Phạm Công Trứ: Nhà quê khí chất tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân
   

Tân Hội viên - Nhà văn Nguyễn Thế Hùng: Tiếp tục viết về những gì thân thuộc nhất
Cập nhật: 12:37:00 16/1/2011

Tân hội viên - Nhà văn Nguyễn Thế Hùng
VanVn.Net - Danh sách 26 tân hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là sự kiện được cả giới sáng tác trong nước và đông đảo bạn đọc quan tâm. Nhân sự kiện này, Vanvn.net đã cuộc trao đổi với một số gương mặt trong số 26 tân hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Xin giới thiệu tới quý đọc giả cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Thế Hùng...

PV: Anh có cảm xúc như thế nào khi biết mình là một trong hai gương mặt nhà văn quân đội vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam?

Thật lòng khi biết tin mình là một trong hai quân nhân được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm nay tôi có sự buồn vui lẫn lộn. Vui là mình đã chính thức được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam sau ba năm chờ đợi. Buồn là lần này có hai quân nhân được kết nạp thì một người đã là U50, và tôi còn vài năm nữa củng bước vào U40. Trước đây đội ngũ nhà văn khoác áo lính trùng trùng điệp điệp, còn bây giờ thấy cứ thưa vắng dần. Người đi thì đã đi, người đến thì chưa thấy đến.

PV: Ngay ở cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, tiểu thuyết “Họ vẫn chưa về” đã lọt ngay vào vòng chung khảo cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội nhà Văn Việt Nam và được đánh giá là hàm chứa “ẩn ức lịch sử” (Họ vẫn chưa về, ẩn ức lích sử - Vũ Thảo Ngọc). Vậy anh nghĩ mình đã đặt ra được vấn đề gì trong tác phẩm và giải quyết vấn đề ấy đến đâu?

Điều này cũng là một niềm vui trong năm của tôi, cuốn tiểu thuyết đầu tay ban đầu lọt vào vòng chung khảo Giải thưởng hàng năm của Hội nhà văn Hà Nội, nhưng sau đó nhà văn Ma Văn Kháng đã Một mình một ngựa đánh cho Họ vẫn chưa về của tôi và Ký ức vụn của Nguyễn Quang Lập “ngã ngựa”. Sau đó thì Họ vẫn chưa về “ ngã” tiếp bên Giải thưởng bốn năm tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam, điều an ủi là sau đó Liên hiệp Hội văn học Nghệ thuật Hà Nội đã trao giải cho nó. Đặt vấn đề và giải quết vấn đề, buộc rồi mở đó là việc làm của nhà văn, khi mở xong coi như xong việc, nhưng cuốn Họ vẫn chưa về tôi đang có phần hai nên cuốn một chưa thể gọi là giải quyết xong vấn đề. Còn vấn đề gì và giải quyết ra sao, giải quyết đến đâu chắc phải nhờ đến người đọc và các nhà phê bình để mắt đến thôi.

PV: Trong thể loại truyện ngắn, bạn đọc nhớ nhất đến hình ảnh về người lính của anh. Phải chăng đó là thế mạnh của một nhà văn quân đội? Anh có chia sẻ gì với bạn đọc về hình tượng người lính của mình không?

Khi viết về người lính là tôi viết về chính tôi, chính bạn bè tôi. Có lẽ bạn đọc đồng cảm được với những nhân vật, những truyện ngắn về người lính của tôi vì tính chân thật của nó: “Tất cả những gì tôi viết đều là sự thật dưới lăng kính nhà văn.”Tôi vốn là sĩ quan chỉ huy tham mưu, đi bộ đội thì chẳng bỏ sót một cấp nào cho đến bây giờ là đại úy, khi là lính thì binh nhất, binh nhì, đi học lớp hạ sĩ quan thì đeo hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ, chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp thì đi lên từ chuẩn úy, thiếu úy, rồi trung úy, đi học sĩ quan lục quân về đeo lại trung úy, rồi lại thượng úy rồi đại úy….nói vậy để thấy rằng đề tài người lính vẫn là đề tài mà tôi thấy…thuộc nhất. Tôi thường viết những gì mình thấy tự tin nhất.

PV: Dự định sáng tác trong năm tới của anh sẽ là gì khi đã chính thức là một nhà văn quân đội có tên trong bảng danh sách hội viên Hội nhà văn Việt Nam?

Tôi thường ít đặt ra các mục tiêu cho mình khi viết, nhưng rõ ràng đã là nhà văn thì phải viết thôi, tôi vẫn tiếp tục viết về những gì mình…thuộc nhất đó là đề tài người lính, chiến tranh cách mạng và về vùng quê tôi ở. Tất nhiên các đề tài đều có sự giao thoa của nó.

PV: Xin cảm ơn nhà văn!


VanVn.Net xin trân trọng giới thiệu 2 truyện ngắn của Nhà văn Nguyễn Thế Hùng:

 

Khu độc thân

Khu nhà ở ngay trước cổng đơn vị, vốn trước đây là khu chiêu đãi sở, nhưng dần già đa số sỹ quan đã hợp thức hoá gia đình, nên nó được dùng làm khu nhà nghỉ của sỹ quan độc thân. Nói đúng hơn là những người chưa có điều kiện hợp thức hoá gia đình và tất nhiên một số ít sỹ quan chưa vợ như tôi.

Gần phòng tôi có ông Tuỳnh, quân hàm trung tá kịch trần. Tuổi quân của ông còn nhiều hơn tuổi đời tôi. Ông đã qua hai chiến trường, không thương tích, không chiến tích, ông sống bình bình. Cũng trải qua đầy đủ các chức vụ từ tiểu đội cho đến trung đoàn. Giờ về làm lính cơ quan nên cùng cảnh cơm niêu nước lọ như tôi. Ông lành, ít nói, thích trầm ngâm một mình bên ấm trà. Khi mới về ở gần nhau, thấy ông lui cui tôi hỏi:

- Sao chú không đưa cô và các cháu vào? Sống một mình cực chết. Ông thở ra:

- Gắng vài năm nữa ra ngoài đó một thể, lỡ rồi

Cùng dãy còn có Len, tốt nghiệp đại học văn hoá hiện làm nhân viên văn thư bảo mật. Đôi khi trước Len tôi buột miệng:

- Em chọn trái nghề, tóc này, dáng này bét cũng ở đoàn nghệ thuật quân khu. Len nguýt:

- Tán nhạt phèo, trách gì không có người yêu. Thỉnh thoảng sang đây chị cho mượn sách ...tán gái của ông xã chị nhé. Tôi tõn tè, ấm ức:

- Bà đợi đó, ít bữa tôi đem phu nhân vào sợ bà không dám ra khỏi nhà

- Sao vậy?

- Vì sợ phải... so sánh sắc đẹp.

Chồng làm trinh sát quân báo đi ở thất thường, vậy nên Len cũng được xếp vào diện "độc thân". Chập tối tôi đùa:

- Có chồng mà ngủ một mình chán bỏ mẹ, sang ngủ với anh cho ấm. Len không vừa:

- Con nít chưa biết mùi đời mà cũng mạnh miệng nhỉ. Chị đây còn chịu được, chỉ sợ cậu lỡ nếm mùi, sau không có không chịu được.

Mỗi lần chúng tôi đùa, ông không hề góp chuyện, và hình như ông cũng không thích chúng tôi đùa kiểu đó. Chồng Len vẫn vài tháng đột xuất về một vài ngày rồi lại vội vã ra đi. Những ngày tiếp theo đêm Len thường ra bể dội nước ào ào. Chiếu tiêu chuẩn của hai vợ chồng không đủ dùng, mỗi lần mua chiếu mới về, gặp tôi Len thường than: "Chiếu dạo này đến tệ". Tôi tủm tỉm cười không bình luận gì thêm. Len đỏ mặt lách nhanh vào phòng. Tôi thất thường với những cuộc điện thoại đường xa cho người yêu. Ông Tuỳnh đều đặn ngày mồng mười hàng tháng gửi tiền cho vợ. Mọi chuyện cứ diễn ra đều đặn và tẻ nhạt. Nhất là vào những ngày nghỉ, khu độc thân vắng huơ vắng hoắt. Ông nấu một bữa thành hai, ăn cả ngày. Tôi lười nên thường chọn lúc Len chuẩn bị nấu nướng ra ngồi tỉ tê, nhân lúc Len không để ý, bỏ vào rổ mấy quả trứng hay ít thịt heo mới mua đầu chợ hẻm rồi lỉnh về phòng đóng cửa đọc sách. Đến bữa vác miệng sang ăn. Cũng có khi chồng Len về đúng ngày nghỉ, khu độc thân tổ chức ăn tươi. Len thường mua rau sống có nhiều giá, củ hành xào thịt bò. Những món đó ông Tuỳnh không hề động đũa. Ông chỉ nhón nhén cơm với món đậu phụ kho thịt heo. Ông ít chuyện, ăn xong lại về trầm ngâm bên ấm trà, hay nằm nghếch chân lên cửa sổ đọc đi đọc lại Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, Kim Bình Mai. Phòng Len tắt điện ngay sau khi tôi và ông khuất lưng. Hôm sau chồng Len đi, mọi việc lại diễn ra như nó vốn có. Tôi và Len vẫn thường ăn cơm chung, ông hững hờ lạnh nhạt mỗi lần đi qua phòng.

Đơn vị tôi kết nghĩa với địa phương nơi đóng quân. Mỗi lần đi giao lưu hay họp mặt kỷ niệm một ngày gì đó. Cuối buổi thể nào cũng được mời một bữa cơm thân mật. Bao giờ sau những buổi giao lưu trở về, số khách khu độc thân cũng tăng lên gấp bội. Phòng ông không phải là ngoại lệ. Cô Thương, hội trưởng hội phụ nữ phường mê ông tôi biết. Cô Thương chỉ còn một chân, nghe đâu chiếc kia đã để lại trong rừng tràm U Minh hạ. Lỡ thì nhưng cô còn nhuận sắc lắm. Ngày ở bưng hai người có quen nhau, nhưng cũng chỉ là quen biết vậy thôi. Hết chiến tranh còn được gặp nhau, họ mến nhau là lẽ thường tình. Nhiều ngày nghỉ cô Thương lên chơi cả buổi, có khi còn ngoáy nạng đi giặt đồ cho ông Tuỳnh. Nhưng tính ông Tuỳnh nhát, mỗi lần cô ấy đến chơi ông thường mở tung cửa sổ, cửa cái, đôi khi còn gọi cả tôi sang ngồi cốp. Có một đêm thấy ông tiễn cô Thương ra đến tận cổng, tôi vừa lên giường, bỗng nghe tiếng gót chân ông dộng thình thịch vào tường ( nơi kê giường tôi nằm) tôi vọt dậy chạy ra, thấy một bóng áo trắng lềnh lệch lách khỏi hành lang. Tôi đùa:

- Chú cho đại đi, mất mát gì. Ông vặc:

- Đồ chó dái, ba trợn.

- Chú không cho là chú ác.

- Con nít, biết gì.

Thấy ông phản ứng quyết liệt, tôi lủi nhanh về phòng. Cũng từ đó không thấy cô Thương đến thăm ông.

Hạnh- bạn gái Len- đến chơi bồng theo đứa con trai bụ bẫm bắt đầu tập nói bi bô. Len bồng nó riết cứng vào ngực mình. Không biết ai chỉ cho, đứa bé hôn tình cảm vào môi Len, Len cười mà hình như trong mắt có nước. Hạnh vô tình:

- Len còn nhớ đã hứa gì với mình không? Đừng nuốt lời đấy nhé! Len ngậm ngùi:

- Chỉ sợ con cậu không chờ được con mình.

- Thì cũng đẻ được rồi còn gì, đã bốn năm.

- ừ, cũng muốn vậy, nhưng còn bao nhiêu thứ. Anh Phong vẫn đi luôn.

- Biết chờ đến bao giờ? Thời bình mà cứ như...

- Biết làm sao được.

Tôi ngồi nghe như người thừa. Thấy họ bàn đến chuyện gia đình, bỗng muốn về thăm Sim hết biết. Ngẫu hứng, tôi hỏi Len:

- Bà còn tiền không?

- Để làm chi vậy?

- Cho tui mượn một triệu.

- Tiêu gì dữ, mới nhận lương.

- Về Bắc!

Len đưa tiền cho tôi cười cười hỏi:

- Hết chịu nổi rồi hả?!

Không trả lời Len. Tôi bắt xe lôi phóng đến nhà trưởng phòng, gãi đầu trình bày:

- Cho em lên sài gòn một tuần dự đám cưới bà chị họ.

- Bốn ngày thôi, tuần sau vào trực chiến không một ai được phép vắng mặt.

- Thêm một ngày nữa đi xếp.

- Không được! Thấy về kịp thì đi, không thì thôi, chậm một ngày hết lên quân hàm năm nay đừng trách

Tôi tiu nghỉu chào xếp ra về. Chợt loé lên trong đầu một ý tưởng táo bạo: "Đi máy bay". ừ thì cũng đi lần cho biết, chín trăm chứ mấy, tháng lương.

sim trố mắt nhìn tôi như một vật thể lạ. Mới tối hôm qua còn nỉ non: " Tiêu chuẩn phép năm nay của anh đã hết. Nhớ em nhưng chắc qua tết anh mới về được." Qua phút ngỡ ngàng, Sim làm mặt giận: "Nỏ nhởi với anh nữa! Rứa mà lừa em". "Nỏ phải lừa, nhớ quá không chịu được, anh chỉ về có một ngày rồi đi liền, đừng giận nữa, tranh thủ đi". Tôi cầm tay Sim, hai đứa líu ríu chạy lên đồi. Hoa thuỷ sinh nở tím chiều, lá thông già trải một lớp dày như nệm. Các bà nội trợ bây giờ sướng thật, toàn nấu bếp ga. Trước đây ấy à, nền rừng cứ được càơ sạch tưng. Ngày nhỏ tôi và Sim cũng thường đi gom lá thông về nhón bếp. Sau nụ hôn dài tưởng như bất tận, quanh quẩn rồi Sim cũng kể chuyện nhà. Chị Thu- chị của Sim và là bạn thời phổ thông với tôi - giờ khổ lắm, lấy phải người chồng vũ phu, bị đánh tối ngày nhưng cũng đành cắn răng mà chịu. Bởi trước đây Thu đã có một mối tình thời phổ thông và họ đã dám sống hết mình cho mối tình đầu. Thương chị Sim khóc, tôi không biết an ủi gì, chỉ ôm em vào lòng, người em nóng dần trong vòng tay tôi. Sim hổn hển: "Em nỏ tiếc mô". Tôi nghe như thoang thoảng giọng Len: "Anh Phong vẫn đi luôn ". Rồi lại nhớ câu nói của Sim : "Chị ấy nói đó là cái giá phải trả khi đã dám sống hết mình với mối tình đầu." Tôi nhắm mắt lại ém cảm xúc xuống tận đáy lòng rồi đẩy Sim ra và cài lại áo cho em. Ngạc nhiên đến sững sờ, Sim ôm mặt khóc tấm tức: "Anh không thích em răng...?" "Đừng hỏi anh, anh sợ sự bất trắc..." "Không có sự bất trắc mô cả, em chịu được hết, em chờ..."Tôi riết em vào người tưởng chừng như nghẹt thở. Không đơn giản vậy đâu Sim ơi, còn bao nhiêu điều trong cuộc sống mà chỉ tình yêu thôi chưa đủ, chưa thể vượt qua. Anh yêu em nhiều lắm, yêu em hơn bao giờ hết, nhưng sẽ là độc ác khi bắt em phải đợi chờ. Đời thì dài mà tuổi xuân quá ngắn, biết đợi chờ đến khi nào hả em. Và tự bao giờ nước mắt tôi cũng sẻn ra hai dòng thấm nóng. Không dám bàn đến chuyện tương lai của hai đứa, bởi trước mặt chúng tôi mọi con đường dẫn em đến với tôi đều đang mù mịt. Chúng tôi ngồi bên nhau cho đến khi phía đông ửng hồng báo hiệu một bình minh. Chia tay, tôi nhảy vội lên một chiếc xe tốc hành, lẫn trong gió bụi vẫn thấy Sim đứng bên đường trông theo.

ăn bánh mì ba ngày, cuối cùng tôi cũng trở về đơn vị đúng thời gian quy định. Gặp tôi ở hành lang, Len túm áo kéo đi xềnh xệc: “ Đây rồi, cống tắc đã mấy ngày, cụ Tuỳnh không chịu thông. Tôi hì hụi mãi mới chạm tay được đến tấm chắn cống, móc ra toàn tóc. Đến bây giờ tôi mới để ý, đã lâu không thấy Len xõa tóc như ngày mới về khu độc thân. Tôi biếu Len mấy chiếc kẹo Cu đơ và hỏi:

- Xếp có biết tui về Bắc không?

- Chắc không biết, đúng là chúa liều, làm ăn được gì không?!

- Tầm bậy, bà tưởng ai cũng như ông Phong nhà bà!

Len lại đỏ mặt, tôi lủi nhanh về phòng vì thấy Len đang đứng gần... cái chổi.

Mấy tháng sau có chuyện thầm thì về ông Tuỳnh. Bán tính bán nghi, tôi hỏi Len:

- Chuyện đó có thật không bà?

- Làm sao tui biết được, lâu rồi có thấy bà Thương lên đâu.

- Không chỗ này thì chỗ khác, năm phút chứ mấy. Nếu có tôi ủng hộ ông Tuỳnh.

- Rành dữ. Đúng là đàn ông luôn biết trước mọi điều.

Tôi ngắc ngứ không nói được điều gì. Len không bình luận gì thêm.

Mặc cho mọi lời xầm xì, ông Tuỳnh vẫn đều đặn hàng tối đọc Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng. Và chiều chiều vẫn trầm tư bên ấm trà, mùng mười hàng tháng gửi tiền về quê. Tháng chín năm đó ông nhận quân hàm thượng tá cùng với quyết định nghỉ hưu. Đến năm, đến tháng, hạ cánh an toàn, nhưng sao nhìn ông cứ thấy tồi tội, nghỉ hưu vồi vội sao ấy. Hôm tiễn ông ra bến xe, thấy Len bắt đầu rơm rớm nước mắt, muốn buổi chia tay bớt nặng nề, tôi đùa ông: "Chừng mực chú Tuỳnh nhé." Lần nay ông không vặc tôi (Lần đầu tiên tôi đùa không bị ông vặc) .Vỗ vỗ vào vai tôi, ông nhẹ nhàng: "Hết xí quách rồi còn gì. Khi muốn thì không có, khi có lại không còn muốn. Còn cậu chuyển vùng được thì gắng chuyển, không thì đưa vào trong này rồi cưới, không đi dạy thì bán rau ở chợ cũng được. Còn không. . . ác một lần còn hơn ác cả đời, bỏ quách kiếm đứa nào gần gần mà cưới. Thời bọn mình đành chịu vậy, các cậu còn trẻ, ép xác phí!" Tôi nhìn sang thấy mắt Len đã đỏ hoe. Trước khi lên xe, ông giang tay ôm cả tôi và Len vào lòng và ông cũng khóc (Lần đầu tiên tôi thấy ông khóc) "Thời gian ở khu độc thân chú có gì không phải hai đứa bỏ qua, thấy tụi bây gần gũi, chú lo... hoàn cảnh đưa đẩy, chú vẫn tin nhưng...chú sợ ... hai đứa không giữ được mình... Thằng lính ở xa, thiệt thòi, mất mát nhiều...Còn cái đó...Giữ được cho nó thì giữ, không được thì thôi... Đừng nỡ ...Thôi chú đi, ở lại coi nhau như anh em ruột nhé!" Khi xe gần chuyển bánh tôi tính hỏi thật ông Tuỳnh một chuyện nhưng không kịp, tấm cửa xe đã kéo lại, xe ậm ạch từ từ rời bến.

Tôi ở lại khu độc thân thêm một năm nữa, sau đó chuyển xuống đơn vị huấn luyện chiến sỹ mới. Chồng Len sau thời gian dài làm trinh sát, được chuyển về phòng làm trợ lý. Mấy tháng sau gặp lại, thấy Len xõa tóc như thời con gái, bụng đã phưỡn lên, đi qua tôi Len còn nghếch mặt lên như người chiến thắng. Biết tôi vẫn chưa lập gia đình, Len đùa: "Hay chờ làm ...con rể mình vậy!" "Tầm bậy, hay đợi đấy, tới đây tôi cho vợ đẻ toàn con trai quậy con bà chơi."

*

* *

Bẵng đi một thời gian dài tôi không có điều kiện trở lại khu độc thân. Đến một chiều chủ nhật, chú lính quân bưu chuyển lời nhắn của Len: "Vợ chồng chú Tuỳnh mời xuống nhà chơi". Chẵng còn biết mô tê gì cả, sao lại vợ chồng chú Tuỳnh? Thắc mắc cành hông tôi mượn xe phóng xuống nhà Len. Len càng ngày càng đẫy ra, má cứ phinh phính. Trông thật phì nhiêu. Đúng là gái một con. Dạo này Len ăn nói còn đáo để hơn trước: "Vẫn vậy à? Nó có hai chức năng đó không phải chỉ để giải quyết nước bí đâu". Tôi biết nói năng bây giờ sẽ không lại với Len nên vội hỏi:

- Bà thì... Sao lại vợ chồng ông Tuỳnh? Bà gặp ông ấy khi nào?

- Trước học logic được mấy điểm vậy? Vợ chồng là vợ chồng. Bộ ông quên cô Thương rồi hả?

- Cái gì? Cụ Tuỳnh bỏ vợ vào với cô Thương?

- Chuyện dài, muốn biết tường tận thì lên xe.

Tôi nổ máy xe, Len ôm cả con leo lên yên sau. Tôi càu nhàu: "Chở bà tôi mất hết cả duyên, làm sao mà lấy vợ." "Yên tâm đi, xíu nữa người yêu nó còn tặng cho một bãi nữa kìa." Như để hưởng ứng theo lời mẹ nói, xe mới ra khỏi cổng, nghe nong nóng dưới mông. Tôi càu nhàu: "Đúng là đồ...con gái”. Len cười sằng sặc: "Ông hên rồi, năm nay đằng nào cũng lấy được vợ." Ngoằn ngoèo một lúc, gửi xe, bò qua hai cầu khỉ. Tôi và Len mới đến trước ngôi nhà nhỏ lợp tôn, quây quanh vách bằng lá dừa nước. Ông Tuỳnh đang lụi hụi phía sau, nghe tiếng chó sủa óc ách vội chạy ra, thấy tôi và Len ông đứng sững một lúc rồi khóc (Nữa! Người già sao hay khóc vậy không biết). Vừa quệt nước mắt ông vừa rối rít: "Vào đây, vào đây. Mái xề ơi! Hùng, Len nó đến này. Lại dẫn con đi đâu rồi không biết, chân với cẳng thế mà cứ đi luôn. Phong đâu, sao không bảo Phong đến chơi? Cháu của ông, đi ông bồng nào! ấy ông quên, người ngợm ông toàn cứt heo thôi, để ông đi rửa rồi ông bồng cháu nhé". Ông cứ cuống quýt nói luôn miệng. Tôi nhìn ông như vừa lạ vừa quen, cái thâm trầm, ít lời ngày nào ở ông? Bộ mặt đăm đăm, kho khó không còn. Chẳng biết ông có còn nghiệm Kim Bình Mai, Thủy Hử với Hồng Lâu Mộng nữa không biết: "Còn Hùng! Vẫn chưa đưa được Sim vào hả? Nặng tình, đàn ông nặng tình khổ lắm".

Ông hỏi mà không mong câu trả lời. Chờ một lúc không thấy cô Thương về, ông ra đứng bên hàng rào gọi với, sau đó rút cái lưỡi câu làm bằng cái tăm xe máy treo bên vách, vào lục nồi vốc một nắm cơm nguội, nắm nắm lại cho dính vào lưỡi câu. Tôi theo ông ra bờ ao. Ông ném nắm cơm to bằng quả trứng vịt xuống ao rồi khéo mạnh, một chú cá Dồ to như cái phích nước được kéo lên kêu ẹc ẹc như lợn con ngạt mũi. Cô Thương cũng vừa cõng thằng nhỏ về, trông nó cứ vuông chằn chặn giống y ông Tuỳnh. Vừa đặt con xuống, cô vừa trách: "Có cô và chú đến mà tía nó không kêu tui về." Xong cô thả thằng nhỏ xuống, đi làm cá nấu canh chua. Tôi xúi thằng nhỏ lại chọc con bé của Len cho nó khóc chơi, nhưng nó không dám. Khi tôi quay lưng, thấy nó mon men lại gần con bé ngồi chòm hỏm trông con bé nghịch bóng. Khi trái bóng bị con bé tung quá xa, nó nhanh chóng chạy đi nhặt lại. Hoá ra khả năng tán gái của thằng đàn ông nó được hình thành từ khi trong bụng mẹ. Thế là quen, anh em quấn quýt, tủ tỉ, tù tỳ chơi với nhau cả buổi. Con nít hay thật, đến với nhau nhanh chóng như nhiên. Nhìn mà thèm.

Cơm gần dọn ra thấy Len cứ đi ra đi vào, chẳng biết có chuyện gì tôi không tiện hỏi. Khi trời gần nhá nhem tối thì Phong lù lù xuất hiện. Tôi à lên một tiếng vỡ lẽ. Hoá ra là họ có hẹn nhau. Vừa trút giày ngồi vào chiếu, Phong phân bua: "Em mắc trực, về mở lồng bàn thấy tờ giấy: Em và con ở nhà chú Tuỳnh, anh trực xong xuống luôn nhé . Thế là đành ém bụng xuống đây." Chú Tuỳnh cười khì khì khệ nệ bưng ra hũ rượu ngân tắc kè, nước xanh lè. Cô Thương khó nhọc đứng dậy vào nhà trong lấy ra chai rượu trắng đưa cho tôi: "Cháu uống rượu này thôi, mặc kệ chú Phong và ông ấy." Len lại đỏ mặt và tủm tỉm cười, nụ cười sao giống Sim đến lạ. Không biết có mối quan hệ gì mà Len và Sim có thật nhiều điểm giống nhau. Nhìn Len tôi thấy nhớ Sim cồn cào. Chẵng lẽ lại về đột xuất một lần nữa. Mà về cũng có để làm gì đâu, đâm khó xử. Mấy lần Sim và gia đình giữ ý không nói chứ kỳ thực tôi biết, không thể kéo dài sự chờ đợi của Sim thêm được nữa. Nhìn cảnh sum họp tôi không thể vui, mồi ngon nhưng chỉ gắp cầm chừng mấy miếng bạc hà nổi trong bát canh chua. Ông Tuỳnh nhắp rượu tắc kè rồi lại dùng tay nhón giá sống nhai rau ráu. Len liên tục nhúng hành tái gắp cho chồng. Cô Thương tẻ khúc cá dồ đưa vào bát tôi, mỡ cá vàng hươm, thơm nhức mũi. Nửa buổi ăn, nhìn ông Tuỳnh ngồi bệt xoay trở với cái bụng phệ thật thương. Tôi nghĩ, nếu bây giờ mà báo động diễn tập không biết ông chạy hay vần. Xoay trở hết tư thế, ông chộp lấy chân cô Thương kéo vào làm ghế ngồi. Tôi bụm miệng không dám cười. Khi rượu đã ngà ngà, không ai khảo, tự dưng ông Tuỳnh khai:

-Tại bả, cưa mãi không đổ mình, bả nghĩ ra chuyến về thăm chiến trường xưa, bả cũng quân hàm quân hiệu y như thời ở bưng.

-Thế là chú đổ?

- Chưa, tối đó còn bày đặt mắc võng gần nhau ôn chuyện xưa. Mẹ họ! Ai mà chịu được!

Len đỏ mặt đấm thùm thụp vào lưng chồng cười nắc nẻ:

-Trách gì cháu thấy thằng cu nó đi cứ...lắc lư như người trên ...võng.

Len lại đáo để, mọi người cười ngả nghiêng. Ông Tuỳnh ép tôi uống một ly rượu tắc kè với ông, không nỡ từ chối, tôi nốc cạn, nghe hơi nóng chạy rần rật trong người. Tôi hỏi cô Thương một câu lạc lõng:

- Cô còn làm ở phường không ạ?

- Cô mất hết, được thằng này với ông ấy là quá lời rồi.

Ông Tuỳnh lại cười khơ khớ, tóc thì bạc mà trông ông thật trẻ trung. Đột nhiên Len vỗ lưng chồng đánh bộp một cái làm mọi người đều giật mình:

- Anh không nhắc em quên, lữ pháo vừa thành lập thêm tiểu đoàn, đang xin tăng cường cấp dưỡng. Phong vặc yêu:

- Lãng nhách, để chi vậy?

- Sim tốt nghiệp đại học ngành gì?

- Sư phạm văn!

- Hùng điện hỏi có chịu làm cấp dưỡng không. Bàn chịu đại đi, tính sau.

ông Tuỳnh nưng ly rượu cao ngang mày uống ực một cái rồi chúc ngược ly xuống:

- Rồi! Xong! Có lối thoát, cứ đưa vào. Đó, mảnh xeo xéo đó-ông chỉ ra miếng đất bên góc vườn- Dựng nhà mà ở, thoải mái chán. Nào zdô một trăm phần trăm nè, rượu tắc kè nè. Tắc kè muôn năm nè.

Ông Tuỳnh say ngả nghiêng, dùng đôi đũa gõ vào chân cô Thương kêu bong bong rồi hát: "...Mãi mãi lòng chúng ta, ca bài ca người lính...mãi mãi lòng chúng ta, hát mãi khúc quân hành ca." Gần đến chín giờ đêm thì ông Tuỳnh say thực sự. Ông lảm nhảm: "Đời có thằng thù thế mà hay...Đời có thằng lắm chuyện thế mà hay..." Rồi ông ngã lăn kềnh đè cả lên chiếc chân gỗ của cô Thương, buộc cô phải vén ống quần lên tháo chiếc chân ra. Vừa tháo cô vừa nói: "Tội ổng lắm, hưu rồi, gặp lại bạn cũ cứ như con nít."

Khuya, hai đứa nhỏ đã lên giường ngủ từ lúc nào. Đúng là con lính, cứ cung cúc tự giác. Chúng tôi xin phép cô Thương ra về. Ra khỏi ngõ, tôi hỏi Len:

- Thế vợ con ông ấy ngoài đó? Chả lẽ đen đầu thì bỏ, đỏ đầu thì theo?

- Ông Tuỳnh bất hạnh hơn bọn mình tưởng, cả hai đứa ngoài đó đều không phải con ông.

- Thế sao trước đây... Ông vẫn gửi lương về thường xuyên cơ mà.

- Bây giờ vẫn gửi, mồng mười hàng tháng vẫn đều đều. Ông ấy đ• tha thứ được cho vợ hai lần, nhưng vợ thì không tha thứ được cho ông một lần, dù một lần ngoài ý muốn.

- Nhưng sao bà ấy biết?

- Lãng nhách, cậu tưởng ai cũng tốt cả sao. Một năm thiếu gì người về ngoài đó.

- Như vậy hoá hay, trông ông Tuỳnh trẻ hẳn.

Đế đến nơi gửi xe hồi chiều, Phong chở vợ con về, tôi ghé vào bưu điện làm một cuộc gọi đường dài cho Sim.


Lộc trời

Gió không còn thun thút thổi, trời vẫn rét ngọt nhưng hình như man man đâu đó đã có hơi ấm. Đêm măn mắt đã bay đầy nhà báo hiệu hoa xoan bắt đầu bung cánh thì trong chuồng đàn hươu sao cũng dần trút bỏ bộ áo ấm lông bông để khoác lên mình tấm áo màu vàng óng ả điểm những chấm sao trắng thẳng tăm tắp mượt như được thoa một lớp dầu bóng. Hươu đực bắt đầu dồn sức cho những cú va đầu vào gióng chuồng, va mãi đến khi bật nắp đế để cho một mùa nhung mới. Còn hươu cái cũng ngúng nguẩy cái đuôi ngắn cũn cỡn ướt chèm nhẹp trêu ngươi gọi mời. Mùa tình đến. Cũng vào độ đó ông nội tôi lại lấy cây cưa cung cất từ mùa trước xuống tỷ mẩn mài mài, giũa giũa. Còn cha tôi dậy sớm hơn mọi ngày mải mê luyện lại những miếng bắt hươu gia truyền. Mẹ tôi chuẩn bị than củi chim chim với chiếc thau mẻ để sấy nhung.

Nghề nuôi hươu ở làng tôi không biết có từ bao giờ và ai là ông tổ. Chỉ biết rằng, khi tôi lớn lên thì đã thấy ông nội tôi là người cắt nhung mát tay số một trong làng. Còn cha tôi là người bắt đầu. Năm tôi lên mười, sáng sáng cha chọn một góc vườn tập cho tôi những miếng bắt hươu bí truyền. Ở bên trại nuôi tập thể, người ta bắt hươu bằng dây, nhưng quê tôi không học theo mà vẫn giữ mãi cách bắt của tổ tiên để lại. Vì mọi người quan niệm, nuôi hươu không phải chỉ đơn thuần đưa lại lợi nhuận từ lấy lộc nhung mà lộc nhung chính là lộc trời, trời chỉ duy nhất ban cho làng tôi nghề nuôi hươu vì vậy mà ngày cắt lộc hươu cũng là ngày vui, ngày hội nho nhỏ của làng. Nhưng sở dĩ kén người cắt nhung là vì đã không ít người cắt xong mùa sau hươu không chịu đổ đế, không lên nhung, mất toi cả một năm chăm sóc. Cơm, đỗ, lạc, ngô... cho hươu ăn thúc đều trôi sông trôi biển cả. Đối với gia đình tôi, hình như trời ban cho cái thiên chức đó, truyền đời làm nghề cắt nhung với bắt đầu. Trong nhiều ngón bắt hươu, quan trọng nhất vẫn là người bắt đầu, phải vừa nhanh nhẹn, khỏe lại khéo léo để giữ được nguyên vẹn cặp nhung, an toàn cho cả người, cả hươu. Không ít người bắt đầu thiếu kinh nghiệm làm cho nhung gãy, giập, bán chỉ được một phần ba giá. Thậm chí còn làm cho hươu gãy chân, mù mắt... xui xẻo cả năm. Chính vì vậy tôi phải tập chạy, tập xà cho tay cứng và dẻo như sợi chão, sau đó mới tập được các ngón nghề của người bắt đầu. Chả có ai quy định, nhưng một người bắt đầu giỏi luôn được mọi người trong làng ngước nhìn với đôi mắt vị nể và trọng vọng. Đằng đẵng năm này qua năm khác, cha con tôi vừa tập thể dục vừa tập luyện các ngón nghề. Bao giờ cũng vậy, miếng cuối cùng là khi cha và tôi đứng đối diện. Cha múa may những vòng tay biến ảo, tôi cũng phải múa và lựa thời cơ, thật nhanh, hai tay tôi phải chụp đúng và nắm chặt được hai cổ tay cha ấn xuống. Ban đầu, cha chỉ cần hơi xuống tấn, tôi đã chẳng làm được gì rồi, nhưng dần dần cha phải vận công mới trụ lại được lực ấn của tôi. Và mùa tình năm nay tôi mười bảy tuổi, sau một lúc hai cha con quần nhau, múa như lượn, rồi mặt đối mặt, tôi chụp đúng hai cổ tay cha, vận công ấn mạnh xuống, cha đã chùng chân trụ lại. Đun đẩy nửa giây, tôi ém bụng hít căng lồng ngực ấn tiếp, tay cha đuối dần, đuối dần, hơi thở bắt đầu lỗi nhịp, cuối cùng cha thở hắt ra, hai tay buông xuôi. Trước khi đi vào nhà, cha chỉ nói mỗi một câu: “Anh đã trưởng thành, đã thay được cha. Nhớ lấy, sức anh tuyệt đối không được uống huyết hươu”. Tôi thấy trong mắt cha hình như có cả những tia sáng chợt quắc lên của niềm vui khi con trai trưởng thành nhưng trong đó cũng đi kèm những tia u uất của người chợt thấy mình đã bắt đầu tụt xuống bờ dốc bên kia của cuộc đời.

Cha buông thõng hai tay đi vào nhà và đến bên ông nội tôi khi đó mắt đã kéo màng. Cha gục đầu đứng vậy đợi chờ. Cũng khó khăn để đón nhận một sự thay thế như cha, ông tôi chống gối đứng dậy, leo lên gác lấy cây cưa cung từ từ trao lại cho cha. Cha cẩn thận giũa mài chuẩn bị cho mùa tình mới.

*
* *

Con hươu đực cồ trong chuồng nhà tôi là giống hươu quý, nó to lừng lững như một con nai đực trưởng thành. Năm nào cũng vậy, đúng độ giữa mùa tình, trên đầu nó đội cặp nhung trắng hồng, ba nhánh đòn dài oai lầm lẫm. Giống hươu tốt nên trong làng ai cũng nuốn đưa hươu cái đến phối. Thường năm nào nó cũng làm thỏa mãn năm đến sáu ả hươu tơ. Nhưng năm nay, lần đầu tôi làm người bắt đầu, cha cương quyết không cho nó phối giống, cha muốn nó phải trường sức nhất, sung mãn nhất để như là một buổi sát hạch lần cuối trước khi tôi chính thức vào nghề. Rồi cái ngày đó cũng đã đến. Sáng sớm nhà tôi đã rộn ran tiếng dao thớt với bát đũa. Nách chái hồi trên đã tập trung trên trăm loại lộc non được hái từ núi cao xuống chuẩn bị cho bữa tiệc lá có một không hai. Trong nhà, mùi xôi, mùi mẻ, mùi bỗng rượu làm lồng bác đã thơm dậy lên. Cha tôi cẩn thận đặt lên bàn thờ Thần Lộc mâm cơm cúng đầy đủ các món trong ngày còn kèm theo những lộc non mơn mởn và một lọ nước suối lấy ở đầu nguồn. Xong mọi thứ. Cũng lạy như tế tổ, ông nội tôi khấn: “... Cha già đã có con thay, mong Thần Lộc chứng giám. Sức trẻ của cháu đích tôn đã thay được cha nó việc bắt đầu. Bản thân con mắt đã mờ, tay đã yếu cũng giao lại tay cưa cho con trai. Lễ mọn lòng thành đây là nước suối tự nguồn, đây là lộc non trên núi cao kính mời thần về dự tiệc và ban cho điềm lành. Cả họ truyền đời được thần ban lộc chưa một lần dám sao nhãng chuyện dạy dỗ con cháu biết ơn thần. Lộc thần ban chỉ dám để làm điều có ích, làm thuốc cứu người, làm những chuyện thanh cao. Ai phạm vào điều cấm kỵ mong thần ra tay trừng trị. Lời mộc, lễ bạc, lòng thành mong thần về chứng giám...”. Lễ cúng đã xong, sáu thanh niên lực lưỡng đã đứng cả sau lưng tôi, cửa chuồng hươu he hé mở. Sau một lúc lồng lộn trong chuồng, con đực cồ thấy có lồng nữa cũng vô ích. Nó đứng lại nghếch đôi nhung tươi hồng lên như thách thức. Một thoáng chợn rợn làm mặt tôi hơi đỏ, tôi hít sâu lấy lại tinh thần, chiếu thẳng ánh nhìn vào cặp mắt lên máu đỏ đòng đọc của con đực cồ. Tôi biết, sau lưng tôi, cũng đang có hàng chục cặp mắt theo dõi từng hành động của tôi. Tôi nhìn nó không chớp mắt, hình như nó có một thoáng rùng mình rồi cụp mắt xuống. Nó đã bị tôi khuất phục liền quay đầu lồng trong tuyệt vọng. Liếc thấy lần lượt mọi người đã vào hết, ai nấy lưng đã ép sát vào gióng chuồng, mặt quay ra căng thẳng theo dõi từng bước lồng của hươu. Vòng người đã dần khép. Thời điểm quyết định đã đến, đợi con đực cồ muốn thử bản lĩnh tôi. Nó ngước cao đầu, chồm hai chân trước lên cuốc. Tôi lùi một bước, nó lỡ đà hụp đầu xuống. Chỉ chờ có thế. Nhanh như bản năng loài hổ vồ mồi, hai tay tôi đã vung lên, chộp đúng vào hai cội nhung. Xuống tấn, vận hết lực toàn thân ấn mạnh xuống. Chưa chịu chấp nhận ngay, nó cũng chùng hai chân trước nhanh xuống và dùng sức mạnh của cần cổ với hàng bờm cứng như cước nhằm hất bổng tôi lên. Hình như hai chân tôi có một tích tắc bị nhấc lên, trượt lùi trên nền chuồng. Hít một hơi thở tràn lồng ngực mười tám, tôi ấn mạnh đầu con đực cồ xuống đưa nhanh vào giữa hai bẹn, ngay lập tức khẹp đùi lại bịt luôn đôi mắt nó. Sau một lúc trù trì, thở phì phì, nó đã không trụ lại được sức nặng của tôi. Với lại hai mắt đã bị bịt, nó khuỵu hẳn hai chân trước xuống. Tôi hét: “Vào!” Đồng loạt những người vào sau đã được luyện từ trước, mỗi người một bộ phận, đè nghiến con đực cồ xuống nền chuồng. Tôi vơ rơm khô độn xuống nền và ngồi lên đó, xoay chân kẹp chặt cổ con đực cồ cho cặp nhung nằm ngang. Đến khi đó cha tôi mới đạo mạo dáng người già, kính cẩn như một nghi lễ lách cửa chuồng bước vào với cây cưa cung trên tay. Trịnh trọng không kém, cha ngồi xuống liếc hỏi: “Chắc chưa?” Tôi gật. Cha cầm lấy một nhánh nhung, bấm tay làm khấc trừ lại chừng nửa hạt gạo phía cội, đặt cưa. Khi sắp đẩy, cha lại nói: “Chắc nè...!” Cưa rào rạo ăn nhung, một cái rùng mình của con đực cồ, bờm cổ lại dựng lên. Tôi triển mạnh hai đùi kẹp chặt cổ nó, giữ chắc đầu cho cha cưa nhung khỏi bị chác. Máu từ vết cưa ròng ròng chảy xuống thau rượu nếp, có hai tia bắn thẳng vào miệng tôi, cha quát: “Không được uống.” Huyết nhung chan chát, ngòn ngọt và thơm quyến rũ vô cùng. Con đực cồ đang trường sức, ăn thúc tốt, cắt nhung đến độ, tia máu bắn khỏe như ai đó cầm xi lanh mà ấn ra. Tôi miễn cưỡng ngậm miệng lại cho huyết phun đầy mặt. Đợi cha cúi xuống cưa tiếp. Không cưỡng được, tôi lại há miệng đớp những tia huyết nóng hôi hổi. Khi cha cưa xong nhánh nhung thứ hai, cũng là lúc tôi đớp đầy hai ngụm huyết tươi. Tôi đã phải trả giá đắt cho hành động nông nổi đó.

*
* *

Làng tôi ở giáp Lào nên chỉ cần trượt một cái dốc là gió Lào thông thống thổi hết ngày đêm. Nhưng ánh sáng văn minh từ miền xuôi muốn lên lại phải vượt qua quá nhiều dốc với đường trồi sụt bao ổ gà ổ trâu. Nếu không có đặc sản nhung hươu thì chắc không ai biết đến làng tôi - làng vô danh như trăm vạn làng nghèo khác. Nhưng rồi cửa khẩu Cầu Gác được mở, quốc lộ Bát A được bạt bớt đèo dốc và trải nhựa. Làng nằm trong khu tam giác kinh tế trọng điểm. Từ đó người xe nườm nượp đổ về mang theo cái nhộn nhạo thập phương. Thị trấn vùng biên lập lòe xanh đỏ đèn chùm, chộn rộn xốn xang váy áo, ồn ã giọng Bắc, Trung, Nam, lượn lờ má đỏ, môi đỏ, móng đỏ, chân dài. Lộc hươu bây giờ mới thực sự là lộc trời. Đàn ông luôn tự tin trong mọi chuyện, trừ chuyện làm tình. Không tự tin nên họ tìm đến sâm nhung, quế, phụ, tắc kè, hải mã, rắn, dâm dương hoắc... Nhung hươu lên giá từng ngày, tiền ào ào đổ vào làng và đổ luôn bao thứ nhộn nhạo khác. Cửa khẩu càng đông người thì lớp học càng vắng. Tôi cũng bỏ học năm cuối cấp ba. Đã làm anh thợ vào đầu chắc tay rồi, hươu, nhung lại lên giá như thế này cần chi phải học, phải đi đâu cho mệt. Mấy thằng bạn tôi đã bỏ học trước lên cửa khẩu làm cửu vạn, mỗi lần về đều tấm tắc khen em Thy chân dài ở quán bia Lá Đa. Tấm tắc khen bởi cái ngữ chúng nó với đồng tiền cửu vạn mạt rệp thì chỉ dám đứng xa mà nhìn vô. Thỉnh thoảng còn dư chút sức lực sau một ngày làm thân con ngựa thồ cõng hàng qua biên giới, bí bách, dăm ba thằng mới dám bao một ả điếm hết thời dưới xuôi mò lên kéo vô rừng để xả bớt đi cái bức xúc trai tráng trong mùa tình. Đàn ông thường gieo những hạt giống khỏe mạnh nhất, chắc mẩy nhất vào những chỗ không đáng gieo và không được gieo. Nghe chúng kể, tả về Thy tôi cũng rậm rực lắm nhưng không thể đi. Năm đầu tiên tôi bắt đầu. Đến con đực cồ mà cha còn không cho phối giống huống hồ... Tôi đã chiến thắng được sự chèo kéo của mấy thằng bạn nhưng lại không cưỡng được cái vị chan chát, ngòn ngọt, thơm thơm của huyết hươu. Không nghe lời cha nên tôi đã phải trả giá...

Con đực cồ đã được băng bó cẩn thận, mọi người đồng loạt buông tay, nó vùng dậy lấc lấc láo láo cái đầu nhẹ tênh hênh vì cặp nhung hơn một cân vừa bị cắt mất. Mọi người lục tục bước ra khỏi chuồng. Như có thuốc tiên, người tôi bắt đầu thấy rạo rực lạ, bụng dưới tức anh ách, máu chạy rần rật, giật đùng đùng, nhức như đóng mủ. Tuy vậy tôi vẫn giữa được sự thăng bằng tối thiểu. Ngửng cao đầu với khuôn mặt nhuộm hồng huyết hươu. Tôi hiên ngang như võ sỹ chiến thắng bước ra từ xới vật trước những ánh nhìn ngưỡng mộ của đám trai làng và những con mắt ướt rượt của gái tơ mùa tình. Tôi đã có bằng chứng nhận trưởng thành. Cắt xong nhung là vào tiệc. Tôi được ngồi mâm trên với các cụ. Mâm trên với lá lộc non nhất, những con tôm to nhất, thịt mỡ luộc cắt đúng độ nhất, lồng bác thơm nhất. Như những lần khác, tôi đã quấn lấy quấn để rồi đưa lên nhai phình mồm những miếng gỏi lá để tận hưởng vị chan chát của lá trâm, bùi bùi của lá mít, ngòn ngọt chua chua của chua ngút, thơm bùi của lộc xoài, ngọt thịt tôm, béo thịt mỡ, ngậy lồng bác, cay ớt hiểm... Nhưng lần này thì không, tôi không tài nào chú tâm vào miếng ăn được nữa, trong người rậm rực quá rồi. Không uống được rượu nhưng tôi đã ngửa cổ ực cạn liên tiếp hai chén rượu huyết mong nó dìm bớt cái sóng lòng xuống. Tôi lại sai lầm. Lửa gọi lửa đám cháy càng cháy to. Không còn chịu được nữa rồi, tôi lẻn ra sau nhà tìm đường đến với mấy thằng bạn. Vừa qua khỏi bờ chè mạn, tôi chợt đứng sững người khi thấy con Lành mới chui từ bếp ra, má bắt hơi lửa đỏ hây hây, mồ hôi thấm ướt nách áo lộ chiếc xu chiêng hồng với cặp ngực gái tơ thây lẩy. Thấy tôi nó còn cười duyên rồi đưa hai tay lên vén tóc làm cái áo ngắn cũn cỡn kéo lên để lộ một khoảng dầy nây nẩy, lỗ rún sâu thun thút. Ma xúi, quỷ xui, một cú ngã vờ của người say rượu, tôi đã đè nghiến lên người nó. Nó ú ớ hốt hoảng còn tôi hối hả lần tìm. Bỗng rùng mình một cái, một luồng lạnh chạy dọc sống lưng rồi như cống tắc được xả, bụng dưới hết tức, người tôi nhẹ tênh tênh, mắt mờ mịt sương khói. Hình như tiên giới là đây!? Đang đê mê, tôi bị cha túm sau cổ áo kéo giật về cõi phàm trần. Vừa kéo cha vừa nói át cả tiếng con Lành: “Say rồi vấp ngã hả, đứng dậy cha dìu về. Con Lành đỡ anh nặng quá hả, tội nghiệp, nó say ngã đè cả lên cháu”. Lành len lén cài lại cúc áo chạy ào vào nhà. Tôi ngượng nghịu đứng lên cố đi xèo nẹo để che bớt mảng ướt to như bàn tay nơi đáy quần. Cha vừa dìu tôi đi vừa rít vào tai: “Đồ vô phúc, đồ đực chóc, sức mày đổ đi không hết vậy mà còn nốc huyết nóng, nốc cả rượu huyết. Không nghe tao. Rồi đến tán gia bại sản vì mày thôi”. Trong cơn say, trong nỗi tẽn tò xấu hổ tôi vẫn không thể quên được con đực chóc mà cha vừa nhắc. Con đực mới lên nhung mùa đầu cha nhốt gần chuồng con hươu cái già, đến mùa tình sung quá thò của quý qua gióng chuồng đã bị con cái già cắn cụt. Mấy mùa sau tức hạ phá thượng nó cho nhung to bất ngờ nhưng trông nó vật vã trong mùa tình tôi không thể chịu được, bàn thiến nó đi, cha nói: “Con trâu sinh ra để cày, con ngựa để kéo còn con hươu nuôi để lấy nhung. Thiến đi nó không còn lên nhung thì nuôi cho đẹp à?” Bàn thế nào cha cũng không thiến, càng trưởng thành đến mùa tình nó càng vật vã tợn. Đến khi không còn chịu được nữa, nó lao sầm sầm vào gióng chuồng, lao đến vỡ đầu mà chết. Cái chết của nó ám ảnh tôi mãi về sau. Sau này qua sách báo tôi được biết tính dục là thứ ẩn ức mạnh mẽ nhất, bao trùm nhất, luôn chi phối mọi ẩn ức khác.

Chiều đó mẹ bắt đầu chẻ than chim chim cho vào nồi đốt. Còn cha đem cái thùng phuy lớn đặt chận ngay cửa buồng tôi. Than đượm, mẹ bỏ vào gióng dòng xuống đáy thùng phuy, cha cẩn thận để nghiêng nghiêng hai nhánh nhung vào đó để sấy. Thùng phuy với người cha ngồi đã bít hết lối ra, mọi sinh hoạt tôi đều phải thực hiện trong buồng. Cứ như vậy ba ngày, ba đêm. Đến khi sự vật vã thúc giục của con thú bản năng trong tôi đã giảm dần. Tôi ngủ ngon hơn và giấc mơ giao tình đến thưa hơn. Nhung cũng bắt đầu nhuôn nhuốt, lửa than ghìm dần để nhung không bị nứt. Thấy tôi không còn vật vã, cha đã cho phép tôi ra khỏi buồng. Xổng chuồng tôi tìm đến mấy đứa bạn thân. Thị trấn nhỏ vẫn đèn màu với váy áo, những cặp chân trần thì dài mà váy lại ngắn lượn lờ mời chào. Những câu chuyện mà hình như ở tuổi tôi bất kể ai cũng muốn nghe và tưởng tượng, đồng sáng tác. Và cú kích cuối cùng là bộ phim tươi mát ở quán cà phê Phố Núi. Ừ sao không thử một lần cho biết - tôi nghĩ - mấy đứa bạn, cả mấy đứa em đứa út ngồi nói chuyện đó cứ vanh vách mà mình thì ngu nga ngu ngơ như hươu gạc. Không thể để chúng nó khinh, với lại còn lâu mới phải vào đầu tiếp. Phải xả sau chiến thắng con đực cồ chứ, cả làng này có con nào mạnh bằng đực cồ đâu. Phải thử thôi, thử hẳn em Thy luôn cho chúng nó nể. Một lần nữa tôi lại lẻn cửa sau, nhưng lần này tôi tìm đến quán Lá Đa. Cố làm ra bộ mình đã đến đây nhiều lần, tôi hất hàm hỏi thằng bảo kê:

- Có em nào mới không?

Hắn nhìn tôi nhăn nhở cười, nói như hát:

- Mới trúng quả gì to í à? Sự đời ơ là cái lá đa, ở đây ơ là cái mới ơ là cứ ra ra a vào vào. Mới hay cũ cũng ơ là chỉ để ơ là ra ra vào vào... Xin đại ca ơ cho kiểm tra túi ơ cái nào.

Nói xong hắn thọc tay vào túi áo tôi, không thấy gì, móc túi quần trái cũng chả có một xu, hắn chuyển tay vào túi quần phải, cũng trống không nốt. Một thoáng ngập ngừng, tay hắn thọc sâu hơn chộp nhanh qua vải quần rồi bẻ ngoéo một cái đánh rụp. Tôi đau nhói đến lộng óc, mặt tái men mét. Chưa kịp hoàn hồn đã bị hắn vần ra cửa, giơ chân đạp vào mông. Pha tiếng Nam Bộ hắn nói: “Bộ muốn giỡn chơi với ông nội he con. Không có tiềng mà đòi làm phách”. Tôi vừa đau, vừa điên, vừa xấu hổ đến trào nước mắt. Ông trời ông hành hạ chi đến khổ. Tôi lại nhớ con đực chóc. Chết quách đi cho rồi. Nhưng cơn đau ở bụng dưới đã dịu dần, những hình ảnh trên màn hình trong quán Phố Núi lại hiện về rõ nét. Tôi phải trở lại quán Lá Đa! Nói là làm. Tôi lẻn về nhà, nhẹ như mèo nhấc nắp thùng phuy, gỡ một chiếc nhung đang nhuôn nhuốt, âm ấm ra khỏi sào sấy, kẹp vào nách, trở lại quán Lá Đa. Vẫn thằng bảo kê đó nhưng hắn chưa kịp ngân nga ca bài ca chết tiệt kiểm tra túi, tôi đã thò tay vào bụng rút ra chiếc nhung hươu. Hắn há hốc mồm nhảy giật lùi đến sau cánh cửa vơ lấy cây kiếm rồi hét đồng bọn. Tôi bình tĩnh tiến lại gần nói trịch thượng: “Xem lại đi, không phải hàng nóng đâu mà sợ. Mẹ mày, đũng quần ướt nhẹp rồi kìa”. Nói xong tôi dúi vào mặt hắn chiếc nhung hươu. Hắn vội chộp lấy, mừng rú lên. Lại một cái hất hàm nữa tôi lệnh: “Em Thy!”. Hắn dạ như phường chèo rồi gọi với vào: “Con Thy, nhớ hết ga, phòng số ba! Là lá la cái lá đa...”. Tôi nghênh ngang, háo hức bước, nhưng khi đến trước cửa phòng số ba lại thấy chờn chờn, da mặt sần sần. Hay là quay lại. Nhung hươu chỉ làm chuyện thanh cao... chỉ làm thuốc cứu người... Ai phạm vào thần phạt... Một nhánh nhung mất... rồi ngày mai chuyện vỡ lở... Ông nội lại đang ốm... Tôi chả nghĩ được lâu. Cửa phòng ba đã mở. Thy đã bước ra cầm tay tôi kéo vào. Thy đẹp hơn những gì mấy thằng bạn đầu đất tôi tả. Đẹp thế này, nếu là người yêu tôi, nếu là vợ tôi... Tôi vừa sấn đến, Thy đã ngã ngửa ra giường... Nhưng... súng đã vội cướp cò. Cũng may, những gì còn lại của huyết hươu và sức trẻ mùa tình đã nạp cho tôi đầy đạn để có thể bắn lại ngay. Thy hổn hển:

- Khi nào nó đòi lại đến em.

- Tiền đếch đâu, cả năm trông vào mấy cặp nhung, chơi đĩ hết có mà ăn đất.

- Em cho không. Chỉ nhà đi. Tự nhiên em thấy thích anh. Em chiều không vì tiền.

- Làm nghề, không tiền, lấy gì sống?

- Cũng là một thứ lộc trời. Trời cho em nhan sắc, em được hưởng lộc trời, em sớt bớt cho anh. Ăn hết trời phạt.

- Thế à? Vậy nhá, nhà anh năm dãy cuối thôn. Anh là thợ bắt đầu.

Hình như một nhánh nhung của tôi cho một đêm là quá hời, nên mấy thằng bảo kê chả thèm vào đập cửa. Lại sức tôi như mạch giếng ngầm cứ chảy mãi, tưởng không bao giờ cạn. Chỉ hiềm trời mau sáng quá, tôi đành phải về thôi. Thy cười rúc rích.

Tã tượi như một con gà chọi vừa ra khỏi xới, tôi lê bước về nhà. Mặt trời lên màu nắng mới. Lộc non mưng mửng sắc tình.

*
* *

Mùa tình là mùa của vạn vật giao phối, sinh sôi. Của cây lá đâm chồi nẩy lộc, của hoa cà, hoa bí đơm nụ kết bông. Chẳng mấy ai chết trong mùa tình. Vì vậy khi thấy ông nội ốm không ai nghĩ là ông sẽ ra đi. Nhưng có lẽ trường hợp của ông là ngoại lệ. Và chính tôi là người giúp ông kết thúc cuộc hành trình khổ ải của một kiếp người nhanh hơn. Sáng hôm đó tôi về. Không cần đoán, cha đã biết tôi lấy đi chiếc nhung và làm gì suốt đêm qua. Không một lời trách móc, không cả nhìn tôi, không trò chuyện. Cha coi tôi là đứa lạc loài. Chuyện chắc rồi cũng sẽ qua nếu mấy ngày sau tôi đi tiểu không thấy buốt và mấy ngày sau nữa đỏ mặt tía tai cố rặn thì chỉ thấy nhêu nhểu ra một ít mủ. Người tôi hầm hập lên cơn sốt. Đến khi đó, buộc lòng cha phải đến bên giường ông nội quỳ xuống, vừa khóc vừa nói:

- Con có tội với cha, con không dạy được con con.

- Anh đứng lên đi. E cũng là ý trời. Trời đã cho nhà ta hưởng lộc mấy đời rồi nay trời lấy lại.

- Nhưng nếu con dạy cháu tốt hơn...

- Lần đầu tiên kể từ khi lập làng đến nay mới có đĩ. Trai tham của lạ. Tuổi trẻ lại càng thích của lạ... Nhưng cái lạ nó đến nhanh quá, chầm vập quá, người làng chưa kịp phòng bị...

- Giờ cháu... cháu nó... bị...

- Hả? - Đang nằm dính giường nghe cha nói đến đó ông bỗng giật nẩy mình, nhưng sức đã cạn, cái giật nẩy thảng thốt cũng chỉ làm cho chiếc chăn lông hươu đắp trên bụng ông hơi động đậy mà thôi. Dìm cơn thở dốc, ông bảo cha lấy giấy, bút viết những thứ cây ông đọc. Đó là bài thuốc bí truyền của họ tôi. Hình như cứ truyền mãi, truyền mãi đến đời tôi mới phải dùng. Và từ tôi về sau chắc còn phải dùng nhiều đến bài thuốc đó. Khi cha viết xong, ông nội nói tiếp trong khó nhọc - Thôi, năm nay nhà mình đang thiếu mấy cái móc áo...

Khi ấy mẹ tôi đang bưng bát cháo nhung đến bên giường nhìn ông. Đứng bên ông nội tôi nhưng chắc mẹ đang nhớ đến lần ông ngoại tôi cũng ốm nằm liệt giường như thế này. Sau trận ốm của ông ngoại cha mẹ đã thành đôi. Chuyện là: mười tám tuổi, cha tôi đã là một thợ bắt đầu nổi tiếng khắp vùng. Cha là ước mơ của bao cô gái làng, nhưng với mẹ tôi thì không, mẹ cũng kiêu sa với cái tuổi mười sáu bao trai làng đã phải đi cho mòn đường chết cỏ. Cha tài cán còn mẹ kiêu sa nên hai người chưa khi nào chịu ngồi nói chuyện với nhau. Năm mẹ tôi mười tám, làng bị trận dịch kiết lỵ hoành hành. Ông ngoại bệnh nặng, phục thuốc cả tuần không giảm, người tong teo nằm như muốn dính chặt vào cái vạt tre. Nghe người chỉ bảo, mẹ đánh bạo đến gõ cửa ông nội tôi. Chỉ với nửa lạng nhung khô nấu cháo với mấy chén mật ong ngâm nhung đã cứu được mạng ông ngoại. Cảm kích trước tấm lòng của ông nội tôi, cha mẹ tôi đã về một nhà. Từ ngày tôi biết nghĩ đến giờ, chưa một lần thấy cha mẹ giận nhau. Thấy ông nội đã mở mắt, mẹ nói:

- Con đút cha ăn miếng cháo.

- Thôi- Ông nội nói - Để dành nhung mà làm thuốc, đừng đem nấu cháo nữa, tới đây sẽ chả còn. Tôi không ăn nữa đâu. Hưởng lộc trời như thế này cũng là nhiều quá rồi.

Nghe ông nội nói thế, mẹ không dám nài. Cả nhà tôi đều hiểu, mùa tình này, mấy cặp nhung hươu còn lại trong chuồng nhà tôi sẽ không được cắt nữa, chúng sẽ già, rụng lông, tróc da, tròi xương, đợi mùa tình sau tự rụng xuống. Khi ấy công dụng duy nhất của nó là để đóng lên tường làm móc treo áo. Nghiệt ngã quá. Chỉ vì tôi mà nhung đang là vàng phải để quá lứa chuyển thành xương khô. Tôi, tự tôi đã đạp đổ tất cả. Chưa, chưa một ai dám dù trong ý nghĩ đưa nhung hươu đi để đổi lấy khoái lạc. Vậy mà tôi đã làm. Tôi đã lấy đi của gia đình từ miếng cơm manh áo, cho đến danh dự và những gì tốt đẹp đã truyền bao đời. Tôi hay con thú bản năng mạnh mẽ trong con người tôi đã kéo tôi đi lầm lối, kéo tôi đi chệch đường tổ tiên tôi từng đi?! Bây giờ tôi không còn sức để bắt đầu. Cha đã cầm cưa, không thể quay lại làm người vào đầu. Còn ông nội đã bàn giao cưa cho cha không thể cầm lại. Sĩ diện của một gia tộc truyền đời ăn lộc trời, ăn tiên chỉ, không cho phép cha tôi nhờ người khác vào chuồng bắt hươu cho mình cưa nhung. Dù ông nội không dặn thì chắc kết cục cũng phải vậy. Phải để nhung già trên đầu hươu. Thôi thì đành, nín nhịn chờ mùa sau, mọi việc chắc tốt hơn. Hình như ông nội đã làm một cuộc bàn giao trọn vẹn. Kể từ đó ông không hề ăn uống gì nữa, ông cứ nằm vậy, mở mắt nhìn lên trần nhà, nơi đó cha tôi đang treo cái cưa cung sau khi cắt cặp nhung con đực cồ. Đến giữa mùa tình thì ông đi. Người già trong làng nói. Ông tôi là người thứ hai của làng chết giữa mùa tình. Người trước ông không phải chết già mà bị phạm phong, chết trên bụng vợ.

*
* *

Cả nhà tôi ai cũng nghĩ: thôi thì đành chờ mùa sau. Nhưng mãi mãi trong chuồng nhà tôi không còn có mùa tình nào nữa. Những tiếng tác của hươu đực chóc, những ức ọ của hươu đực cồ, những tiếng than vãn, e éo của hươu cái động tình chỉ còn lại trong quá khứ. Tôi đã lành bệnh nhưng không sao đến gần được chuồng hươu. Đàn hươu toác, nhảy cỡn, nhớn nhác như động rừng. Nhất là mỗi lần thấy tôi, ngửi thấy hơi tôi là đàn hươu trong chuồng lồng lên như thấy cọp. Những con hươu đực trên đầu đang mang những cặp nhung trắng hồng, mơn mởn. Vậy mà thấy tôi, chúng liền lao đầu sầm sập vào gióng chuồng mặc cho nhung gãy, vỡ choe choét máu. Còn hươu cái chửa thì lộng, vật nài cho đến trụy thai. Chỉ có con hươu đực cồ là có biểu hiện khác bầy đàn. Thấy tôi đến gần, mắt nó vằn lên đỏ đòng đọc như hai cục máu, cả thân mình triển căng cơ, hai chân sau choãi ra thủ thế, nghênh cái cổ cao dựng ngược bờm cước rồi khi tôi không để ý, nó bất thình lình lao thẳng vào người tôi. May có những gióng chuồng chắc chắn ngăn cách, nhưng những cú lao của nó cũng đủ làm cho cả dãy chuồng hươu run lên bần bật.

Cả nhà tôi nhìn đàn hươu đang chết dần chết mòn mà không còn cách nào cứu chữa nổi. Sau cái tang ông nội, giờ đến đàn hươu và những đêm thức trắng. Tóc trên đầu cha tôi không còn một sợi đen. Mẹ nhìn cha xa xót. Trong nhà tôi nỗi buồn đám tang dài tưởng chừng như vô tận. Tôi cũng đã bao đêm không ngủ. Tất cả những giày vò, hối hận bây giờ đều đã muộn. Muộn quá rồi, một người nuôi hươu gia truyền như cha mà còn chịu bất lực, bó tay thì tôi hỏi còn nghĩ được cách gì? Tôi quyết định ra đi. Tôi sẽ đi mãi cho đàn hươu trong chuồng nhà tôi được sống và sinh sôi, để ông trời lại cho lộc. Nhưng khi biết ý định đó của tôi, cả cha và mẹ đều không đồng ý. Tôi là người duy nhất nối dõi, tôi ra đi hỏi có còn ai. Lộc trời để mà làm gì khi con người sống không còn ý nghĩa? Lộc là lộc để lại mai sau cho tôi, cho con cháu tôi, chứ còn ông bà tôi, cha mẹ tôi họ còn cần chi nữa. Họ chỉ mong để lại lộc cho con cháu. Vậy mà nay...

*
* *

Thêm những đêm thức trắng nữa của cha rồi đến một sớm mai, cha mặc quần áo chỉnh tề, kính cẩn dọn sạch bàn thờ gia tiên, bàn thờ Thần Lộc. Xong! Đốt hương lầm rầm khấn vái. Xong! Cha rút con dao quắm bên vách đưa ra tỷ mẩn ngồi mài, mài đến khi thổi đứt sợi tóc cha mới đứng dậy đi vào rừng. Mẹ hốt hoảng chạy theo. Cha cười héo úa nói: “Không sao đâu, chiều tôi về mà”. Đúng, xẩm tối cha về vác trên vai một vác nứa tươi, ống nào ống nấy to bằng cổ chân. Tối, cha nhóm bếp lửa to phía sau chuồng hươu. Lửa bén, cha bắc những ống nứa ngang ngọn lửa. Chừng như đã đến độ, cha vào kính cẩn rút từng then cửa chuồng hươu. Đồng loạt gióng nứa nổ giòn. Giật mình, hoảng hốt, đàn hươu tông cửa chuồng nhộn nhạo chạy ra đường cái. Cha cầm một bó đuốc hú hét chạy theo. Con đực cồ gồng cổ đứng lại chận đường cho cả đàn chạy. Mắt nó long lên sòng sọc bắt ánh lửa đỏ đọc, bờm cứng như cước dựng cả lên. Chó sủa inh ỏi. Cha cầm đuốc tiến lên, nó lùi dần, lùi dần, khi thấy đàn đã chạy xa, nó ngoắt người phóng đi. Sau một lúc loạng choạng, hươu đã quen với bóng tối, quen chân, chúng đua nhau chạy như tế cờ. Chạy mãi, chạy mãi, mất hút vào bóng đêm. Cha cầm đuốc chạy theo đến bìa rừng mới quay lại. Thế là đàn hươu đã trở lại nơi mà tổ tiên chúng từng sống. Chúng sẽ ra đi mãi, đi mãi không bao giờ trở về với con người. Đúng vậy. Hình như hươu sao là loài duy nhất không bao giờ quen với người dù nó, cha mẹ nó, ông bà nó đã mấy mươi đời ở với con người. Chúng không chịu thỏa hiệp với cuộc sống mà con người áp buộc với nó. Nó ăn uống ngảnh ngót và bắt con người phải phục vụ nó như ông hoàng, bà hoàng chúng mới cho lộc. Trái ý chúng, chúng sẽ lồng lộn, bỏ ăn, uống cho đến chết. Chúng luôn khát cuộc sống tự do, khát sự khoáng đạt của thiên nhiên, đại ngàn. Vì vậy chỉ cần xổng chuồng là hươu tìm về với rừng xanh, với đại ngàn muôn thuở của chúng.

Trở về nhà trong ánh đuốc tàn trông cha chẳng còn gì dáng dấp của thợ bắt đầu lừng lẫy một thuở. Buông đuốc xuống góc sân, còng lưng xuôi tay, xòa mái tóc bạc cước cha đi vào nhà. Mẹ con tôi len lén đứng nhìn theo. Mãi một lúc lâu, cha mới gọi tôi lại và nói: “Anh đã lớn và đã thấy mọi việc. Xưa nay người làng ta ăn lộc của trời. Lộc trời có hạn, ăn lâu cũng cạn, đến nay đã cạn thật rồi. Anh đang trẻ, nên tìm đường mà đi. Đi đâu cũng được nhưng tôi khuyên anh không nên đi về hướng Tây - hướng cửa khẩu...”. Cha chỉ nói vậy thôi, người miền núi chúng tôi vốn nói ít. Và không phải đợi đến khi cha nói tôi mới nghĩ đến chuyện ra đi. Vâng ngày mai tôi sẽ ra đi, tôi sẽ tìm, sẽ làm một việc gì đó từ khả năng mình chứ không thể trông mãi vào lộc trời. Tôi sẽ đi, ra đi là để tìm một con đường về!

Nguyễn Anh Thế (thực hiện)

1
2
3
4
5
6
7
8
Tin mới