Thu Bồn: Sông Hương dùng dằng sông Hương không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu. Nguyễn Duy: Chợ chiều Bến Ngự chưa tan/ Ai lên ngược dốc Phú Cam một mình?
   

Phan Đức Nam và các huyền thoại cũ mới
Cập nhật: 18:59:00 7/7/2010

Phan Đức Nam quê gốc ở Tiền Hải, Thái Bình; nơi còn lưu biết bao huyền thoại thời cũ về Sư Tử Bạt. Hiện anh sống ở Sài Gòn và có dịp thâm nhập sâu vào huyền thoại mới, xem người ta từ tay trắng mà trở thành đại phú bằng những âm mưu thì rồi ra nó kệch kỡm thế nào. Nhưng khi ngòi bút Nam hướng về con người thiên lương thì ánh lên niềm nhân ái qua các truyện ngắn

 


 

SƯ TỬ BẠT
Truyện dã sử

Bạt từ bé rất mê học võ, thường rình xem các người lớn tập võ rồi về bắt chước múa may.
Một hôm, ông nội Bạt và cụ Phan Bá Vường trên Đông Minh xuống thăm,  thấy thằng cháu đánh nhau với trẻ con hàng xóm lớn hơn nó nhiều mà vẫn thắng. Ông cụ thích quá, cứ nắn tay nắn chân thằng bé.
Bố Bạt là Tổng Ấp(1) thưa với cụ Vường:
- Bẩm thầy, thằng cháu tính khí nghịch ngợm! Nhà con suốt ngày cứ bị hàng xóm mắng vốn. Cho nó học võ sớm chỉ tổ đánh nhau. Xin thầy để con rèn nó đã.
Rồi ông bắt Bạt học chữ. Bạt học chẳng vào mấy, nhưng cãi nhau, lý sự thì chẳng chịu ai. Học nghề thuốc gia truyền Bạt có vẻ tiến bộ, đặc biệt rất giỏi về chữa dẹo.
Một lần, Bạt tự tháo khớp vai mình ra, người lệch hẳn sang một bên, trông như dị tật, ai thấy cũng tội nghiệp! Bạt cứ để thế đi chơi khắp thôn, trẻ con chạy theo vỗ tay ran cả xóm.
Bạt về nhà, bà mẹ trông thấy thế hoảng hốt, níu vai chồng:
- Giời ơi! Ông xem!... Thằng Bạt nó bị làm sao vậy?
Ông Tổng Ấp còn đang ngẩn người thì Bạt đã vươn vai đưa khớp vào, rồi nhăn răng cười. Ông Ấp cũng phải lắc đầu:
- Thằng nghịch thật! Giống y ông nội nó - Vặn chuyển được cả xương cốt, thằng này khỏe lắm đây! Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.
Lớn lên, Bạt còn chữa được xương khớp trật của heo, chó, trâu bò… Không dễ như chữa cho người, vì con vật giẫy giụa chẳng chịu yên - nhất là loại thú lớn xương cốt rắn như sắt,  sức người khó lấy lại được. Gặp trường hợp đó, Bạt sờ nắn, ngắm nghía, bắt con vật leo lên bậc cao, nhân thế nhún mà dùng dây cột sẵn kéo mạnh để đưa khớp vào. Ai cũng chịu là giỏi.
Nghề ấy đến nay vẫn lưu truyền trong họ Phan rất nổi tiếng, nhưng con cháu ít ai giỏi như ông.
Bạt xin bố cho qua Minh Châu ở với bác, cốt để được học võ với ông nội là cụ Phan Bá Vường - biệt danh Chép Vàng.
Thời ấy có câu:
Chép Vàng - Voi Chảy - Ngựa Lồng
Ba đô lừng lẫy biển Đông Bắc kỳ.
Nhưng ông bố nhất định chưa cho đi, bảo khi nào Bạt mười lăm tuổi hãy tính. Ông bảo:
- Học võ phải có chí và sức khỏe con ạ.
Một hôm, nhìn hai con trai lớn đứa đẩy đứa kéo cái trục lúa đẽo bằng đá tảng xanh. Ông cười:
- Chúng mày thích học võ mà yếu như sên, khi nào một đứa kéo được trục đá đó thì mới thật khỏe.
Ông anh giống bố, dáng vẻ thư sinh. Bạt là em nhưng khỏe hơn, lại ham học võ, nghe bố nói thế nên cứ giành phần kéo. Năm mười ba tuổi đã một mình kéo được trục đá nặng trên năm mươi ký.
Ông Tổng Ấp gật gù mỉm cười:
- Khỏe đấy! Nhưng vẫn còn nhờ sức lăn.
Bạt lại tập nâng, hai năm sau thì nhấc bổng được trục đá qua khỏi đầu.
Ông Tổng Ấp giữ lời hứa, cũng thấy Bạt đã qua tuổi mười lăm, nên sắm lễ cho con qua Minh Châu học cụ Chép Vàng.
Ngay ngày đầu, cụ Vường bắt thằng cháu nội đi chăn nghé.
Bạt trong bụng ức lắm! Nghĩ mình cũng đã lớn rồi, qua đây học võ chứ có phải chăn nghé như trẻ con đâu? Nhưng ông nội đã bảo thì cứ cố xem sao? Ắt ông lại rèn như bố đây?
Suốt một tuần ông nội cứ lờ đi, chẳng đếm xỉa gì đến việc dạy võ cho thằng cháu. Bạt chẳng dám hé răng hỏi, vì ông nội có tiếng rất nghiêm.
Bữa cơm, ông nội hỏi Bạt:
- Cháu ăn được mấy bát?
- Thưa ông, sáu bảy bát ạ - Bạt trả lời.
- Ăn thêm nữa được không?
- Dạ được… Nhưng… - Bạt vừa nói vừa nhìn nồi cơm…
Cụ Vường bảo vợ chồng con cả - tức bác của Bạt:
- Mai nấu thêm cơm cho cháu ăn. Nó đang sức ăn sức lớn.
Rồi chẳng nói thêm gì cả, lạ thật?
Một chiều, cụ Vường ra đồng, thấy Bạt đang một mình tập nhẩy lộn qua lưng con nghé, liền bảo:
- Nghe nói cháu khỏe, giờ cũng quen với con nghé này rồi, vậy cháu thử vật với nó xem sao?
Bạt vâng lời, vít ngay cổ nghé xuống. Con nghé đang sức lớn dễ gì chịu thua? Nó dạng chân cố cưỡng lại. Bạt hăng tiết, càng ra sức vật…
Cuối cùng Bạt cũng vật đổ được nghé ngã lăn kềnh! Mình mẩy Bạt ướt đẫm mồ hôi nhưng cậu hãnh diện lắm!
Không ngờ cụ Vường chê:
- Cháu mười sáu tuổi rồi - như con nghé mới lớn này. Cháu vật ngã nó đấy, nhưng nó có vật lại cháu đâu?  Nếu nó biết vật, cháu sẽ thua ngay. Cứ chơi với nó đi, tập cho nó vật với, khi nó thành trâu thì ông sẽ dạy võ cho.
Bạt ngơ ngác nhưng rồi hiểu ý ông. Từ đó ngày nào cậu cũng ra sức vật với nghé. Càng ngày càng phát hiện nhiều chiêu thế mới, càng khỏe, càng tinh.
Cụ Vường còn bắt Bạt gánh nước biển - mà phải lội ra xa hằng trăm thước để lấy nước biển sạch, đem đổ vào sân phơi muối gần nhà, rộng cả sào ta.
Có ngày Bạt gánh cả trăm gánh, tối mịt mới xong, nhưng nhờ thế đôi chân Bạt cứng cáp, tấn trụ dẻo dai.
Hai năm sau, khi Bạt mười tám tuổi thì đã vật đổ được trâu mạnh chỉ trong dăm ba phút. Riêng con trâu Bạt chăn quen thì phải lâu hơn, vì nó biết cách chống đỡ với chủ qua nhiều keo vật. Khi Bạt vừa nắm sừng là nó cũng sẵn sàng nghênh tiếp…
Bạt thích vật với con Đực này hơn, và hình như Đực cũng thích đùa với cậu chủ vui tính, tuy luôn làm nó bực mình nhưng vô hại. Với cậu Bạt, nhiều lúc nó được ăn no, ăn ngon. Có con trâu nào được chủ cho ăn cả thúng cám đâu? Chắc cậu vừa xúc trộm của ông nội đây?…
Có lần cậu còn cho nó uống cả thứ nước gì cay cay nữa chứ! Thật thú vị! Thế mới hăng!
Bạt có sức vóc, nhanh nhẹn, nhất là có khiếu, nên học võ nhanh lắm. Học một năm bằng người khác học mấy năm. Dần dần vượt cả những anh học trước.
Khi Bạt đã làu thông quyền cước, sử dụng được các món binh khí, thì cụ Vường mới gọi cháu lại, hỏi:
- Ba năm ở với ông, cháu học được gì?
Bạt khiêm tốn:
- Thưa ông, mới chỉ chút ít…
- Ừ, thế thì phải học thêm.
Nói thế nhưng cụ chẳng dạy thêm gì cả. Bạt ngẫm nghĩ mãi, song chẳng dám hỏi, chỉ chú ý quan sát ông nội ra đòn và luyện tập. Ngày ngày Bạt ôn luyện siêng năng.
Năm sau, ông nội lại hỏi:
- Cháu học đến đâu rồi?
Bạt thưa:
- Con đang luyện thêm…
- Ôn luyện xong chưa?
- Dạ chưa…
- Thế thì cứ luyện.
Bạt vâng lời. Vẫn chẳng thấy ông nội dạy thêm đòn mới. Bạt đành vừa ôn luyện vừa tự chế đòn…
Năm ấy, ông Tổng Ấp lên xin cho con về lấy vợ. Bạt không chịu, quyết học xong mới về. Cụ Vường mỉm cười gật gù, nhưng vẫn không ý kiến gì.
Cuối năm, cụ Vường kêu Bạt lại hỏi:
- Cháu còn luyện nữa không?
- Thưa vẫn còn ạ.
- Ừ. Văn ôn võ luyện.
Trầm ngâm một lúc, cụ lại hỏi:
- Thế có gì mới không?
- Bẩm… mới chỉ chút ít thôi ạ…
- Chút ít là những gì? Thử một chút ông coi?
- Thưa ông con không dám. Mới chỉ vài đường…
Cụ Vường lần này cười gật gù:
- Ừ ừ! Tốt lắm! Hiểu được thế mới là học. Đường là Đạo - Đạo thăm thẳm con ạ! Cố mà tìm hiểu ra phía ngoài, rồi nhớ thu về. Võ học rộng lớn lắm! Giữ lấy cái Tâm.
Bạt đang ngẫm nghĩ, lắng nghe những lời lẽ cao siêu thâm thúy… thì bất ngờ cụ Vường xỉa nhanh chiếc xe điếu đang cầm trên tay vào yết hầu Bạt…
Bạt hoảng hốt  ngửa người tránh, nhưng mũi điếu chỉ điểm nhẹ vào cổ… Cụ Vường mỉm cười lắc đầu, rút xe điếu về, ung dung hút thuốc lào.
Bạt lui ra, lòng hồi hộp phân vân…
Chiều hôm ấy, Bạt đang rót nước ra chén, chưa kịp uống thì cụ Vường  lại vụt xe điếu… Lần này Bạt đã đề phòng nên tránh được, tay vẫn cầm ly nước sóng sánh chứ không đổ.
Cụ Vường chỉ mỉm cười.
Từ hôm đó, cụ Vường luôn tập kích bất ngờ, lúc thì từ trên nóc nhà bay xuống như diều hâu chộp một quyền, lúc phang một đá, có khi phóng luôn cái gối gỗ đang kê đầu vào người Bạt.
Hầu hết Bạt đều tránh được. Nhiều lần như thế nên đâm ra lúc nào Bạt cũng cảnh giác, các giác quan căng ra tinh nhậy. Bạt hiểu ông nội đang tập cho mình sự phản xạ nhanh.
Cho đến một sáng tinh mơ, Bạt đang lúi húi rửa bình trà và tách chén ngoài giếng, thì cụ Vường chắp tay sau lưng đủng đỉnh bước ra, cụ thong thả vươn tay hái bông ngâu để ướp trà như mọi hôm… Bỗng bất ngờ xoay người phóng một cước rất hiểm vào cổ Bạt.
Bạt nghe tiếng gió, lập tức lộn người tránh được.
Cụ Vường như con chim cắt lao theo, xỉa luôn năm ngón tay vào cổ cháu, Bạt cũng nghiêng người tránh trong gang tấc, cụ Vường hét lên một tiếng rồi ném cả nắm bông ngâu vào lòng Bạt. Những bông ngâu mỏng manh thế mà bay nhanh như sao xẹt. Bạt vừa tránh vừa bắt được hai bông…
Lúc ấy cụ Vường mới dừng lại, gật đầu khen:
- Giỏi! Kẻ bị tấn công tránh được ba đòn liên tiếp mà không đánh trả lại, thì người công khó bề thắng được.
Hôm sau, cụ Vường gọi Bạt lại, bảo:
- Con chuẩn bị về. Trai lớn cũng phải yên bề gia thất.
Rồi trịnh trọng trao cho Bạt một thanh đại đao, nước thép đen ánh và  rất nặng. Cụ nói:
- Đây là kỷ vật. Đao này nguyên của tướng giặc Mang Cá khi xưa bị ta phục kích chém chết. Con cầm dùng cho vừa tay. Binh khí lành hay dữ là do người sử dụng”.
Chính từ những bài học đầu tiên do ông nội và cũng là người thầy tài năng rèn dạy, về sau Bạt trở thành người có tài có đức, võ nghệ phi thường. Ông liên tiếp giật nhiều giải đô vật và quyền cước, được dân làng yêu mến đề nghị quan trên cử ông làm chức Quản Lộ(1

BẪY TÌNH *


Truyện  ngắn

Sáng nào, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Đại Phát cũng cưởi xe máy một vòng quanh công trình xây dựng rồi vào Tổ Đình thắp nhang, kính cẩn hướng mặt lên đỉnh núi Ngũ Hành, nơi đặt bức tượng Phật Bà Quan Âm đọc một đoạn chú Đại Bi xin ban phước lành, sau đó mới trở về văn phòng. Nói văn phòng cho sang, chứ thực ra chỉ là tầng trệt một ngôi nhà nhỏ hai tầng, kê mấy chiếc bàn tròn, vài chiếc tủ - vừa là phòng làm việc, phòng tiếp khách và phòng ăn... ngổn ngang những mẫu thiết kế, mẫu vật liệu xây dựng, tranh ảnh sách báo, nhìn giản dị tuềnh toàng như chủ nhân của chúng. Văn phòng không có người thường trực, cửa mở toang, lúc nào cũng khách khứa ra vào nườm nượp. Ở đây Tổng giám đốc Phi đã tiếp đón thân mật hàng ngàn lượt khách trong và ngoài nước, từ cao sang đến bình dân, có những người nghe tiếng đồn về tài đức và công trình xây dựng hoành tráng ở đây cũng tò mò muốn đến để được thấy mặt ông chủ Phi một lần cho biết. Gần 10 năm rồi, mọi người ở đây luôn vui vẻ hòa đồng, dồn tâm sức cùng Tổng giám đốc Phi xây dựng công trình du lịch văn hóa mang tầm vóc Đông Nam Á làm rạng danh đất nước.
Công trình sắp hoàn thành thì xuất hiện một vị khách đặc biệt, và chuyện bắt đầu từ đó.

Hôm ấy là một ngày cuối thu, trời trong mát, đàn chim yến về đông hơn, ríu rít bay lượn trên đỉnh núi Ngũ Hành. Phi đọc Chú Đại Bi xong, ông còn ngắm đàn chim yến hồi lâu rồi mới về văn phòng. Ở đó đã có mấy vị khách bạn thân của Phi đợi sẵn. Phi cùng anh em đang uống cà-phê hút thuốc tán chuyện thì một chiếc Toyota Luxus màu đỏ tươi xuất hiện ngoài cửa, một phụ nữ mặc bộ đầm đen, đội mũ đỏ rộng vành bước vào cùng một người đàn ông và một phụ nữ cao, gầy. Người phụ nữ mặc đầm đen tươi cười chào mọi người, rồi tự giới thiệu:
- Em là Hà-Việt kiều Canada, mọi người quen gọi Hà-Canada! - Người đẹp vẫn cười tươi, chỉ qua hai người cùng đi, giới thiệu tiếp: Đây là anh Thịnh - anh rể em, còn đây là chị gái em...
Chủ, khách ngồi quanh chiếc bàn tròn uống cà phê, bỏ qua những lời rào đón khách khí bởi sự tự tin và thân thiện nhanh chóng của Hà. Cô nói Công ty Thiên An của cô hiện có mấy trăm héc-ta cao su từ 3 đến 5 tuổi ở biên giới Campuchia, muốn bán cho Công ty Đại Phát với giá 300 triệu/một héc-ta.
Không hiểu nhờ đâu mà vị nữ khách Việt kiều xinh đẹp này có tới mấy trăm héc-ta cao su, và lại biết Công ty Đại Phát đang cần mua mà đến đây chào bán với giá khá hấp dẫn như vậy? Tổng giám đốc Phi với cái đầu lạnh và kinh nghiệm lọc lõi trên thương trường, ông không tỏ ra vồn vập săn đón, chậm rãi nhả khói thuốc, lắc lắc cái đầu tóc bạc sớm, lửng lơ phán một câu lạnh tanh:
- Bây giờ mọi người đổ xô trồng cao su, nay mai lại chặt cao su trồng điều cho mà coi!
Mọi người gật gù tỏ ý tán đồng lời tiên đoán của Phi. Nữ Việt kiều vẫn cười tươi, cặp mắt sắc lẻm long lanh nhìn Phi:
 - Sếp chặt của ai thì chặt, chớ đừng chặt của em nghe sếp, nó đang mơn mởn tươi tốt lắm đó sếp à.
Mọi người cười rộ vì câu nói hồn nhiên tinh nghịch đầy hàm ý của nữ khách xinh đẹp. Hà nhanh nhẩu đứng dậy rót nước mời mọi người, với động tác rất uyển chuyển duyên dáng, khoe những đường cong hấp dẫn trên thân thể.
Chuyện mua bán đất đai cao su chỉ gợi mở như vậy, nhưng mọi người vẫn nấn ná ngồi lại vì không khí vui vẻ, tươi mát mà nữ khách Việt kiều vừa mang đến. Ông bạn của Tổng giám đốc Phi làm ở Đài truyền hình cứ dán mắt vào người đẹp, cất giọng săn đón:
- Em đẹp và thông minh vậy phải làm MC mới đúng. Có cần anh lăng-xê lên ti vi không?
Hà chớp cặp mắt to đen láy, hỏi lại:
- Em đẹp thiệt hả anh?
Rồi nét mặt đang tươi chợt thoáng buồn, cô bộc bạch tâm sự:
- Em lấy chồng người Hoa năm em 18 tuổi, em theo chồng sang định cư ở Canada, sống với nhau rất hạnh phúc và có một đứa con trai. Không may, chồng em bị tai nạn ô tô chết queo, để lại số tài sản trị giá 16 triệu đô la Mỹ. Bà mẹ chồng không muốn tài sản của con trai vừa mất lọt vào tay người ngoài, nên ép em lấy đứa em chồng, em không chịu. Một đêm, em đang ngủ say thì thằng em chồng chết dẫm cạy cửa đột nhập vào định cưỡng hiếp em. Em đã chống cự quyết liệt mới thoát khỏi cái gia đình tính toán loạn luân đó, rồi đưa con về Việt Nam. Với số tiền chồng em để lại, em đầu tư vào bất động sản, cùng anh rể và chị gái mở Công ty Thiên An…”.
Hà kể chuyện rất tự nhiên và chân tình, những giọt nước mắt lăn trên má cô khiến người nghe xúc động. Ông anh rể và chị gái Hà cũng mau nước mắt. Thật tài tình, như muốn xóa đi câu chuyện bi thương, Hà xoay ngang kể một chuyện tiếu lâm bằng giọng ráo hoảnh. Tiếng cười khanh khách của cô thật hồn nhiên. Tổng giám đốc Phi cũng là tay mê tiếu lâm và kể chuyện tiếu có duyên, ông liền góp một câu chuyện về “bác Ba Phi”. Hà-Canada nghe xong cười ngặt nghẽo rồi bất ngờ tặng Phi một nụ hôn rất Tây…
Hà và anh chị của cô được dẫn đi thăm công trình văn hóa du lịch của Công ty Đại Phát. Cô hết lời khen ngợi công trình xây dựng tầm vóc quốc tế, sau đó cô bỗng nảy ra sáng kiến muốn thuê mặt bằng trong khuôn viên này để mở Siêu thị Thời trang cao cấp. Sáng kiến của Hà rất trùng hợp với ý muốn của Phi, vì công trình chưa xây xong mà đã có người thuê mặt bằng mở siêu thị thì còn gì bằng. Thế là một hợp đồng được ký nhanh gọn.
Ngay hôm sau, Hà cùng chị gái và anh rể dùng xe Luxus chở 4 tỷ đồng từ Sài Gòn xuống đặt cọc cho Công ty Đại Phát, khiến cả công ty và gia đình ông Phi đều phấn khởi. Nhiều người mới hôm qua còn nghi ngại, nay cứ trố mắt ngạc nhiên: “Làm ăn với Việt kiều có khác...”.
Hà chủ động mời gia đình ông chủ Công ty Đại Phát đến nhà hàng Lương Sơn Quán dự bữa cơm thân mật. Trong bữa ăn Hà nói với con trai lớn ông Phi mới học ở nước ngoài về, được bố mẹ giao cho làm Giám đốc một công ty:
- Cô có 16 triệu đô la Mỹ, cô không quen kinh doanh nên toàn bị bắt nạt. Bọn họ hết vòi tiền lại vòi tình! Giờ cô giao cho con toàn bộ số tiền đó để hợp tác kinh doanh!
Anh Giám đốc trẻ ngạc nhiên, thật thà hỏi:
- Cô tin con vậy sao?
Hà chớp cặp mắt to nhìn ông Phi ngồi cạnh và nói:
- Từ Canada cô đã nghe người ta nói nhiều về tài năng và uy tín của bố cháu. Về đây cô thấy không sai. Vì thế cô tin tưởng quyết định đầu tư lâu dài vào Công ty Đại Phát của gia đình cháu.
Anh Giám đốc trẻ thấy bố cười vui, liền gật đầu nói với Hà:
- Được cô tin tưởng cháu sẽ cố gắng.
Nữ doanh nhân Việt kiều cười khuyến khích:
- Cháu đừng ngại, giao tiền cho cháu dù có lỗ cô cũng không buồn.
Thời gian trôi đi, anh giám đốc trẻ chẳng thấy bóng dáng một đồng đô la nào của cô Hà-Canada cả, cũng không nghe cô ta nhắc lại chuyện hợp tác kinh doanh đầy hấp dẫn hôm nào. Có lẽ ngượng vì lời hứa suông nên Hà-Canada thường lánh mặt anh. Ngược lại cô Hà thường xuyên gặp gỡ làm việc với Tổng giám đốc Phi để bàn bạc dự án xây dựng siêu thị, cô ta hết ở văn phòng lại ra công trường, có khi hai người phải về Sài Gòn để làm việc với kiến trúc sư. Như một sự bù trừ, mải lo dự án siêu thị của Hà-Canada nên ông Phi ít quan tâm hơn đến các công trình khác, phòng khách của ông từ đó cũng vắng bạn bè hơn. Giờ đây, giám đốc Phi mặc quần áo ủi phẳng phịu, thắt cà-vạt đàng hoàng, đầu chải bóng chứ không còn luộm thuộm như trước nữa, đặc biệt Phi còn xức dầu thơm - thứ mà trước đây ông rất ghét...
Nhiều người cảm nhận được sự thay đổi của Tổng giám đốc Phi, có người nói nhỏ với bà Phi:
  - Nè, coi chừng con nhỏ Việt kiều rinh mất chồng như chơi!
Bà Phi lắc đầu, cười đáp:
- Đừng nói nhảm! Ông ấy tu từ lâu rồi! Ngay cả người mẫu sáp vô còn không đổ nữa là.
Quả thật bà Phi tin chồng hơn cả bản thân mình. Đến nỗi, như người ta kể: Nếu ông Phi cầm cái sừng bò bảo là sừng tê giác, thì bà Phi cũng đinh ninh đó chính là sừng tê giác. Niềm tin ấy bắt nguồn từ những năm tháng Phi mới từ chiến trường Campuchia trở về, từ hai bàn tay trắng, vợ chồng gây dựng cơ sở chế biến hạt điều và đồ gỗ xuất khẩu, trải qua bao nhiêu thử thách thăng trầm mới có ngày nay. Nhất là lời thề giàu không đổi vợ, sang không đổi bạn của Phi lúc nào cũng văng vẳng bên tai bà. Thương chồng, khâm phục và tin chồng, bà Phi quên nghĩ đến bản thân mình, bà đã vắt kiệt sức lực để vừa chăm lo con cái, vừa báo hiếu cha mẹ hai bên, lại đứng mũi chịu sào một mảng kinh doanh quan trọng để dồn tiền cho ông Phi xây dựng công trình văn hóa Đại Phát. Ông Phi nói với bà:
- Công trình này để lại cho dân cho nước! Vợ chồng mình dù có phải bán căn nhà cuối cùng đi cũng phải hoàn thành.
Để thực hiện ý nguyện đó, mười năm qua ông Phi đã tu tâm, tu tính, trở thành một tấm gương sáng không chỉ cho gia đình mà cho nhiều người ở nhiều nơi soi vào.
Bởi vậy bà Phi không thể tin được Hà “rinh mất chồng mình” như người bạn nói. Cô ta khá xinh đẹp, thông minh nhưng bì sao được với những cô người mẫu, thậm chí hoa hậu mà có người đã từng chèo kéo môi giới cho Phi nhưng đều thất bại.
Ngoài ra bà Phi còn thấy Hà lúc nào cũng có anh rể và chị gái đi kèm, rồi mỗi lần đến công ty Hà đều gọi điện chuyện trò thân mật với bà. Bà Phi nghĩ: “Cô ta đã bỏ ra bốn tỷ đồng đặt cọc xây dựng siêu thị để thuê, nên phải bám theo giám đốc để hối thúc là phải rồi, người ta làm ăn phải vậy chớ!”.

Một hôm, một bà bạn thân có con làm công an đến chơi nói cho bà Phi biết: Hà-Canada đang bị chính chị gái của cô ta tố cáo tội lừa đảo. Chuyện thật mà như đùa: Hà đưa cho chị gái mượn đôi bông tai để đi dự đám cưới, hôm sau ả đòi lại và la toáng lên là đôi bông giả, rồi Hà vu cho chị gái đánh tráo đôi bông kim cương của mình và bắt phải bồi thường 8.000 đô la Mỹ...
Bà Phi nghe xong, hỏi bạn:
- Có thiệt Hà-Canada như vậy không?...
Bà bạn cười:
- Canada gì? Con ma thì có! Khôn hồn thì bà kéo ông Phi ra kẻo con ma ấy nó dìm chết có ngày.
Sau đó, bà Phi choáng váng khi nghe người bạn thân ấy kể:
- Hà-Canada chỉ là tên giả, tên thật của ả là Nguyễn Thị Thanh Tùng, tức “Tùng nổ”, chưa từng sống ở Canada ngày nào, mà quê gốc ở miền Tây, hiện thường trú tại Quận Tân Bình, TP.HCM. Năm 13 tuổi, Tùng đang học lớp 8 thì bố chết, mẹ lấy chồng khác, Tùng bỏ nhà đi bụi. Hai năm sau Tùng quay về, người phổng phao, nói năng bặm trợn. Rồi thật trớ trêu! Tùng trở thành người tình chồng sau của mẹ đẻ mình. Thế là mẹ con trở thành tình địch. Mẹ Tùng mắc cỡ phải bỏ đi, nhường chồng cho con gái. Nhưng Tùng đâu có yêu thương gì người đàn ông này, ả chỉ moi tiền để xài xả láng, nên khi ông này cạn túi, Tùng đá phắt để cặp với Thắng “bệu”. Gia đình Thắng bệu có cửa hàng ở chợ Trần Hữu Trang, Thắng là con một được chiều chuộng, thả sức ăn chơi, trở thành con nghiện ma túy, làm tiêu tan sự nghiệp của bố mẹ. Lập tức Tùng bỏ Thắng bệu theo Ba Giàu - một trong những đệ tử của trùm xã hội đen Năm Cam, được Năm Cam phân công chăm sóc một sòng bạc chui ở Phú Nhuận. Mồng hai Tết năm ấy, Giàu dẫn Tùng đến chúc Tết đại ca Năm Cam, Tùng trang điểm lộng lẫy, nói năng duyên dáng khiến Năm Cam mê tít. Tùng trở thành người tình của Năm Cam, Ba Giàu nổi máu ghen xáng Tùng mấy bạt tai. Ả méc với đại ca, Năm Cam nhích mép cười. Mấy ngày sau sòng bạc của Ba Giàu bị công an tóm gọn, Ba Giàu bị bắt đi cải tạo, Tùng công khai ăn ở với Năm Cam, được bọn đàn em tung hô là “đệ nhị phu nhân”, Tùng hách dịch tự xưng “Chị Năm”, không tiếc lời quở trách, hứa hẹn này nọ, cái biệt danh “Tùng nổ” nổi đình nổi đám trong giới giang hồ từ đó.
Số phận Năm Cam bị kết liễu, “Tùng nổ” ẩn mình một thời gian rồi cặp với Ba Đà, một tay buôn lậu phụ tùng xe máy và cho vay nặng lãi. Ít lâu sau, “Tùng nổ” bỏ Ba Đà cặp với một đại gia nặng túi hơn, là Chủ tịch HĐQT một Ngân hàng Cổ phần Thương mại. Nghe nói Tùng về miền Tây, xin bùa ngải cho ông chủ ngân hàng này uống, khiến ông mê mẩn bỏ hết công việc để bám theo Tùng, và đã ký tặng ả những tấm sec bạc tỷ.
Ông chủ ngân hàng này còn dẫn “Tùng nổ” đi nước ngoài, mua tặng bông tai dây chuyền kim cương cho ả trang điểm lộng lẫy như bà hoàng.  Vậy mà “Tùng nổ” vẫn chưa đã, ả còn bày mưu cho mấy đệ tử cũ của Năm Cam bắt cóc con ông chủ ngân hàng để đòi tiền chuộc. Việc không thành vì bị công an phát hiện ngăn chặn kịp thời, “Tùng nổ” lẫn trốn một thời gian rồi lại ngựa quen đường cũ lần mò tìm về ông chủ ngân hàng dại gái kia. Ông này mê muội không thoát khỏi cám dỗ, tha thứ cho Tùng và nối lại tình cũ.
Khuyên can không được, vợ con ông chủ ngân hàng đã phải dằn mặt “Tùng nổ” bằng một trận đòn nhừ tử ngay tại một khách sạn 5 sao, khiến “Tùng nổ” phải đi Hàn Quốc để giải phẫu, tân trang lại sắc đẹp, sau đó dạt về quê cũ miền Tây. Tại đây Tùng làm quen và yêu say đắm Út Thịnh, một thanh niên trẻ khỏe được học hành tử tế. Út Thịnh không hề biết quá khứ của người yêu nên yêu ả thực lòng, và đăng ký giấy hôn thú, tổ chức cưới hỏi đàng hoàng.
Khi đã có một đứa con, Út Thịnh mới biết sự thật về vợ, anh chàng vùng vẫy muốn thoát ra, nhưng đứa con và tiền bạc bây giờ như sợi dây trói chặt anh ta lại với “Tùng nổ”. Thế rồi từ nạn nhân, anh ta biến thành kẻ đồng lõa, để “Tùng nổ” lợi dụng sai khiến đi tống tình lường gạt làm giàu. Hàng chục đấng mày râu đã bị sập bẫy, trong đó có cả những quan chức quyền thế, như chuyện ông Hai Nhỏ mà giới cò đất Quận 2 vẫn bàn tán rôm rả.
Dạo ấy giá bất động sản đang rất nóng, mỗi mét vuông trong khu đô thị mới lên đến vài chục triệu đồng và cứ nhảy ton tót mỗi ngày như hàng thứ biểu nhúng vào nước sôi, khiến người ta đổ xô đi kinh doanh nhà đất, đặc biệt là kinh doanh phiếu nền nhà khu đô thị mới. “Tùng nổ” lăn lộn trong đám cò đất biết Hai Nhỏ là một cán bộ rất có quyền hành đối với các nhà đầu tư dự án đô thị mới, tính ông này lại rất háu gái, thế là ả vạch kế hoạch lợi dụng.
Trong một tiệc rượu ở khách sạn Ma-jes-tic, đông đảo thực khác gồm các nhà đầu tư bất động sản và một số quan chức, người ta thấy xuất hiện một phụ nữ xinh đẹp, sang trọng, ngồi cạnh Hai Nhỏ. Đó chính là “Tùng nổ”. Ả đã thuê sẵn một phòng ở khách sạn này và trà trộn vào bữa tiệc như một thực khách. Chẳng ai dám kiểm tra tư cách một phụ nữ xinh đẹp và sang trọng trong một bữa tiệc xã giao như vậy, “Tùng nổ” chọn chỗ ngồi đúng cạnh Hai Nhỏ, chủ động bắt chuyện với vị tham quan háo sắc.
Khi bữa tiệc sắp tàn, người đẹp mời Hai Nhỏ ra hành lang nói chuyện riêng. Hai người trò chuyện say sưa, tiệc tàn chuyện vẫn chưa dứt. Người đẹp tống tình đầu mày cuối mắt, bộ ngực căng cứng phập phồng khiêu khích, cứ áp sát vào người vị quan tham sấp xỉ tuổi lục tuần. Ngay đêm ấy, “Tùng nổ” trở thành tình nhân của hai Nhỏ.
Hai Nhỏ như trẻ lại với cuộc tình bất ngờ. “Tùng nổ” thuê riêng một phòng VIP khách sạn Caraven để hưởng tuần trăng mật với Hai Nhỏ. Sau đó, một buổi sáng, Hai Nhỏ đang dự một cuộc họp thì bỗng nhớ người tình cồn cào, bèn kiếm cách về trước. Ông ta hăm hở mở cửa phòng VIP, và choáng váng khi thấy người tình đang làm tình với một gã da đen. “Nữ doanh nhân” bị bắt gặp quả tang mặt vẫn tỉnh bơ, còn gã da đen nhe hàm răng trắng ởn cười khanh khách. Hai Nhỏ điên tiết, muốn hất “Tùng nổ” đi, “Tùng nổ” thẳng thừng đe dọa:
- Nè, anh Hai, anh ngủ với em bao nhiêu lần đều có quay phim chụp hình hết đó nghe. Anh mà phản em thì lãnh đủ đó.
Thế là vị quan tham này đành ngậm bồ hòn làm ngọt, làm theo yêu cầu của “Tùng nổ”, đóng vai anh trai, dẫn em gái Việt kiều đến các chủ đầu tư, ép họ phân phối phiếu tái định cư cho ả. Qua phi vụ này, “Tùng nổ” kiếm gần chục tỷ tiền chênh lệch bán nền nhà khu đô thị mới.
Ả quyết định đầu tư vào cây cao su để rửa tiền và đưa hai thằng con riêng với Thắng bệu đi cai nghiện. Vợ chồng “Tùng nổ” mua được mấy chục mẫu đất không có giấy tờ ở biên giới, thuê người trồng cao su, rồi tìm đến Ba Hoành - một ông quan to nhất nhì địa phương nhờ hợp thức hóa. Ba Hoành lúc đầu không chịu giúp, nhưng sau bị “Tùng nổ”cho sập bẫy tình giống như Hai Nhỏ, ông ta phải ký tuốt sổ đỏ cho ả. Sau vụ này mà Ba Hoành mất chức, gia đình xào xáo nát tan. Còn “Tùng nổ” lại đường xưa lối cũ quay về thành phố tìm đối tác khác để đầu tư bằng nguồn vốn tự có. “Tùng nổ” đã cặp với Sáu Bé một thời gian, nhưng thấy tay giám đốc doanh nghiệp nhà nước này làm ăn thua lỗ đang bị thanh tra nên ả lặng lẽ rút dù...

Bà Phi sợ tái mặt khi nghe người bạn công an cho biết nhân thân thực của Hà-Canada như vậy. Tuy nhiên bà vẫn tin chồng mình không giống mấy thằng cha mắc dịch kia. Giữa lúc đó bà Phi bị bệnh phải sang Singapore điều trị mấy tháng liền.
Khi bà Phi trở về, thì quả như người bạn đã cảnh báo trước: “Tùng nổ” đã rinh phần hồn lẫn phần xác ông Phi mất rồi. Bây giờ bà Phi mới ân hận, tự trách mình, thì đã muộn!
Do bận làm ăn, sức khỏe lại yếu... và quá tin vào bản lĩnh của chồng nên bà Phi không cảnh giác với “Tùng nổ”. Mà đâu chỉ riêng bà Phi, nhiều người trong công ty cũng không ngờ một nữ doanh nhân Việt kiều kịch lãm, trang sức vàng ngọc đầy người, một lúc bỏ ra hàng tỷ bạc đầu tư không hề đắn đo lại là một ả điếm hạng sang chuyên lừa đảo? Thực ra “Tùng nổ” nhắm Tổng giám đốc Phi từ lâu rồi. Trước khi sáp vô Phi, ả đã nắm chắc những yếu điểm của đại gia này: Ít học nhưng luôn tỏ ra hiểu biết hơn người, nhiều tham vọng và hiếu thắng. Nhờ thời thế và tài năng bẩm sinh, Phi thành đạt rất nhanh, trở thành một đại gia được mọi người nể, uy tín được đề cao, như một ngôi sao sáng trên vòm trời đầy sao thời đổi mới. Bởi thành đạt quá nhanh, còn vượt qua cả sự tưởng tượng của mình, Phi cứ nghĩ rằng mình là con người khác thường, được thần thánh phù trợ. Đôi khi bốc đồng, Phi còn khoe ngăn được mưa cản được bão và thấu hiểu được điềm trời! Được đề cao và tự đề cao mình như thế nên Phi phải tu, cố ép mình để giữ danh tiếng. Dù có lúc sôi sục ham muốn vẫn phải cố kiềm chế, như cái lò xo bị hãm chốt vậy. Cái hôn “Tùng nổ” bất ngờ đặt vào má Phi lần gặp đầu tiên đâu phải ả vô tình, mà là để ướm thử xem có mở được cái “chốt hãm” của Phi không? Ả còn nhớ, khi ả đến gặp Ba Hoành xin sổ đỏ đất cao su, nhìn khuôn mặt nghiêm nghị sắt đá của ông quan to nhất nhì địa phương còn lạnh lùng gấp mấy lần Phi. Ấy thế mà khi ả chủ động cầm tay Ba Hoành áp vào bộ ngực nóng hổi của mình, thì khuôn mặt sắt đá của vị quan kia thuỗn ra, rồi mềm nhũn úp vào ngực ả như đứa trẻ đòi bú mớm. Vì vậy, sau cú hôn thử Phi, “Tùng nổ” nhận ra ngay là Phi cũng chả khác Ba Hoành mấy. Khác chăng là ngoài mê tửu sắc Phi còn rất mê tín. Bởi thế “Tùng nổ” đã rót vào tai Phi:
- Anh làm việc lớn mà không có người chia sẻ nên già trước tuổi đó. Địa Mẫu phái em đến với anh, em hứa sẽ làm anh trẻ lại mười tuổi!
- Thiệt không?
- Dạ, em đã thề trước Địa Mẫu: Nếu không giúp được anh, em xin chết liền!
“Tùng nổ” chết sao được vì ả không thiếu những loại thuốc chế suất từ hà thủ ô, nhân sâm, và những biệt dược kích thích phóc-môn làm mướt da, xanh tóc? Ả còn quỷ quyệt biến những thứ đó thành bùa phép của Địa Mẫu ban cho Phi qua tay ả, và quả nhiên có linh nghiệm, Phi thấy mình trẻ lại. Ông ta phấn chấn ra mặt, gặp ai cũng cười tươi và lấy tay dẽ mái tóc khoe những sợi tóc bạc biến mất. Có người không tiếc lời nịnh Phi:
- Nhìn ông trẻ lại hơn chục tuổi, phong độ hơn thanh niên! Uống thuốc gì hay dữ vậy?
Phi hấp háy mắt chỉ tay lên trời, ý nói nhờ ơn trên chứ đâu phải thuốc thang.

“Tùng nổ” quen một lão tự xưng là nhà thơ, nhà tâm lý, nhà triết học kiêm thầy bói, sống độc thân ở góc đường Yên Đỗ, TP.Hồ Chí Minh. Ả tôn lão ta lên làm sư phụ, rồi hỏi:
- Muốn anh Phi tin tuyệt đối vào Địa Mẫu thì phải làm sao hở sư phụ?
- Phải có cơ. - Sư phụ đáp.
- Cơ là gì?
- Là những điều Địa Mẫu ban xuống bằng thơ.
“Tùng nổ” chưa hiểu, lão sư phụ nhấp nháy mắt sau tròng kính, giảng giải:
- Muốn có cơ phải cầu công phu lắm. Nhưng nếu cô cần thì tôi giúp.
“Tùng nổ” kể cho sự phụ nghe tỉ mỉ quá khứ và hiện tại của Phi, để sư phụ “cầu” cơ hợp cảnh hợp tình.
Lão nhà thơ dỏm kiêm thầy bói liền cóp nhặt những câu thơ, câu đồng dao, và sáng tác những bài thơ lục bát đậm mầu sắc tâm linh cho “Tùng nổ”. “Tùng nổ” học thuộc lòng những câu cơ đó, rồi chờ những đêm nằm cạnh Phi, ả làm như bừng tỉnh giấc, bảo Địa Mẫu vừa hiển linh giáng cơ, rồi đọc làu làu cho Phi chép.
“Tùng nổ” thoắt vui thoắt buồn, thả những giọt nước mắt lăn trên gương mặt mình nhìn đầy vẽ thánh thiện, như Địa Mẫu nhập thế thật khiến Phi mê mẩn. Rồi dưới ánh đèn mầu phòng ngủ, sự mê mẩn tâm linh chuyển sang mê mẩn sắc dục. Bao năm qua Phi đi tu như một khổ nhục kế để giữ uy thế, giữ danh và của cải, giờ được dịp bung ra dữ dội như cái lò xo bị nén chặt bỗng bật chốt...
Lăn lộn trong đám bụi bặm giang hồ từ năm 13 tuổi, từng chinh phục từ trùm xã hội đen Năm Cam đến những quan chức cỡ bự như Hai Nhỏ, Ba Hoành... “Tùng nổ” quá dư kinh nghiệm để chinh phục Phi. Ả dùng Cơ Địa Mẫu để mê muội phần hồn, dùng thuốc kích dục để mê muội phần xác, Phi như con thiêu thân lao vào ngọn lửa.
“Tùng nổ” đắc chí tự nhủ: 39 tuổi đời, 26 năm lăn lóc giang hồ, đây là lần thành công nhất của mình. Ả đã biến một đại gia từng được coi là kỳ nhân, từng được người dân tín nhiệm gửi gắm niềm tin... Thoát chốc trở thành một gã hề ngông, một con rối, tha hồ cho ả giật dây kiếm lợi.
Giữa lúc thị trường bất động sản đang sôi động, một mét vuông đất nền khu đô thị mới của Công ty Đại Phát bán 300 đô-la người ta vẫn giành nhau mua, mấy bạn thân của Phi làm đơn xin phân phối cho mỗi người một nền cũng không được. Thì ngay lúc đó “Tùng nổ” đưa người tới, giới thiệu là con một ông tướng, ép Phi bán giá hữu nghị. Cả công ty bàng hoàng sửng sốt khi Phi gật đầu duyệt bán 20.000m2, giá hữu nghị 90 đô-la một mét. Con “ông tướng” đưa phiếu đất cho cò sang tay lập tức, kiếm lời mỗi mét vuông 200 đô-la, “Tùng nổ” được chia 100 đô-la, loáng cái ả ẵm gọn hai triệu đô...
Những héc-ta cao su trên biên giới mà hồi đầu “Tùng nổ” đóng vai “Hà-Canada” chào bán cho Công ty Đại Phát (bây giờ do Út Thịnh - chồng “Tùng nổ” quản lý), nhưng ả thủ thỉ với Phi: “Sáu trăm héc-ta cao su đó của em cũng là của anh - như anh với em cùng một cơ thể Địa Mẫu ban cho. Anh là xương em là thịt, rời nhau ra là chết”. Nghe lời “Tùng nổ”, Phi ký lệnh xuất từng tỷ, từng tỷ tiền mặt cho xe chở lên biên giới, Út Thịnh dùng ít tiền, thuê người chăm bón cao su, số còn lại đưa về nhập vào tài khoản của vợ.
Ngày Quốc tế Thiếu nhi, “Tùng nổ” khuyên Phi đi làm từ thiện ở một Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết để lấy phước. Phi gật đầu, “Tùng nổ” lên dự toán: Trung tâm có 300 em, cho mỗi em một triệu, 50 triệu cho nhân viên trại, vị chi là 350 triệu đồng. Phi gật ký tên đánh roạch, rồi bảo người tình thay mặt mình đi làm từ thiện. “Tùng nổ” ôm tiền cùng cô thư ký lên đường gấp. Sau đó Tùng quay về với những tấm hình ả thắm thiết ôm hôn trẻ khuyết tật, khiến ai cũng tưởng lầm... Ai ngờ sau đó cô thư ký tiết lộ: “Số tiền 350 triệu mang đi làm từ thiện, Tùng chỉ cho các cháu 10 triệu, cho nhân viên trại 5 triệu, còn 335 triệu ả bắt nhập vào tài khoản của mình ở ngân hàng”. “Tùng nổ” biết điên tiết đuổi việc tắp lự cô thư ký, và khi cô gái tội nghiệp ấy trên đường về quê miền Tây, còn bị ả cho đàn em đuổi theo rạch mặt cô vì tội phản bội…
“Tùng nổ” nói với Phi:
- Người ta khinh anh ít học, có kẻ còn gọi anh là trọc phú, sao anh không chửi vào mặt chúng nó?
- Kệ người ta! Mà em nói chửi là chửi thế nào?
- Hàng trăm bài thơ của anh đều là tuyệt tác. Anh nên in và phát hành cho mọi người đọc, thì còn đứa nào dám mở miệng bảo anh trọc phú?
Nghe người tình nói có lý, vả lại bản thân vốn thích nổi danh, Phi liền cho in hàng trăm bài thơ, câu đối, câu sấm đậm màu sắc  tâm linh mà “Tùng nổ” mua của lão nhà thơ bịp bợm ở góc đường Yên Đỗ để mọi người chiêm ngưỡng. Phi còn cao hứng thuê phổ nhạc những bài thơ tâm linh đó, phát lên loa ra rả suốt ngày đêm. Thế là một doanh nhân dốt đặc thơ ca như Phi bỗng biến thành thi sĩ, nhạc sĩ, lúc nào cũng mơ mơ màng màng, tuyên bố huênh hoang:
- Tôi thách cả nước này, nhà thơ nào mà làm được thơ như tôi, tôi quỳ lại suốt đời.
Nhân dịp mừng thọ mẹ, Phi tổ chức bữa tiệc ngoài trời, mời gần mười nghìn thực khách - trong đó có nhiều quan chức, nhiều nhà văn nhà thơ, nhà báo, đài truyền hình... Phi mặc áo the, đội khăn xếp đọc thơ tâm linh của mình, rồi thuê nghệ sĩ cải lương, tân nhạc, hát những bản nhạc được phổ thơ của ông ta. Nhiều thực khách lặng lẽ ra về bỏ lại những bàn tiệc sang trọng. Họ đâu biết mỗi câu thơ tâm linh đó ông chủ Phi đã phải chi 100.000đồng “nhuận bút” theo yêu cầu của “Tùng nổ”,  mấy tập thơ tập nhạc hổ lốn ấy tốn kém hàng tỷ đồng. “Tùng nổ” chỉ trả thù lao cho lão nhà thơ dỏm vẻn vẹn hai triệu đồng, còn ả nuốt gọn.

Bộ phận tài vụ Công ty Đại Phát có lần báo Tổng giám đốc Phi các khoản công ty nợ ngân hàng đã lên tới ngàn tỷ, hàng tháng kinh doanh lỗ, thu không đủ trả lãi ngân hàng, có tháng phải nợ lương công nhân, ho cũng cho Phi biết số tiền “Tùng nổ” rút của công ty đã lên tới 200 tỷ, gấp 50 lần số tiền ả đặt cọc mở siêu thị hơn một năm trước. Phi nghe xong quắc mắt, đập tay xuống bàn quát:
- Thôi im đi! Tao cấm chúng mày nói hai tiếng “Tùng nổ” nghe chưa?
 Đối với Phi bây giờ, tiền bạc, sự nghiệp, vợ con... đều không còn ý nghĩa gì nữa, trước mắt ông ta chỉ có gương mặt bầu, cặp mắt sắc lẻm, hai gò bồng đảo đầy khêu gợi và những lời êm dịu của người tình.

Hai Núi - một cán bộ to và rất có uy tín đối với địa phương, nói với Giám đốc Phi: “Tùng nổ là con yêu tinh, mày dính sâu vô là cả Công ty lẫn gia đình nát bét cho coi!” Không ngờ ông Phi đem chuyện đó nói cho “Tùng nổ” nghe, “Tùng nổ” òa khóc: “Em buồn lắm cưng à! Như em đã nói với anh ngày trước đó, kẻ nào cũng muốn vòi tiền, vòi tình em, không được thì nói xấu”.
 “Tùng nổ” tìm gặp Hai Núi ở cơ quan, mời được Hai Núi đi ăn ở Lương Sơn Quán mấy lần. Một hôm “Tùng nổ” kéo đầu Phi ấp lên bộ ngực nóng hổi của mình, nói: “Cưng có muốn nghe Hai Núi dê em không?” Không đợi Phi trả lời, “Tùng nổ” bấm điện thoại di động gọi Hai Núi, mở loa cho Phi nghe những lời tán tỉnh, hẹn hò của ông quan to. Ông Phi điên tiết chửi Hai Núi một trận. Từ đó Phi không muốn gặp mặt anh em, bạn bè cũ, cắt cả điện thoại liên lạc, ai muốn gọi cho Phi phải thông qua lái xe của Phi là đàn em của “Tùng nổ”. Cái văn phòng giản dị tuềnh toàng hơn một năm trước tấp nập khách khứa bạn bè, bây giờ dẹp bỏ rồi, Phi chuyển vào chỗ sâu kín, sang trọng hơn nhiều, và Phi trở nên nóng nảy đến thô lỗ, sẵn sàng văng tục và chửi nhân viên dưới quyền, điều mà trước kia Phi không làm. Nhưng cũng thật lạ lùng, Phi cứ nhũn như con giun trước mặt “Tùng nổ”, nhìn Phi thật tức cười và tội nghiệp khi “Tùng nổ” làm nũng bắt Phi cọ lưng, gội đầu, hoặc đút cháo cho đứa con gái riêng ba tuổi của ả với Út Thịnh. Phi phải bỏ tiền mua căn hộ chung cư cao cấp ở quận 5 cho hai thằng con riêng của “Tùng nổ” và Thắng bệu). Hai thằng này bằng tuổi con Phi, nhưng theo di truyền của bố mẹ, sống ngang tàng như thú hoang, ngày đêm chúng tự do đến vũ trường, quán bar, thả sức nhảy nhót chơi gái và chích hút ma túy. Chúng ở nhà của Phi, xài tiền của Phi, nhưng vẫn khinh Phi ra mặt. Có lần chúng nói thẳng với Phi như nói với một kẻ ngang hàng cùng băng du đãng: “Nè! Coi chưng nghe! Thằng Thịnh cho ăn cháo huyết đó!”.
Quả thực Út Thịnh-chồng “Tùng nổ”, dù đã đóng vai anh rể Hà-Canada đến Công ty Đại Phát để lừa Phi, nhưng thỉnh thoảng hắn vẫn nổi máu ghen, lại xót ruột vì “Tùng nổ” mang đứa con gái 3 tuổi của mình đi, nên hắn thường uống rượu say bí tỷ để giải khuây, hắn đe sẽ dằn mặt Phi thật. “Tùng nổ” sợ hư việc, vội nhắn tin cho ông chồng hờ: “Hàng trăm thằng đàn ông đến với em, nhưng em chỉ yêu thương một mình anh thôi, anh ráng chịu để thằng cha Phi làm chồng bé em một thời gian nghe? Sau vụ này vợ chồng mình sẽ trở thành đại gia Sài Gòn!”...
Trời đất ơi! Vậy mà Tổng giám đốc Phi cứ đinh ninh rằng Hà (ông ta tránh gọi “Tùng nổ” thương yêu mình thật lòng, và rằng ả là người Địa Mẫu phái xuống để giúp mình lo sự nghiệp lớn!?
Trong công viên của Công ty Đại Phát có hòn non bộ “Ngũ Hành Sơn” trên đỉnh núi có bức tượng Phật Bà Quan Âm - do chính Phi thỉnh về, trước kia mỗi buổi sáng Phi thường hướng mặt lên kính cẩn đọc chú Đại Bi xin phước lành, bây giờ cũng chính Phi ra lệnh hạ tượng Phật Bà Quan Âm xuống, để làm theo “Tùng nổ” thay vào đó bức tượng Địa Mẫu do Tùng đặt làm, có gương mặt hao hao giống “Tùng nổ”. Nghe đồn hôm đặt bức tượng Địa Mẫu lên đỉnh núi, “Tùng nổ” đứng bên Phi khấn vái rất lâu khiến tượng Địa Mẫu cảm động chảy hai hàng nước mắt...
Ai có thể tin Địa mẫu lại cảm động trước lời cầu nguyện của kẻ lừa đảo như “Tùng nổ”? Có chăng thì những giọt nước mắt Địa Mẫu chảy ra là để hòa với những giọt nước mắt lăn trên đôi má nhăn nheo của bà mẹ Tổng giám đốc Phi, bà buồn tủi thất vọng vì đứa con bà tin tưởng nhất đang bị sa ngã, hòa với những giọt nước mắt nhẫn nhục đầy vị tha của bà Phi và những đứa con của Phi.
Có người đem những nhận xét đó nói với Phi như lời khuyến cáo, thì Phi cười bảo: “Cái tên Phi đã chết rồi, bây giờ tôi là Uy. Anh không thể nào hiểu được sự mầu nhiệm ấy đâu!”.

 

 


GIÓ LẠ

Truyện ngắn
Trong chuyến tham quan Đất Mũi năm ngoái, tôi ghé vào thăm một cô nhi viện và gặp thầy Hai Chung - người mà lâu nay tôi có nghe tiếng. Sau đó, trong một am nhỏ nằm sâu trong vũng Cổ Cò, tôi được thầy Hai kể cho nghe chuyện này.

“... Đêm đó, trên bãi Vĩnh Châu đầy gió lộng, gió mạnh muốn ngộp thở, không khí đậm hơi muối, tanh mùi cá, tui ngửi có cả mùi máu, thiệt đó! Đã quen với bão gió, nhưng đêm đó tui thấy gió biển sao lạ hơn mọi ngày? Trong gió nghe u u tiếng hú, tiếng rú, thoảng tiếng rên khóc từ khơi xa đưa vô, lại như từ lòng đại dương vọng lên. Anh có thể cho là dân biển hay tưởng tượng, cho là tui nhiều hoang tưởng khi đứng trước trời biển mênh mông. Nhưng anh cứ thử sống ở đây một thời gian coi? Và lắng nghe tiếng gió biển - nhứt là về đêm. Anh có bao giờ chịu khó lắng nghe chưa?
Đêm đó biển động phải trên cấp 10, sau cơn bão biển cách đó 2 ngày, biển dữ vẫn chưa chịu yên. Tui nằm trong mùng nghe gió rú mà nói với vợ: “Vậy là mai vẫn chưa đi biển được.” Vợ tui đang thiếp ngủ không nói gì. Tui chợt nghe tiếng con Ky sủa lớn ngoài sân, lạ là đêm nay nó vừa sủa vừa tru nghe phát rợn! Chắc con chó đã phát hiện trong hơi gió có điều gì bất thường? Giác quan loài chó tinh hơn người nhiều, chúng nghe được những siêu âm. Như vậy là những âm thanh lúc nãy tui nghe được có thể đúng?...
Tui quyết định ra ngoài coi thử có gì? Vợ tui  nghe động giật mình hỏi: “Anh đi đâu đó?” Vậy là Yến chưa ngủ. Tui trả lời: “Gió dữ quá! Anh ra bãi coi thuyền cột có chặt không?”
Khi tui ra ngoài thì thấy Kình đang đứng giữa sân, anh ta bận độc chiếc xà lỏn rộng thùng thình, coi bộ cũng đang nghe ngóng. Tui suỵt con Ky đang sủa rồi hỏi Kình: “Gì vậy?” Kình trả lời: “Không biết”.
Con Ky không sủa nữa mà chạy lại phía tui quẫy đuôi rít lên. Nó cắn lai quần tui kéo đi, mắt nó long lanh như báo có điều gì hệ trọng. Tui rút cây phản giắt ở hiên nhà rồi biểu Kình: “Mình ra vũng coi thử?”
Vũng Cổ Cò cách nhà tui cỡ 800 mét. Đối với dân biển thì chục cây số cũng không ăn thua. Tui và Kình đi như chạy theo con Ky, chút đã tới vũng. Từ xa, đêm đó có trăng, tui thấy có những vật gì trăng trắng nổi dập dềnh mép bãi, một số lớn nằm tụ ở vòng chảo. Vũng Cổ Cò trước nay vẫn là nơi tích tụ những vật trôi nổi gần vùng biển này. Dân biển quanh đây vẫn thường dậy sớm ra vũng để lượm những gì có thể dùng được, như những thân cây lớn, củi gỗ, ván thuyền, chai lọ, bao ny-lông... Tóm lại những gì trôi nổi được sóng đẩy vô vũng Cổ Cò. Đã có người đổi đời nhờ lượm được bọc tiền toàn đô-la. Cũng có không ít những thứ ghê sợ được tống vô đây, như xác sinh vật biển, xác động vật đất liền, dĩ nhiên lâu lâu có cả xác người.
Thường thì dân biển cứ để cho nắng gió và sóng biển hủy hoại dần những thứ đó, chỉ có xác người thì họ mới hú nhau kéo đi chôn sau gò Cá Ông - cách bờ biển chừng 100 mét. Ở đây vắng lắm, đồn công an biên phòng cách đây 12 cây số, dân chịu khó đi báo thì cả nửa ngày sau mới có một hay hai anh công an biên phòng tới, họ chụp hình lấy dấu tay gì đó rồi hối đem chôn, vì xác tấp vô vũng thường đã chết cách đây ba bốn ngày, có khi lâu hơn, đã trương phình bứt tung hết quần áo, có cái bị cá rỉa không còn nhận diện được nữa.
Đêm đó tui và Kình thấy có tới vài chục xác người tấp vô vũng Cổ Cò. Tui còn thấy xa xa sóng biển đang tiếp tục đẩy những xác người trắng như thân cá lớn vô bờ. Tui đã quen với biển đêm, quen với sự sống chết, mà thấy xác người nhiều quá cũng nhợn. Tui nghĩ: Vậy là có thuyền lớn bị đắm gần đây trong trận bão vừa qua. Chắc họ vượt biên?
Con Ky dường như cũng sợ, nó quẩn sau chưn tui. Kình thuộc dạng lì lợm, anh ta là em kết nghĩa với tui, có dòng máu lai Miên, gần như không biết sợ là gì.
Kình đi sát những xác chết và soi đèn quan sát, tui thấy mắt anh ta chợt sáng lên...
Tui và Kình khom người xuống gần một cái xác để nhìn cho rõ. Thiệt vàng rồi! Dưới ánh trăng, ánh vàng sáng lóe từ những ngón tay, cả ở cổ tay, lại có cái gì lóng lánh như kim cương trên cổ nạn nhân.
Sức mạnh của vàng đã đè ép được nỗi sợ. Thiệt ra tui và Kình đều là dân biển can trường, tui chỉ chựng lại một chút rồi chắt lưỡi: “Họ chết rồi mà! Xác người cũng như xác động vật khác thôi!”
Kình cầm đèn bão ngồi ngay xuống gần xác một người nữ có đeo vàng. Giờ tui thấy rõ những ngón tay nạn nhân đeo đầy những khâu vàng dầy cộm, hai cổ tay cũng vàng chóe những lắc và vòng xuyến, có cả vòng cẩm thạch xanh lè. Lúc đó tui nghĩ họ mang vàng theo để chết như vầy sao? Vậy là những người giàu này chết vì vàng.
Mới đầu Kình còn nhẹ nhàng gỡ nhẫn, anh ta ráng không đụng vô da thịt xác chết, nhưng gỡ hoài mà không được, bởi những ngón tay nạn nhân đã trương phình bự như nải chuối cau, và các khâu vàng thít chặt tới nổi Kình dùng cả hai tay cũng không thể rút ra được.
Kình bực tức bỏ những khâu vàng đó mà quay qua xác người đàn ông bên cạnh để gỡ chiếc đồng hồ vàng. Nhưng chiếc đồng hồ nặng cả lượng này cũng đã thành chiếc còng thít chặt cổ tay trương phình của nạn nhân. Cánh tay ấy bự như một thân chuối non.
Tui đứng bên quan sát, lắc đầu nói: “Không được đâu.” Kình quay lại, giựt cây phản trên tay tui, hậm hực: “Hừ! Để coi?” Tui chợt hiểu ra, chưa kịp nói gì thì Kình đã dùng cây phản bén ngót khứa mạnh vài nhát vô cổ tay của nạn nhân đeo đồng hồ, lập tức máu và nước tuôn ra nhòe nhoẹt. Kình móc những ngón tay  khỏe mạnh của anh ta vô chỗ da thịt vừa bị khứa đó mà bậm môi giựt mạnh, vậy mà cũng chưa lấy được đồng hồ. Anh ta phải khứa thêm nhiều nhát nữa mới bật được chốt đồng hồ, lúc đó cổ tay nạn nhân gần như rách nát.
Kình vẫy vẫy chiếc đồng hồ vàng nhòe máu lợ trước mặt tui, rồi chạy xuống vũng nước biển gần đó để rửa.
Đó là nhờ đồng hồ có móc chốt, còn những khâu vàng, những vòng xuyến dày cộm không có chốt, dù Kình có khứa hay xẻ cỡ nào cũng không lấy vàng ra được, vì còn vướng phần trên của đốt tay, hay nguyên bàn tay của nạn nhân - tất cả đều trương phình, muốn lấy nhanh bắt buộc  Kình phải chặt.
Tui soi đèn cho Kình làm cái việc rùng rợn đó nhiều lúc phải quay mặt đi.
Dù đã quen với việc chặt cá xẻ mực, nhưng cũng phải qua vài xác nạn nhân Kình mới thao tác nhanh được. Nhiều xác người chết quá - trong đó có xác đeo vàng, tui và Kình phải tranh thủ thiệt lẹ trước khi có người ra vũng sớm.
Tui tránh làm việc ghê gớm đó mà hì hục vần những cái xác để kiểm tra, xác nào có vàng tui kéo lại gần chỗ Kình để anh ta làm. Kình coi bộ mê mải, lấy được món vàng nào anh ta đều rửa sạch rồi bỏ vô bịch ny-lông đã lượm được trước đó.
Tụi tui đang ráo riết tranh thủ thì nghe tiếng con Ky sủa, tui giựt mình quay lại, thấy dáng Yến đang bước nhanh tới... Chắc chắn vợ tui đã thấy xác nhiều người, nhưng chưa biết tui và Kình đang làm gì? Nàng tiến lại gần và sửng sốt khi chứng kiến tui đang nắm hai tay một tử thi mà kéo, còn Kình thì bậm môi chặt...
Vợ tui đã kinh hãi ôm mặt rồi quay đầu bỏ chạy. Kình nhìn theo nhăn mặt, nói: “Bả mà gan, ở lại phụ tui với anh cho lẹ”. Tui gượng cười: “Đàn bà họ sợ mà! Thôi làm lẹ lên, còn mớ xác phía bên kia nữa đó.” Kình nói: “Mình chờ những cái xác ngoài khơi tấp vô nữa chớ?” Tui lắc đầu: “Hổng kịp đâu, sao Mai lấp ló rồi. Nãy giờ tao đã suy nghĩ kỹ: Tao với mày phải tranh thủ chôn những cái xác bị xẻ này.” Kình hỏi: “Chi vậy?” - “Để phi tang chớ sao. Có nhiều xác người chết như vầy thì trước sau công an cũng tới. Họ thấy có những xác bị như vầy sẽ nghi liền. Nhà mình ở gần đây nhứt.” Kình gục gặc đầu: “Anh hay thiệt” Tui nghinh mặt: “Cái đầu vẫn hơn nghe mậy. Không tính kỹ coi chừng uổng công. Thôi vầy nghe: Giờ tao chạy về nhà lấy cuốc xẻng, nói cho con vợ yên tâm. Mày tiếp tục làm đi. Tụi mình tìm chỗ kín đào lỗ chôn tập thể, rồi xóa dấu vết. Bãi mênh mông như vầy họ không để ý đâu, công an bận lo giải quyết đống xác còn lại.”
Thầy Hai kể đến đây rồi ngưng, gương mặt buồn dàu dàu. Chuyện này quả thật tôi không ngờ. Tôi biết thầy Hai đang chìm vào hồi ức cách đây trên 30 năm. Người vợ tên Yến đâu mà thầy đến tu ở am này? Vì sao thầy tu? Còn Kình, anh chàng táo tợn đó ra sao?... Tôi rất muốn nghe tiếp nhưng không dám giục, chỉ tìm cách gợi: “Kể ra thầy cũng gan...” Thầy Hai lắc nhẹ đầu. Tôi nói tiếp: “Nếu rơi vào kẻ khác, chắc họ cũng làm như thầy thôi. Tôi muốn nói cái gan của thầy là lúc đó thầy không sợ bị hại vì vàng. Đã có nhiều trường hợp vì lòng tham, vì muốn giữ bí mật, đồng bọn sẵn sàng loại bỏ nhau...”
Thầy Hai trầm tư: “Tui hiểu. Con người đang giết nhau, đang tự giết mình, cũng chính vì lòng tham. Quả thiệt lúc đó tui không hề nghĩ tới. Và Kình là kẻ bự gan nhưng được cái tâm địa không trắc trở. Tụi tui hoàn toàn tin nhau. Nếu lúc đó Kình muốn hại tui thì rất dễ. Anh ta mạnh, lại có cây phản trên tay. Và sau đó tui muốn hại Kình thì cũng không khó. Tui khôn hơn Kình, như lúc trở về lấy cuốc xẻng chẳng hạn. Nhưng tụi tui dân quê tuy có tham nhưng không biết thủ đoạn. Lúc đó tui coi việc làm của Kình tuy ghê rợn dã man nhưng hợp lý, là chuyện đương nhiên. Tụi tui không giết người cướp của. Tụi tui chỉ lấy của người đã chết. Của cải đó không lấy sẽ có người khác lấy, để mất thì thiệt uổng, trong khi tụi tui đang nghèo - phải nói là quá nghèo. Lúc đó tui nghĩ đây là cơ hội để vợ chồng tui thoát nghèo, Yến không phải lo lắng khi tui ra khơi - nhứt là lúc biển động. Các con tui sau này khỏi phải cắp rỗ rá ra bãi đợi cha về. Chúng sẽ được đi học. Anh hiểu không?”
Tôi gật đầu: “Thưa thầy, chuyện sau đó có suông sẻ không?” Thầy Hai gật: “Suông sẻ. Đây mới chính là chuyện tui muốn kể anh nghe - dù nó không hấp dẫn như đoạn đầu” - “Vâng. Tôi muốn được nghe đoạn kết.”
“Tui và Kình chia nhau mỗi người được khá nhiều vàng. Kình còn hào phóng tặng vợ tui sợi dây chuyền nặng cả cây vàng, nhưng vợ tui sợ không dám nhận. Kình cứ bỏ vô phần của tui. Sớm hôm sau, anh ta từ giã vợ chồng tui đi Bạc Liêu, sau đó mua nhà, lấy vợ. Anh biết rồi đó, tiền bạc vô tay người không có đầu óc mau tiêu tán lắm. Cô vợ của Kình khá đẹp, nếu Kình không có tiền chắc chẳng lấy được cô ta. Cô ta lợi dụng sự thật thà và khù khờ của Kình để bòn rút. Kình chỉ rành nghề biển chớ chưa biết làm ăn gì, anh ta nghe lời vợ hùn hạp làm ăn với một người, cuối cùng mất luôn nhà và vợ con. Nhiều người nói đứa nhỏ không phải con anh ta, mà là con của gã hùn hạp làm ăn - cũng là bồ trước của vợ Kình. Đứa con chính là mồi để họ cướp tài sản của Kình.
Tay trắng lại trắng tay, Kình trở lại nghề biển. Sau anh ta lấy cô vợ nữa, khi được đứa con trai thì cô vợ sau bị bịnh bướu cổ chết. Kình buồn uống rượu say xỉn suốt ngày. Một bữa Kình say ngủ, thằng con chúi đầu vô lu nước mưa trong nhà bị chết ngộp. Từ đó Kình phát điên, thường lang thang ngoài bãi lượm đủ thứ hầm bà lằng đeo vô người, cái gì ăn được là bỏ vô miệng, lấm láp sống sít gì cũng ăn, hôi chút cũng nuốt, rồi nốc rượu, có bữa ói tưởng chết, vậy mà vẫn sống nhăn. Làm như ông trời còn hành Kình? Anh có cho đó là quả báo không? Tui thì nghĩ: Một kẻ vô tâm vô tánh không nghĩ sâu như Kình, không biết việc làm của mình đúng hay sai? Có ác không? Có thất đức không? Nói ông trời ghét kẻ vô tâm vô tánh do mình tạo ra như vậy, mà hại vợ con anh ta thì ông trời cũng đâu có đúng phải không anh?
Trong thời gian ở chùa với các sư thầy, tui đã suy nghĩ nhiều về chuyện này. Rồi tui so sánh với hành vi mổ xẻ tử thi của các y công, bác sĩ, hay  nhân viên pháp y, họ mổ hàng loạt tử thi coi dã man còn hơn đó nữa, nhưng vì công việc chớ không phải lòng tham. Vậy thì chính lòng tham đẻ ra tội ác.
Ngày xưa tui tránh làm việc đó không phải vì nhát - tui vốn cũng gan, cái chính là tui sợ, nỗi sợ mơ hồ mà tui chưa thể định hình, chưa hiểu mình làm như vậy có tội hay không? Tui chỉ thấy cảnh đó bất nhẫn nên đã đẩy cho Kình làm, và tui cho là mình vô tội.
Sau đêm đó, tui bàn với Yến mau mau rút khỏi Vĩnh Châu mà tới chỗ khác làm ăn, nhưng vợ tui cứ lơ đi và lạnh dần. Nàng len lén nhìn hai bàn tay tui mà sợ. Tui đã kể lại đầu đuôi câu chuyện cho Yến nghe, thề độc với nàng, Yến gật đầu nhưng vẫn sợ. Mỗi khi tui đụng vô nàng thì Yến run bần bật!
Tui biết Yến vốn sợ máu, sợ sát sanh, nàng có cốt tu. Yến rất mẫn cảm và dị ứng với cái ác. Nàng khóc và nói rằng không thể ngủ được khi có tui bên cạnh. Tui đã tức tối nghĩ rằng nàng không tin chồng.
Một sáng Yến khóc lạy xin tui bỏ nàng, cho nàng về với má. Tui giận, nói: “Vậy thì tùy! Cần lấy bao nhiêu vàng?” Nàng xin tui hai chục ngàn về xe, và một chỉ vàng để biếu má - đó là chỉ vàng mà nàng bán cá để dành mua được. Tui biết Yến đã quyết nên ráng vớt vát: “Khi nào em nghĩ lại, không còn thấy sợ nữa thì cứ trở lại với anh, nhưng mau mau nghe?” Lúc đó tui tuy giận và tức nhưng vẫn thương vợ.
Một tháng sau vợ tui vẫn không trở lại, tui chán nản. Đã có ý định không ở đó nữa nên tui cuốn gói bỏ lên thành phố. Trước hết tui mua một căn nhà để có chỗ ở. Lúc đó mới giải phóng nhà rẻ lắm. Tui mua căn mặt tiền ở quận 3 hết có 33 cây vàng - người ta còn để lại đồ đạc trong nhà. Còn dư vàng tui mua tiếp vài căn nữa. Có chút đầu óc tui mua đi bán lại, trở thành người kinh doanh nhà đất. Thời gian đó tui say mê làm ăn, phải nói là say tiền. Tui lấy một cô vợ Sài Gòn vừa đẹp vừa giàu, vốn liếng càng tăng. Năm chín mươi vợ chồng tui đã có hai biệt thự và mười mấy căn nhà. Tui làm giám đốc một công ty kinh doanh địa ốc, vợ tui lám kế toán trưởng. Tui đi nước này nước nọ. Nói tóm lại là tui thành đạt. Ngoài sự may mắn tui thầm tự hào là mình có đầu óc, biết tính toán sử dụng đồng tiền.
Thú thiệt có nhiều lúc tui nghĩ về người vợ quê ngày xưa của mình, rồi thấy tội nghiệp nàng. Đáng ra sự thành công của tui Yến cũng được hưởng. Thôi đó là số của nàng. Tui nảy ý định tìm Yến để chia sẻ phần nào. Nếu nàng đã lấy chồng khác thì tui vẫn hết sức giúp đỡ. Dẫu sao vợ chồng một ngày cũng là nghĩa. Tui nghĩ mình sử xự như vậy là đúng, là quân tử.
Khi tui hỏi thăm tìm được Yến thì mới biết thêm vài chuyện - chuyện này hay đây! Ông trời thiệt giỏi xếp đặt”.
Tôi nhìn thầy Hai, thích thú lắng nghe...
“Chồng sau của vợ tui chính là một trong những người sống sót trong vụ đắm tàu vượt biên đó. Ra trong lúc tui và Kình đang mải mê với vàng ngoài vũng Cổ Cò, thì có một người đàn ông ôm thùng gỗ tấp vô bờ ngay trước nhà tui, anh ta bò vô nhà xin cứu giúp, vợ tui đã lấy cơm nguội cho anh ta ăn với khô cá nướng. Anh ta kể đã vượt biên ba lần, tốn hàng chục cây vàng rồi, lần này bị đắm tàu lênh đênh đã hai ngày đêm. Trước khi đi anh ta dặn vợ tui khoan nói với ai, vì anh ta đang trốn tránh. Đêm đó tui lu bu, sáng hôm sau vợ tui đã kể lại chuyện này, nàng nói: “Ảnh lột hai chỉ vàng còn lại trên tay đưa cho em để đền ơn, nhưng em không nhận, nói để ảnh bán lấy tiền về xe.”
Sau đó nửa năm, người đàn ông đó trở lại Vĩnh Châu với mục đích tìm xác hai người em cùng đi, đồng thời tìm vợ chồng tui để cảm ơn. Nhưng lúc đó tui và Yến đã chia tay, tui đang ở Sài Gòn. Anh ta hỏi thăm tìm tới tận nhà má vợ tui, vậy rồi hai người thành vợ chồng.
Đó là những gì mà Yến kể sau khi tui gặp lại nàng. Lúc đó tui cố ý ăn mặc xuềnh xoàng để Yến không biết tui là người giàu có. Qua nàng tui biết tin tức Kình. Yến nói thấy Kình mà lo cho tui, nàng xin lỗi tui, vẫn đi chùa cầu xin cho tui, giờ thấy tui mạnh khỏe nàng mừng lắm. Nghe Yến nói mà tui cảm động quá!
Vừa lúc đó thì người chồng sau của Yến về với đứa con trai 9 tuổi. Tui nghĩ chuyện cũ qua rồi, ai cũng đã yên phận, đàn ông với nhau cũng nên nói chuyện thẳng thắn. Tụi tui đã cùng ăn với nhau bữa cơm gia đình bình dị và hết sức thoải mái. Anh chồng sau của Yến tên Hải, anh ta rất tự tin và vui tính, sau khi nghe chuyện tui, anh ta còn đùa: “Tui mất vàng, hút chết, gần như trắng tay. Nghĩ mình lúc đó thiệt là dại! Cũng may mà gặp Yến.” Nghe anh ta nói tui nghĩ: Còn mình được vàng thì lại mất đi người vợ hiền đức độ.
Khi tui ngỏ ý muốn giúp vợ chồng Hải thì Yến cảm ơn, nàng suy nghĩ một chút rồi nói: “Bữa nay gặp lại anh, thấy anh mạnh khỏe là em mừng rồi. Tụi em tuy có khó khăn nhưng rồi cũng qua được anh à. Anh Hải qua cái chết rồi nên giờ không còn ham gì lớn nữa. Còn em thì anh biết rồi đó, em chỉ cần đủ sống và yên lành. Giờ nếu anh khá giả, có lòng, thì em nghĩ anh nên làm phước. Nhờ số vàng ngày xưa của những người chết mà anh được như hôm nay, thì lâu lâu anh nên cầu siêu cho họ”.
Thầy Hai kể đến đây, nhìn tôi: “Anh thấy chưa, vợ cũ của tui chỉ học tới lớp 4 mà có suy nghĩ sâu sắc và đức độ như vậy. Cái thiện có sẵn trong người nàng. Tui biết dẫu có bao nhiêu vàng cũng không mua được nàng, bởi nàng không tham. Yến nghĩ sao nói vậy, khiến một kẻ tự hào có chút đầu óc như tui phải sáng ra. Ngày xưa tui tránh làm cái việc ghê gớm đó, nhưng tui đã kéo xác người lại cho Kình làm, thì tui cũng là kẻ có tội rồi. Yến dị ứng với cai ác, nàng sợ tui là phải.
Khi không còn tự bào chữa mà nhận ra tội của mình, tui nghe lời Yến lập một cô nhi viện. Tôi có nhiều tiền nhưng không xây chùa lớn mà chỉ lập am để tu thân, suy gẫm chuyện mình, chuyện đời. Tôi rất phục và kính nể những sư những cha, những ni cô, dì phước tự làm lấy mà ăn, họ đầy lòng bác ái, không ngại gian khổ, nguy hiểm lây lan khi chăm sóc những bệnh nhân bị hủi, nhiễm chất độc màu da cam, nuôi trẻ mồ côi khuyết tật... Đó chính là những người đức độ, không thích phô trương mà tu ở những nơi vắng vẻ.
Tui không kể thì anh và nhiều người chẳng biết. Anh vẫn nghĩ rằng tui là một doanh nhân thành đạt, danh giá, đầy lòng tốt! Chuyện ngày xưa ngoài tui ra chỉ có Yến và Kình biết. Kình dẫu không điên dại thì cũng chẳng hé lộ, và Yến thì anh biết rồi đó, ngay tới chồng sau của nàng khi tui kể anh ta mới biết.
Sau đó, đã nhiều lần tui đưa Kình về nuôi và chữa bịnh, nhưng chỉ được vài bữa là anh ta trở chứng đập phá rồi bỏ đi. Tui lập am này để tháng tháng về tu, cầu siêu cho những linh hồn lang thang ngoài bãi kia, cũng để có chỗ Kình muốn về thì về.
Tui đã có thời gian nghèo khổ, rồi đã may mắn giàu, mà giàu lớn nữa. Ai cũng biết con người ta tới thế gian này chỉ là ở tạm, vậy mà cũng tham. Cuộc sống rất giản dị, chỉ tại lòng tham và sự cầu kỳ làm con người trở nên phức tạp, có khi làm khổ mình, và còn làm khổ người khác. Tui là kẻ có tội đang sám hối. Tui không dám nói hay mà chỉ kể lại đời mình. Trên đời ai cũng có chuyện để kể, ai muốn nghe thì nghe. Chuyện đời như những cơn gió, chuyện của tui là một cơn gió lạ - đó là đối với những người chưa biết, còn với bao la chẳng có gì lạ hết.”
Thầy Hai nói đến đây thì ngưng, ông yên lặng lắng tai nghe... “Nè, anh có nghe gì không?...” Tôi ngơ ngác lắc đầu. Thầy Hai bước ra cửa, tôi theo sau. Ngoài kia gió biển lồng lộng thổi, sóng muôn đời ầm ào...
Chợt tôi nghe trong gió có tiếng hú, tiếng hét, tiếng khóc, và tiếng hát... Thầy Hai chép miệng: “Kình đó! Giờ này mà anh ta còn đang nghêu ngao ngoài vũng Cổ Cò!...”
PĐN
Đất Mũi - 2007

 

 

 

 


 


Tắt Telex VNI

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ

Tên của bạn

 

Email

   

Ý kiến của bạn

 

1
Tin mới