông khiến con người hoang mang mà đổ ập vào nhau, tiếng va cộc dưới chân mới biết cô có chân giả. Mênh mang mờ mịt vẫn không rõ ta hay nguỵ, mà ân ái nồng nàn - rất người.
Như vậy là chỉ kể các nhà văn mà tôi quen biết, đã có tới 5 nhà văn nói lên tâm nguyện thiêng liêng của người Việt, cái hiện thực của dân tộc này: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Văn Bổng, Phạm Trung Khâu, Hồ Tĩnh Tâm và Hào Vũ. Tâm nguyện ấy là cần có một Ngày hoá giải niềm nghi kỵ và mặc cảm; ngày ấy cần rũ bỏ mọi mặc cảm nguỵ ta và những thiên kiến ấu trĩ. Ngày 27 tháng 7 là hết sức linh thiêng, nhưng chưa đủ. Ngày 30 Tháng Tư – Ngày Giải phóng và Thống nhất dân tộc cũng không nên chọn làm Ngày Hoá giải (giống như ngày 5 tháng Giêng là ngày Giỗ trận Đống Đa). Tôi xin kính cẩn đề nghị Ngày 15 Tháng Năm, là ngày (cố) Tổng Bí thư Lê Duẩn tuyên ngôn: “Thắng lợi này không chỉ của riêng ai, vinh quang này thuộc về Dân tộc.” Nếu ngày ấy được chọn làm Ngày Hoá giải Dân tộc, tự nhiên tuyên ngôn của cụ Lê Duẩn mang một tầm tư tưởng mới.
Cố nhiên, như các anh ở VietNamnet nói, không chỉ đến Ngày Hoá giải chúng ta mới hoá giải, như Ngày Môi trường chỉ có ý nghĩa tượng trưng, còn quanh năm hết đời chúng ta phải hoá giải, phải giữ gìn sự sạch sẽ cho đất nước; để phong thuỷ của Việt Nam hưng thịnh, để người Việt hiện đại xứng đáng với tiền nhân.
Nếu có dịp, tôi xin bàn tới nguyên tắc của Hoá giải.


Tắt Telex VNI

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ

Tên của bạn

 

Email

   

Ý kiến của bạn

 

1
Tin mới