Chế Lan Viên: Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa (…) Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

   

Chùm truyện ngắn "góc quê" của Trần Mạnh Hà
Cập nhật: 9:54:00 6/2/2011

VanVn.Net - Lại đầy ắp hơi thở cuộc sống. Một cuộc sống thứ cấp, với những con người nhỏ bé yếu đuối bị vây hãm bởi, đói nghèo cùng cực, bởi thiên tai, dịch bệnh, cùng hệ lụy của thứ chủ nghĩa cấm dục và những hủ tục phi nhân, mang gương mặt “đạo lý làng quê”. Không gian nghệ thuật trong “Sau Núi” là những làng quê “vô danh” hiu hắt, một “một cõi nhân gian bé tí” đầy tràn nỗi đau. Những nỗi đau mà nếu chia đều, sẽ đủ dùng cho cả thế gian rộng lớn này...

Không tìm tòi “lạ hóa” bút pháp, Không điệu đàng câu chữ kiểu thời thượng như thường thấy ở các cây bút trẻ.  “Sau Núi”” tập truyện ngắn đầu tay của Trần Mạnh Hà (học viên lớp đại học viết văn quân đội, khóa I), do nhà xuất bản Hà Nội ấn hành tháng 12 năm 2010 . Lại  đầy ắp hơi thở cuộc sống. Một cuộc sống thứ cấp, với  những con người nhỏ bé yếu đuối bị vây hãm bởi, đói nghèo cùng cực, bởi thiên tai, dịch bệnh, cùng hệ lụy của thứ chủ nghĩa cấm dục và những hủ tục phi nhân, mang gương mặt “đạo lý làng quê”. Không gian nghệ thuật trong “Sau Núi” là những làng quê “vô danh” hiu hắt, một “một cõi nhân gian bé tí” đầy tràn nỗi đau. Những nỗi đau mà nếu chia đều, sẽ đủ dùng cho cả thế gian rộng lớn này.

Song, điều kì diệu là bất chấp mọi sự vây phục của lưới đời nguy khốn, Những con người trầm kha trong cõi đời chật hẹp ấy, vẫn lấp lánh ánh người và không thôi hy vọng vào cuộc đời nghiệt ngã.  Như  câu kết trong một truyện ngắn của tác giả:

 “Sau những ngày mưa liên miên, đất trời đã bắt đầu sáng lại”.

Một kết cuộc có hậu (Happy end), là thể hiện sự bao dung lịch duyệt của một tác giả ở độ tuổi đã ngộ ra được lẽ nghi hoặc nhân sinh, hay vẫn là  những dư ba của chủ nghĩa hiện thực dễ dãi?

Vanvn.net trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc, chùm truyện ngắn của tác giả Trần Mạnh Hà.

1. Góc quê.

2.Khác náu

3.Sau núi

 

SAU NÚI

 

                                                                  

 

Đỉnh Phu Loong chìm trong sương mù. Hơi nước cuồn cuộn bốc lên dưới khe sâu dâng thành một biển sương mênh mang. Đứng trước cửa đồn, vào mùa hè, may ra mới thấy cái chóp nhọn lờn vờn những vành sương trắng. Đã sang mùa thu. Mùa lũ. Từ đây xuống mấy xã giáp biên hoàn toàn bị chia cắt vì nước. Rừng đầu nguồn cạn dần, nước như những con thuồng luồng gớm ghiếc lao phằm phằm qua những cánh rừng trơ gốc cuốn theo đám lá mục xoáy tít đập vô bờ vực tựa trăm ngàn con mãnh thú bị thương gào rú điên loạn.

Anh Dương bảo: Nội trong hôm nay, tổ 1 phải có mặt ở bản Na May. Tình hình rất cấp bách...Vừa chăm chú nghe, trong đầu Văn vừa vạch ra phương án công tác. Bản này có khoảng gần vài chục nóc nhà người Tày Hạy. Nó nằm chênh vênh trên một triền dốc đứng. Phía dưới là con suối Nậm He. Suối hiền mùa khô, suối ác mùa lũ. Cứ theo ước lượng những cơn mưa rừng mấy ngày qua, chắc chắn lũ to. Sẽ có sụt lở đất. Mưa liên miên cả tuần, đất mềm ra, gặp phải đợt dông lớn lở núi là chuyện khó tránh. Tính mạng của mấy chục con người đang như “trứng treo đầu gậy”. Văn bảo: Em sẽ đi ngay. Tất cả sẵn sàng rồi. Tổ gồm 5 người; Văn, Hải, Nam, Đại và Đông. Ra đến cổng đồn, anh Dương còn nói với theo: Đi cẩn thận, nhớ lời anh dặn hồi đêm.

Nước réo khủng khiếp. Lối mòn trâu đi nhầy nhẫy những tảng đất đã nục rữa mới chạm chân vào là vỡ bung ra sục quá bắp chân. Đường không chịu nổi bất kỳ một loại dày dép nào. Chỉ có chân trần mà tiến. Chân trần nhưng cũng phải phải vận lộn để nhích dần từng bước một. Nam, Đại ở đất này lâu hơn Văn; độ bốn năm có lẻ. Văn nhiều tuổi đời tuổi quân hơn nhưng trước chỉ ở biển, bơi lội khá hơn trèo đèo leo dốc. Hải, Đông cũng thế, mới ra trường về được hơn năm. Nghe kể, năm kia, hình như mưa rất ít, suối khe khô cạn, thú rừng mò ra tận đồn tìm nước. Đúng theo quy luật, năm ngoái trời chuyển. Lúa nương được mùa. Độ tháng mười ta, Văn cùng mấy anh em xuống dự lễ Pa Sưm. Đây là lễ cầu mùa của bà con Tày Hạy. Anh Dương bảo: Cho chú xuống tập làm quen với phong tục tập quán, nhất là uống rượu cùng dân bản. Ít năm nữa anh về xuôi, chú là một trong những cái đầu tàu của đồn này. Rừng khác với biển, việc đầu tiên là thích nghi với thổ địa.

Hơn bốn tiếng vận lộn với bùn, nước, sên, vắt…cả tổ mới đi được nửa quãng đường. Nước réo ầm ầm như lũ trâu điên dưới khe báo hiệu cơn lũ quét này là lớn. Kinh nghiệm cho thấy, dông lớn phía tây vài ngày liên tục y rằng sẽ có chuyện với lũ quái nước. Năm ngoái, hơn một lần, Văn suýt chết dưới suối Nậm Thi…

*

*        *

Đồn B54 nằm chênh vênh trên một trảng cát dài mịn màng. Nó gần cửa lạch Quèn có sông Văng đổ ra biển. Gió hào phóng thổi tứ bề lồng lộng. Về đây là mong ước của những tay sĩ quan trẻ mơ mộng yêu đại dương mênh mông.

Văn thì khác. Nỗi buồn gia đình đã làm tiêu tan những niềm vui bé mọn trong anh. Mẹ Văn bỏ theo người tình cách đây mấy năm. Nỗi đau mất mẹ ngang bằng sự tủi hổ danh dự về một gia đình được coi là khá nền nếp. Ngày cầm bằng tốt nghiệp là ngày cha mẹ Văn ra tòa. Lúc đó, anh muốn đập phá hết tất cả. Xưa nay, mẹ là niềm tự hào để anh bộc lộ ra ngoài lẫn trong suy nghĩ. Anh như một thằng điên lang thang trên những triền đồi vắng. Mưa, mặc kệ. Những cơn mưa xối xả làm dịu dần cơn điên loạn trong trí óc anh. Văn nằm bệt xuống vũng bùn nhão nhoẹt. Vị tanh lợm sộc vào mũi, vào mồm làm anh tỉnh dần…

Cha bảo: Mặc xác mẹ mày, hư hỏng rồi thì làm sao cứu vãn nổi hả con? Văn muốn cãi lại cha. Sao vậy? Cái gì mà không có nguyên cớ của nó hả cha. Cha hãy nhìn lại mình xem sao? Cha cứ nghĩ mình không có lỗi à? Nhưng Văn cứng họng. Anh biết mình chẳng thể nào cất nổi lời cãi cha. Văn thương cha. Mà cãi để làm gì kia chứ. Cha như cây tre già cỗi xơ lớp vỏ, cật cứng khô làm sao mà uốn cong đi được nữa.

Nhưng sau cái vẻ cứng cỏi đó của cha là nỗi đau ngấm ngầm hủy hoại thân thể. Văn biết, đêm đêm cha hầu như không ngủ. Tiếng giát gường kẽo kẹt trong đêm sâu là bằng chứng rõ ràng. Mùa đông, hơi lạnh từ phía lèn Hai Vai tỏa xuống vùng quê nghèo buốt giá. Cha lần lần ra ngồi trước hiên, co ro trong tấm áo bốn túi cũ kỹ. Đốm lửa đỏ lập lòe đầu môi. Tiếng ho khìn khịt như xé rách từng mảng phổi tơ tướp xám xịt.

*

*        *

Cô gái ngồi quay mặt ra biển khơi. Không thấy rõ khuôn mặt. Chỉ một dáng nhờ nhờ theo những góc cạnh, chóp mũi, khóe miệng. Chắc khuôn mặt khá xinh. Hình như cô đã ngồi đây từ lâu. Lúc này khoảng chín giờ tối. Đêm thứ bảy. Hôm nay không có ca trực, Văn lang thang một mình trên bờ biển. Biển sáng nhờn nhợt dưới những ánh sao lẻ loi. Những vì sao băng vụt qua, chợt tắt, thứ sao mà người ta thường ví là những phận người đang trở về cát bụi. Tiếng sóng ầm ào xô rượt tạo nên điệp khúc buồn tẻ, đơn côi. Hàng phi lao đen thẫm tựa một vành khăn nhung xõa dài lên bãi cát đùng đục. Chỉ còn đôi ánh đèn le lói hắt lên từ khu nhà nghỉ rách nát.

Bãi biển ngang còn hoang sơ bỗng trở nên chộn rộn hơn với mấy cái nhà hàng quán xá lúp xúp mọc lên. Người ta bắt đầu biết đến kinh doanh du lịch; một kiểu du lịch tự phát quê mùa. Rồi người ta kháo nhau “gà móng đỏ” đã xuất hiện ngày càng đông hơn trên bãi. Chập choạng, phất phơ những bóng hồng với vẻ mặt mệt mỏi ngái ngủ và kiểu ăn vận kệch kỡm phảng phất mùi nước hoa rẻ tiền.

Hình như cô gái khóc. Đã từ lâu, Văn không được nghe tiếng khóc của một người đàn bà. Mẹ, ừ, có thể là mẹ đã khóc trước mặt Văn ngày anh trở về rồi ra đi. Lúc đó anh đã hoàn toàn vô vọng. Người mẹ mà anh yêu thương bỗng rời bỏ gia đình và lũ con theo một người đàn ông làm cho anh đau đớn. Có thể là em; người con gái anh yêu hồi còn ở thành phố. Mối tình đầu của Văn. Quê nàng cũng ở biển. Nàng có màu da nâu sáng, rắn rỏi nhu mì. Văn đã về nơi đó vài lần. Anh bị hớp hồn mê man trước biển. Hàng dừa xanh rũ tóc trong chiều gió. Nàng thủ thỉ anh nghe bao khát khao dịu dàng. Anh mặc sức tưởng tượng cho dâng hiến…Văn cứ ngỡ nó bền lâu. Thế mà nàng đã nhẹ nhàng rời bỏ anh như rời bỏ một thứ đồ vật cũ kỹ, chán ngắt. Giấc mơ anh lụi tàn. Thành phố biến đổi nàng. Nàng muốn mình phải khác đi, phải có trong tay những thứ mà nàng khao khát suốt cả thời sinh viên trắng trong nhưng đói khổ. Văn khù khờ không muốn hiểu. Đổ vỡ niềm tin. Tình yêu mà sự phụ bạc của nó đã làm khô đi xúc giác của tuổi hồn nhiên trai trẻ. Gã đàn ông già lão béo ục lái chiếc xe lexus đã cướp mất nàng. Sự đau đớn cho mối tình đầu  làm anh chai sạn. Hai năm sau, cho đến lúc tốt nghiệp trường sĩ quan, Văn chỉ còn làm bạn với những cuốn sách. Văn vỡ lẽ ra nhiều điều mới mẻ trước cuộc đời.

Hình như cô gái vẫn khóc ri rỉ. Ngoài kia biển động. Sóng cũng ngày một lớn dần thêm. Mai kia có bão. Bão là tai họa khôn lường. Cuộc đời cũng vậy chăng? Bão đời xô dạt. Phận người đầy trắc ẩn. Ánh chớp lưng trời lóe lên. Bàn chân cô gái tõe ra, phơi rõ xù xì thô mộc dưới thứ tia sáng lạnh. Bàn chân một cô gái quen leo đồi lội suối. Văn tin vậy! Sao em ở đây? Có phải em là ngôi sao lạc loài nào vừa rơi xuống bờ biển lạ. Văn lờ mờ đoán ra. Một niềm xót xa cho em dồn lên ngực.

*

*         *

Tổ Văn đã vượt qua ba quả núi cao và một cái lũng. Nước lục bục chảy từ các khe đá. Màu nước đục ngầu. Những ngọn núi đang lở. Những ngôi nhà chênh vênh là mục tiêu đe dọa của nó. Năm ngoái cả một bản nhỏ bên suối Nậm Thi gần như xóa sổ. Bảy người bị chôn vùi dưới lớp đất bùn đặc quánh. Nấm mộ chung. Đồn cử người xuống cùng dân bản vật lộn mấy ngày với đám đất sền sệt như cháo đặc. Chẳng ăn thua gì. Ngôi mộ chung tựa một trái núi con lừng lững. Có đào hết tháng cũng không thể moi thủng trái núi kia ra. Bất lực. Đau xót. Chán chường…Một nén nhang đốt lên cũng chẳng biết cắm vào đâu. Lúc đó, sự bé nhỏ của con người mới thấy thật đáng thương.

Anh Dương bảo: Thôi, trước mắt cứ phải giúp đồng bào làm cái lều, có chỗ mà che mưa che nắng. Chuyện mồ mả tính sau. Người còn là còn tất cả. Biết vậy. Anh em cả đồn thay nhau xuống bản. Mấy ngày sau tình hình tạm ổn. Suối đục ngầu vẫn gầm gào đe nẹt. Bản nhỏ chìm vào những đêm mù sương lạnh lẽo. Những đêm khủng khiếp với người yếu bóng vía. Ánh trăng vàng ềnh ệch mang đầy ám khí trôi vật vờ. Đâu đó, những hồn ma vẫn còn lẫn khuất nức nở dưới đáy bùn sâu trở về khóc than oán thán.

*

*        *

Cha Văn nhìn lên đỉnh lèn Hai Vai. Đêm trăng cuối tháng. Đỉnh núi mờ mờ một vệt đen ngập chìm trong sương núi. Cha anh giờ đây đơn độc vô cùng. Ông đã biến đổi hẳn tâm tính sau cơn bão gia đình.

Hồi nhỏ, Văn được nghe cha kể rằng, phía diệu vợi, bên kia đỉnh lèn kia, sau những lớp sương mù dày đặc buông kín kia là một thế giới khác. Nó thần tiên huyền bí vô cùng. Văn như chìm đi trong lời kể của cha…

…Có một nàng tiên ở trên đó. Không, có cả một gia đình nhà tiên. Họ sống yên vui, hạnh phúc. Hầu như họ không phải làm gì. Ngày ngày, họ vào rừng hái hoa về trang trí cho ngôi nhà dệt bằng dây rừng và lá cây. Rồi họ đi trảy quả. Chao ôi! Vô số các loại trái quả trên rừng. Loại nào cũng thơm lừng, chín mọng. Nàng tiên lớn lên, càng ngày càng đẹp rực rỡ. Chim chóc bay về hót rộn rã quanh nàng. Muông thú đêm đêm đến thức bên nàng, múa ca tấu lên muôn khúc nhạc rừng cho nàng nghe, ru nàng vào giấc mơ tiên giới…Nhưng càng lớn dần lên, niềm vui trong nàng càng vơi đi. Nàng buồn. Nàng đợi chờ ngóng trông một điều gì đó. Chiều chiều, nàng ra ngồi một mình nơi mỏm đá ngong ngóng xuống xa xa…Nàng chờ một vị hoàng tử từ chân núi đến. Nàng không cần ở chàng sự cao sang, phú quý. Nàng không cần ở chàng vẻ phong lưu, hào hoa. Không cần mọi lễ vật. Nàng chỉ cần tình yêu. Dù người đó có là một anh chăn bò, một anh tiều phu hay anh lực điền hiền lành côi cút. Nàng sẽ cưới làm chồng nếu như chàng vượt qua thử thách, bất chấp hiểm nguy mà trèo lên đỉnh núi trùng điệp mù sương kia để đến với nàng…

Ngày ngày, Văn chăn trâu ở bãi cỏ hoang dưới chân núi, nằm ngửa mặt hướng về phía đỉnh lèn xa xăm, chộn rộn với bao niềm khao khát. Đã đôi lần, Văn trốn mẹ buộc trâu vào sâu trong thung rồi hăm hở ngược dốc. Văn quyết tâm leo lên đỉnh. Nhưng đỉnh sương cứ vời vợi. Tưởng gần hóa xa lắc, xa lơ. Văn đi cả mấy tiếng đồng hồ mà mới chỉ được một quãng ngắn, ngước mặt lên thấy thăm thẳm vô cùng. Sợ mẹ tìm, thế là Văn đành tụt xuống, bỏ lại một khát khao đang nung nấu trong lòng. Thôi thì để sau này lớn hơn…

Năm tháng qua đi, Văn cứ canh cánh cái ước mong được khám phá ra khung trời phía sau dãy lèn đá âm u, hùng vĩ. Vào đời, tưởng đã quên mất bởi cuộc sống thị thành khói bụi. Thế nhưng, khuất lấp sau phía đáy mịt mùng trí nhớ, đôi khi nó chợt hiện về thấp thoáng trong anh. Nhất là sau khi mối tình đầu tan vỡ. Nhất là sau khi anh khám phá ra bao điều trong sách vở, cuộc đời. Văn lạnh lùng hơn. Anh điềm tĩnh trước trước mọi biến cố. Chỉ cái điều mà anh ao ước từ thủa nhỏ thì vẫn thế, vẫn là những cơn mơ khi đậm khi mờ ẩn hiện. Văn biết rằng, có thể đằng sau đỉnh lèn cao mờ sương kia chẳng có cái gì cả, chỉ là những vách đá lô xô, cây rừng phủ kín và lớp lớp sương mù vây bủa. Văn biết rằng, có thể đằng sau đỉnh lèn kia chỉ là sự tẻ nhạt, nỗi buồn hoang vu của những ngọn gió thổi lạnh lẽo vô hồi. Nhưng, rất nhiều đêm, Văn lại mơ về nó. Phải chăng, cái khao khát được chinh phục là thứ tiềm ẩn trong mỗi con người!? 

*

*        *

Cha Văn nhìn lên đỉnh mây mù u ám. Chai rượu trắng vơi dần. Ánh mắt người tối đục, dại đi. Phía sau dãy lèn kia là quỷ dữ. Là địa ngục. Là đày đọa thế nhân. Cha anh lẩm bẩm. Văn định hỏi, sao vậy cha? Ngày xưa cha bảo nơi đó là thần tiên, là thiên đường. Ai được đến đó coi như thỏa mãn suốt đời. Nó làm con suốt bao năm khao khát được bước chân đến để chinh phục, để kiếm tìm. Bây giờ nỗi khát khao đó trong con vẫn chưa hề nguôi ngoai. Con đi lính, như mong ước của cha và có cả của con. Con mong đôi bàn chân này có thể đạp phăng phăng lên tất cả những thử thách trước mặt. Sẽ có ngày con chinh phục được đỉnh sương kia, cái đỉnh sương suốt tuổi ấu thơ con chưa đạt đến đích. Rồi con sẽ khuất phục nó cho cha coi. Con sẽ mang cái vòng nguyệt quế vinh quang và lòng kiêu hãnh về cho cha sau những tháng ngày con nung nấu âm thầm.

Cha lặng đi. Cha nhìn Văn như lỡ lời. Nhưng cha im lặng. Cuộc đời đã dạy cha những gì? Mẹ ra đi, cha hay mẹ là người có lỗi. Cha không giữ nổi mẹ ở lại bên góc làng buồn tẻ này. Cha không làm cho mẹ sung sướng. Đời mẹ khổ nhiều, mẹ quyết ra đi để lấy lại những gì mà mình đáng được hưởng. Như thế là đúng hay sai cha?

*

*        *

Biển bạc đầu hoang mang. Văn lặng lẽ ra ngồi với biển. Mai anh đi. Nơi anh đến là rừng. Ở đó, anh phải bắt đầu làm quen với một môi trường mới. Có thể cấp trên điều anh đi vì một lý do khác. Anh Hoàng đồn trưởng bảo: Chắc cậu ra đi sẽ tốt hơn. Người lính phải biết quen với tất cả mọi điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống. Trường đời sẽ dạy ta nên người; Có lẽ anh nói đúng. Tuy nhiên, Văn hiểu lần ra đi này của anh còn có một lý do khác.

Văn đã đấm thẳng vào mặt cái thằng đểu đó một đêm mùa đông… Mùa đông ở biển lạnh khủng kiếp. Gió gào từ sáng sớm đến tối mịt. Bãi phi lao co mình xù những vạt lá hình kim và tấu lên lời ca rầu rĩ thê lương trước cô đơn và lạnh. Cũng một tối thứ bảy âm u nào đó. Xa xa, từ khu nhà nghỉ hấp háy những bóng đèn đỏ quạch. Phía trước con đường nhỏ bỗng có tiếng động. Cô gái chệnh choạng chạy dọc hàng phi lao. Vấp ngã. Gượng dậy. Chạy… Một chiếc xe BMW đen trũi rượt theo. Đèn pha sáng lóa. Cô gái lại trượt ngã. Đầu cô dụi vào mặt cát lạnh băng. Cô run lên từng chặp, từng chặp, vẻ hoang mang tột độ. Chiếc xe dừng lại. Đèn vẫn xanh lè ma quái. Gã đàn ông mặt nhẵn chui ra từ chiếc quan tài đen. Hắn dùng giày mõm ngóe đá vào người cô gái. Cô gái rên lên…Hắn cười sằng sặc. Vẻ thỏa mãn khoái trá quái đản phừng phừng trên mặt hắn. Con sư tử đang vờn con linh dương trước khi ăn thịt…

Văn đã đấm vào mặt hắn. Trong anh, hình như có một sự điên dại nào đang thôi thúc. Mắt Văn nhòe đi…Hình như, bất chợt anh bỗng thấy bóng gã tình nhân của mẹ đang cười hềnh hệch, kéo mẹ đi trong tiếng gọi thất thanh đau nghẹn của cha…Hình như, Văn bỗng thấy bóng gã béo lái xe lexus đang ôm ấp sờ mó vuốt ve mối tình đầu của anh một cách  tục tĩu... Anh lại vung tay. Máu mồm gã rỉ ra đỏ lòm bẩn tưởi. Gương mặt nhạo nghễ của gã phát ra tiếng ư ư tắc nghẹn. Văn vẫn chưa hả dạ. Anh dừng lại khi gã ngã lăn còng queo trên cát xám.

Cô gái đã biến mất vào bóng đêm…

Án kỷ luật dành cho Văn là thích đáng. Anh đã làm tổn hại đến danh dự của một người lính. Văn không thanh minh. Sai thì anh phải chịu. Hình phạt có thể làm anh nhẹ nhõm. Tất nhiên chuyện anh cứu cô gái thoát khỏi một gã chơi gái thú vật lan dần và mọi người bắt đầu bàn tán. Người ta có thể hiểu đó như hành động của cái thiện, của nhân tính. Văn không phân bua. Anh Mạnh, chính trị viên bảo: Tôi là người hiểu tính cậu từ khi về đồn. Cuộc sống có khi làm điều tốt cũng dẫn đến những hệ lụy. Biết làm sao được. Đời mà!?

Hai tháng sau, Văn có quyết định lên núi.

*

*         *

Văn nghỉ phép. Cha anh vẫn như cái bóng trong ngôi nhà lá lụp xụp. Trên mặt ao trước nhà, những búp sen cuối mùa vươn lên mặt nước trổ những cánh hoa đẫm ướt tươi hồng. Văn lục tìm tuổi thơ. Tuổi thơ của anh đâu mất? Anh đi tìm... Cánh đồng châu chấu, cào cào. Những buổi chiều đi câu cá rô, cá tràu cùng lũ bạn. Tuổi thơ Văn khốn khó. Cha anh một năm mới về phép mươi ngày. Anh quấn quýt bên cha. Dưới chõng tre những đêm trăng thanh, cha kể cho anh nghe chuyện cổ tích. Chuyện về những điều bí mật sau đỉnh lèn Hai Vai mờ xa huyền bí. Rồi cha đi…Tuổi thơ của Văn bạn với lũ cá dưới mương, lũ chim ăn lang thang trên đồng chiều. Hết học, Văn lại cắp cái rổ rách đi ra đồng. Cánh đồng mùa đông lạnh căm căm. Anh đi cắt cỏ thia, vớt rau rềnh về cho lợn. Tuổi thơ của anh vui với củ khoai mẹ lùi bếp nhét vào trong túi áo vá. Cánh đồng rau khoai xanh nhờn nhợt trong chiều đông. Móng tay Văn thâm xỉn lại vì nhựa khoai. Bụng mấy mẹ con Văn chứa toàn lá khoai. Đói. Đói dài. Thế mà rau khoai đã cứu gia đình Văn qua những tháng ngày cơ cực.

Mờ tối, bóng mẹ Văn in một vệt như cánh cò gầy tong teo đi sấp ngửa trên những lạch đất nhỏ qua cánh đồng lăn nác về nhà. Gương mặt mẹ không vui, không buồn, lặng lẽ.

Bà nội Văn dò dẫm bước ra sân: Gái có chồng mà cứ đến chập choạng mới về thế này là hư. Mẹ lặng câm chẳng nói gì, thấp thửng chui vào căn buồng ẩm mốc. Vài phút sau, đã thấy mẹ quần xắn móng lợn tất tả cắp rổ lầm lũi bước ra ao.

Người ta bảo rằng mẹ Văn theo trai. Thầy Ngọc xã bên nơi trường mẹ Văn dạy. Họ bảo rằng, có lần thấy mẹ Văn được thầy Ngọc đèo xe đạp ra tận ngoài thị trấn. Cha Văn năm ấy không về. Nghe bảo cha đang đóng đồn ở mạn Tây Bắc đánh nhau ác liệt lắm. Bà nói gần nói xa rằng mẹ mày như vậy thì cha mày làm sao mà yên bụng, lại rủi ro không chừng. Văn không hiểu gì. Chỉ thấy mẹ buồn, gầy xọp đi. Có lẽ mẹ Văn oan. Đêm, Văn thường thấy mẹ úp mặt xuống chiếc gối nhàu nhĩ khóc. Ngôi nhà lạnh lẽo hơn. Mẹ Văn chỉ biết vùi vào đám lợn con, lợn nái sau buổi đến trường. Văn vào tận chân lèn Hai Vai kiếm củi. Trọng lượng Văn 30 cân, thế mà Văn phải gánh cả gánh củi nặng gần gấp đôi thân thể mình. Mẹ thương Văn bảo: Con ơi, mẹ khổ, con cũng khổ. Cái đất này sao mà khó sống? Văn muốn ôm choàng lấy mẹ, vùi cái đầu hôi khét vào ngực mẹ. Nhưng Văn đã không làm được vậy. Văn cứ chăm chăm nhìn vào gương mặt nhợt nhạt cằn khô, từ đó rỉ ra những giọt nước mắt cam chịu đắng cay của mẹ.

*

*          *

Văn đưa cô gái qua trảng cát. Em câm lặng không nói một lời. Hình như em hóa đá. Buổi sáng trời âm u. Biển lặng gió. Chỉ còn những tiếng âm âm dội vọng như từ một thế giới khác. Những con thuyền bé tí ngoài kia, mong manh như những chiếc lá tre trôi dưới chân cầu. Hàng phi lao trơ trọi. Mùa đông còn dài. Mùa đông hoang vu. Văn khẽ cầm bàn tay em. Bàn tay lạnh buốt. Bàn chân trần tõe ngón thâm lại. Em đến vào mùa hạ. Em đi vào mùa đông. Nơi đây không phải là quê hương em, làm sao em trụ nổi. Em ở xa lắm. Sau dãy núi mờ mờ chỉ nhìn thấy mỗi khi trời quang nắng. Ừ em đi đi. Về nơi ấy, đó là nơi dành cho em. Nơi đây, em không có chỗ. Em như con chim rừng người ta đưa về xuôi bỏ vào lồng bắt hót. Em như con hươu, con khỉ mà người ta vẫn thấy trong vườn bách thú. Đau đớn. Lạc lõng. Đơn côi…

Tiếng còi tàu u u. Chuyến tàu sáng vẫn thường qua cái ga xép này và trút xuống một vài hành khách. Một buổi sáng nào em đã đến. Một buổi sáng với niềm hớn hở của một người con gái được đặt chân đến một vùng đất mới. Gió biển hào phóng. Chằng chịt những con đường nhựa, đường bê tông. Còi xe inh ỏi. Mới mẻ và lạ lẫm. Có thể em đã bị mê hoặc bởi những hân hoan về một cuộc sống tươi đẹp nay mai. Người ta hứa hẹn với em nhiều điều. Người ta đưa em qua những dãy núi trùng trùng kia và nói về viễn cảnh. Em sung sướng lẫn hoang mang…

 

*

*         *

Những tháng năm đói khổ ấy, mẹ Văn vẫn một mực nín nhịn bà nội. Vẫn để nỗi đau oan ức vùi dập tuổi thanh xuân mà sống, mà nuôi con. Nhưng đến khi bà Văn qua đời, cha Văn về thì mẹ bỗng hóa thành con người khác. Ra vậy. Cuộc đời có gì đâu để nói trước. Có thể mẹ Văn giờ mới trả thù bà? Có thể cha Văn đã làm cho mẹ đổi tính? Hay duyên số mỗi người? Văn cũng không hiểu được. Có những cái tưởng tốt đẹp bỗng trở nên xấu xa cũng là chuyện thường tình. Cơ chế thị trường, mẹ bỏ nghề giáo viên ba cọc ba đồng. Người bạn cùng ngành ngày nào giờ là bà chủ buôn hàng Trung Quốc ngoài thị trấn huyện. Mẹ theo bà ta. Mẹ muốn thoát khỏi cái làng nghèo dưới chân lèn Hai Vai buồn chán. Mẹ bỏ qua những lời khuyên của cha. Cha mày lạc hậu lắm. Cái ông “Bôn sê vích” của thời quá vãng. Mẹ hiểu, mẹ biết nhưng mẹ không nghe. Cuộc đời là bao. Sống khổ sống sở rồi thì cũng phải có ngày cho nó mở mày, mở mặt. Cha im lặng. Người như cha chỉ thuộc về đồng bãi, về con cá, củ khoai. Cha chỉ vui khi mưa thuận gió hòa, cây lúa chắc bông, vạt ngô trổ cờ trắng xóa. Cha làm bạn với lũ trâu thả rông dưới chân lèn. Làm bạn với những đêm sấm chớp mưa dông ra đồng bắt ếch. Làm bạn với gốc cây mục, giò phong lan đi tìm mãi trong tận thung sâu.

*

*         *

Văn bơi qua khe Cui. Thường ngày nó chỉ như cái rãnh nước nhỏ. Giờ đây, nước chảy xiết chẳng kém một hung thần. Văn nhích lên từng quãng ngắn. Cánh tay trần vạm vỡ gồng lên. Hai bắp chân mỏi nhừ căng ra đạp nước. Thân hình thâm bợt, tái ngắt vì nước bạc. Nước như những con trăn rừng tung mình từ trên ngọn cao, xoắn xít lấy người anh dìm xuống. Một khúc củi lớn băng băng theo dòng vừa xoay như xoáy ốc vừa lao bổ vào người. Văn lách xéo qua phải rồi qua trái. Khúc gỗ sượt qua, chạm sướt vào lưng lạnh toát. Hú vía! Văn bám được vào một đoạn dây rừng buông thõng. Kéo. Bám. Trầy trật. Gồng căng...Một lúc mới bò được lên bờ. Cũng nhờ mấy chùm dây leo, anh bện thành sợi ném qua suối để từng người một bám lấy bơi sang…

Cuối cùng, tổ Văn cũng tới lưng chừng núi Phu Loong. Bên kia cái đỉnh chót vót mù mịt hơi nước kia là bản Na May. Ở đó, có 15 hộ với 42 nhân khẩu. Ở đó, con người đang sống hoang mang trong những túp nhà chênh vênh bên hẻm núi. Họ không biết cái chết đang rập rình ngoài kia, sau những dãy núi xác xơ khô cằn vì chặt phá. Có thể các anh bất lực trước sức mạnh của thủy thần. Nhưng Văn và đồng đội anh biết phải làm gì. Phải kéo họ ra khỏi nhà trước khi lũ đến. Phải kéo họ ra trước khi ngọn núi im lìm sau nhà đổ ụp xuống. Phải chỉ cho họ thấy cái hiểm họa khôn lường mà con người gây ra và đang bắt chính con người gánh chịu. Phải đưa họ tránh xa cái chết trước khi quá muộn!

*

*         *

Em đã khác xưa ngày anh gặp. Má em hồng lại. Tóc em dày thêm, xổ xuống bắp chân đen nhưng nhức. Mỗi buổi sáng, khi chim rừng vừa thức giấc, em lại khoác gùi xuống suối Nậm He lấy nước. Mùa đến, em cõng gùi lên rẫy gặt lúa nương, bẻ ngô, hái bầu, hái bí... Hết mùa em ngồi đan rế, đan nong…Lễ Pa Sưm mừng cơm mới. Mẹ em đóng vai mẹ lúa. Mẹ tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở. Trong trang phục truyền thống, vẻ mặt trang nghiêm, mẹ niệm cầu thần trời Hrôi Yvang, thần đất Hrôi Ptê, thần nương rẫy Hrôi Hrê…Lời mẹ cầu du dương, thành tâm, tôn kính: “Tưới cho cây lúa mọc, cho cây lúa nảy mầm, cho hạt chắc bông dài, gốc lúa bằng gốc lau, bông lúa dài bằng quả núc nác…”

Gặp em bên bờ suối. Em vừa tắm xong sau buổi chiều lên nương. Suối Nậm He ngọt mát. Thịt da em sáng lóa dưới ánh chiều tà. Gió mơn man trên làn tóc đen dày buông xõa. Nước suối mát lành gột rửa thân xác em. Hình như tâm hồn em có chút gì xao động. Má em hồng lên. Mắt em long lanh rờ rỡ. Em e thẹn ngước nhìn… 

*

*          *

Cả tổ 1 đã sang tới bên kia đỉnh Phu Loong. Mưa bay lớt phớt. Trời thấp xuống là sà dày đặc những đám mây xám xịt ẩm ướt báo hiệu những cơn mưa vẫn chưa hề có dấu hiệu chấm dứt. Đứa nào đứa nấy thở phì phò như trâu cày. Văn bảo cả tổ nghỉ một chút lấy sức. Bản nhỏ mờ mịt đâu đó trong sương mù. Ít nhất khoảng một tiếng đi bộ nữa mới đến. Năm thằng như năm con trâu đằm dưới vũng bò lên. Bùn đất lấm lem từ chân đến đầu. Sùng sũng. Nhợt nhạt. Mệt mỏi…

Mù dưới khe sâu đùn lên lớp lớp…

Văn chợt nhớ đến câu chuyện cổ tích ngày xưa của cha. Văn chợt nhớ đến lời nói của cha sau ngày mẹ bỏ ra đi. Lòng nghẹn đắng. Đỉnh Phu Loong cao hơn đỉnh lèn Hai Vai quê anh. Sương Phu Loong trắng xóa  dày đặc hơn sương lèn Hai Vai. Dáng Phu Loong hùng vĩ hơn lèn Hai Vai gấp bội!

Cha ơi, bên kia lèn Hai Vai con chưa có dịp nào để chinh phục, mặc dầu sức trai của con bây giờ thừa sức làm chuyện đó. Đời lính đã rèn cho con có thể chinh phục nó một cách dễ dàng. Đỉnh Phu Loong đây, con đã bao lần khoác ba lô sang tận bên này. Cha ơi! Con còn nhớ câu chuyện cổ tích bên kia lèn Hai Vai. Nó chỉ là cái đỉnh núi mờ sương đầy huyền thoại và khắc nghiệt vô cùng. Nó chỉ là thứ ước mơ mà con người luôn khát khao. Phía bên kia đỉnh Phu Loong, bên kia lèn Hai Vai vẫn là những quả núi. Và sau nữa, sau nữa cũng chỉ vậy mà thôi. Là rừng, là cây, là những bản nhỏ chơ vơ lặng lẽ. Là sự hà khắc khủng khiếp của thiên nhiên mà con người luôn phải chống chọi hằng ngày để giữ lấy cho mình một con đường sống. Hướng tới cái đẹp, cái tốt lành là mong ước ngàn đời phải không cha?

Mưa. Bất thần mưa xối xả mịt mùng. Trời như sụp xuống. Dưới xa kia, hình như có một con trăn màu xám nhợt dựng đứng những cái vây gớm giếc trườn nhanh như chớp. Không! Đó là con suối Nậm He hiền hòa róc rách mùa khô. Giờ nó trở nên hung hãn tựa con quỷ dữ thè cái lưỡi dài xám xịt. Nó đã biến thành kẻ ác. Nó đang lao vùn vụt xuống phía có những mái nhà nhỏ nhoi đứng ép mình chơ vơ bên sườn núi dưới kia.

Nhanh lên, nhanh lên không thì muộn mất!

Văn xốc ba lô, năm người lính nhòa lẫn vào những cơn mưa dài bất tận…

 

 

TMH

                                                        

 

 

GÓC QUÊ

 

                                                                               

 

Bây giờ thì tôi và hắn đang ngồi với nhau trong một cái quán cóc ven sông Sài Gòn. Ngoài trời mưa lóa nhóa. Những cơn mưa phương Nam bất chợt, ồn ào. Hắn! Đáng lẽ ra tôi phải gọi hắn bằng anh, một ông anh đúng nghĩa. Nhưng một thời, rất lâu, lâu lắm, tôi từng gọi là thằng, là đồ này kẻ nọ, bởi có lúc hắn trở thành thâm thù của tôi. Kẻ tôi từng nguyền rủa là sẽ tìm cho ra và đòi nợ. Thế nhưng thời gian nghiệt ngã. Sự nghiệt ngã của nó làm tôi nguôi dần, xẹp xuống, nhạt nhòa...Giờ đây, những gì còn lại trong tôi chỉ là thứ ký ức ù òa, lẫn lộn…

-Uống đi cậu Ái! Khi mô cậu ra ngoài nớ?

Thật lạ! Đã mấy chục năm, nhưng cái giọng quê thô ráp, chân mộc ấy lại chẳng nhòa lẫn vào đâu được. Cái giọng quê của một vùng đồng bằng ngập mặn miền Trung cực nhọc, vất vả. Tuy vẻ bề ngoài của hắn giờ đây chẳng ăn nhập gì chút gì với giọng nói đó. Uy nghi, đường bệ. Hào hoa, lịch lãm. Hắn bây giờ là ông chủ, một ông chủ thực sự với cơ ngơi và vốn liếng khiến nhiều người kiêng nể. Vài ba cái biệt thự lừng lững. Dăm bảy miếng đất rải rác dọc các quận, huyện. Mấy chiếc ô tô đời mới. Tiền đầu tư ngân hàng và chơi chứng khoán thì chỉ mỗi hắn hay.

- Cậu Ái, anh gởi cái ni cho chị!

- Chi đó? Tiền chị tui không lấy mô!

- Cậu cố nói khéo giúp anh. Lỡ khi mô khó khăn chị cần đến!

Hắn nhìn tôi vẻ cầu khẩn rồi đẩy nhẹ cọc tiền bọc trong giấy báo qua bàn. Trong ánh mắt hắn không giấu được vẻ chán chường, u tối. Vóc dáng đẫy đà, trang phục bóng bẩy càng làm cho hắn thêm cô độc, buồn nản. Phải chăng khi con người đã quá dư thừa vật chất, họ cũng thành bất hạnh? Có lẽ biết tôi đang thầm dự đoán tâm trạng hắn, hắn cúi mặt. Và cứ thế, hắn ngửa cổ tu rượu ừng ực…

* * *

Làng tôi có tên là lạ: Đồng Môn. Làng nằm cách biển mươi cây số nên đất nhiễm phèn chua bạc phếch. Vùng trũng nước ngập ngụa gần như quanh năm, chỉ cạn khô khoảng vài tháng cuối hạ. Những cái hói rộng mênh mông um tùm năn lác. Chỗ đất cao, người ta rồng màu. Ruộng sâu chỉ cấy lúa một vụ, sâu hơn nữa thì bỏ hoang.

Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Cha tôi là anh phó mộc cui cút, cần cù. Một mùa lụt, cha đi cất vó gần con lạch chảy ra hói Lùng. Mê cá, hì hụp cả ngày, ngấm phải nước bạc, ốm ba tháng mười ngày thì mất. Mẹ tôi đau quá, sụm xuống, lại thương con bệnh tật, nhỏ dại, đói khổ, tức tưởi cầm lòng theo bạn lên mạn ngược đổi muối lấy thóc, đào rễ cây bài về nhập cho mấy xưởng làm hương ngoài chợ huyện, không may trượt chân ngã núi đi luôn. May mà được mấy người cùng quê đưa xác về. Năm đó tôi lên bốn.

Nhà còn lại hai chị em. Chị tôi tên Nhân, tôi tên Ái. Chị tôi bị tật nguyền từ khi mới lọt lòng mẹ. Hai ống cẳng chân chị teo quắt, khô đét, bẻ quặt ra sau. Chỉ khúc người trên của chị là phát triển bình thường. Sau này lớn lên chị tập bò bằng tay. Lớn chút nữa thì chị làm quen với hai cái đòn nhỏ để di chuyển. Lết đến đâu, chị thu đòn rồi ngồi lên lên đó, cũng vậy nên quần áo chị vẫn sạch bong, khác hẳn thằng em suốt ngày lê la đất cát của chị.

Năm tôi cỡ chín mười tuổi thì chị lột xác hóa thành một thiếu nữ phổng phao. Lưng chị tròn, eo thon, ngực nhu nhú phập phồng thẩy ra phía trước. Khuôn mặt chị nhẹ nhõm, dễ coi. Mái tóc thì khỏi chê; đen nhức lại buông  tha thướt. Mỗi khi chị xõa tóc sau khi gội đầu bằng hoa chanh trong vườn, mấy bà hàng xóm đi qua lại thở dài, chẹp miệng.

Một dạo, vào khoảng năm 1972, có một đại đội pháo binh hành quân về làng. Họ bắt tay vào việc đào hầm, đào hố rồi cho pháo xuống ngụy trang lại.

Từ đó, cứ đến ngày nghỉ lại có vài ba anh bộ đội tạt qua nhà tôi chơi. Phải nói nhà tôi như hớp phải một luồng gió mới. Họ làm cho không khí vắng vẻ nhà tôi xao động hẳn lên. Vui nhất là chị. Cứ chiều nào chị tôi lăng xăng dọn dẹp nhà cửa, om sẵn ấm chè thì y như rằng tối đó kiểu gì cũng có mấy anh bộ đội ghé vào. Như là chị tôi có linh tính vậy. Họ làm tôi vui lây. Nhưng việc họ đến rồi nói gì với chị thì tôi không quan tâm mấy. Chập tối, nếu không đi chơi cùng lũ bạn trong xóm thì tôi đã lủi theo anh Lãm hàng xóm đi soi cá ngoài hói Lùng. Anh Lãm cũng mồ côi mẹ, cha anh bỏ quê đi biệt tăm, anh ở lại với bà cô không chồng. Hói Lùng rộng mênh mông bạt ngàn năn lác. Buổi chiều, chúng tôi đã chuẩn bị đủ thứ. Nhiệm vụ của tôi là cầm đuốc, mang giỏ. Anh Lãm xách nơm. Anh được xếp vào loại rái cá của cái làng này. Có người chậc lưỡi: “sát cá rồi thì yểu số lắm”. Tôi không hiểu, chỉ biết là phục anh sát đất, tôn anh làm sư phụ. Phải nói mắt anh Lãm tinh như mắt mèo. Anh nhìn thấu những con cá khôn ngoan ẩn mình dưới làn nước đục. Anh chỉ liếc mắt như chớp rồi thoăn thoắt phóng nơm. Chỉ một lúc là cá lưng lửng giỏ.

Tôi có một đứa bạn gái. Nó tên Ngọc. Nhà cũng gần kề. Tuy khác giới nhưng chúng tôi chơi rất thân với nhau. Cũng bởi hoàn cảnh tôi và Ngọc có cái gì đó na ná. Ngọc mồ côi cha. Mẹ Ngọc đi bước nữa với một người đàn ông miền núi hồi mẹ Ngọc ngược ngàn bẻ đót về xuôi bện chổi bán. Ông ta có gương mặt lưỡi cày. Đôi mắt lé lúc nào cũng nhìn xăm xoi dè chừng những người hàng xóm. Có lần, một buổi tối, tôi rủ Ngọc đi xem phim ngoài sân ủy ban xã. Phim màn ảnh rộng. Đó là bộ phim chiến đấu của Liên Xô. Khuya khoắt phim mới hết. Hôm đó, tôi đã ăn phải một cái bạt tai tóa đom đóm của cha dượng Ngọc khi ông ta bắt gặp tôi thập thò nắm tay dắt Ngọc về sân. Ông ta chửi tôi từ nay cấm tiệt sang nhà. Từ nay cấm cửa chơi với Ngọc. Tôi không hiểu vì lẽ gì ông ta ghét tôi đến thế. Tôi căm thù ông ta nhưng đành nuốt hận vào bụng.

Cũng dạo ấy, chị Nhân tôi hình như đang yêu thầm một anh bộ đội nào đó. Tôi biết bởi thường thì khá khuya tôi mới đi chơi về. Có hôm chị tôi đã ngủ. Có hôm chị còn thức, ngồi bần thần bên góc bàn đọc một bài thơ hay bài hát nào đó của một anh bộ đội chép tặng. Mắt chị long lanh, đôi má rực hồng trước ngọn đèn dầu tù mù đỏ quạch. Tôi rón rén bước lại ngó xem, làm chị tôi giật mình gấu vội. Có lần, tôi lại thấy một anh bộ đội áp má kề tai chị tôi thủ thỉ điều gì đó dịu dàng lắm, làm chị tôi ngồi rạng rỡ mặt mày.

Khi tôi bước sang tuổi mười lăm thì đại đội pháo binh được lệnh chuyển đi. Tôi còn nhớ đó là một buổi sáng mùa đông mưa phùn bay lất phất. Mới sáng tờ mờ đã thấy mấy anh đến nhà chào chị em tôi. Có một anh dúi vội vào tay chị tôi bức thư rồi nói như hụt hơi:

- Nhân yên tâm, rồi có ngày anh quay lại!

Chị tôi lết ra trước thềm, vẻ mặt bơ phờ ngơ ngác. Đôi mắt chị sưng húp lên. Chắc chị khóc cả đêm qua khi tôi đang say sưa giấc mộng. Cuộc chia li bịn rịn. Tôi và chị tiễn các anh ra đầu ngõ. Mắt chị chăm chắm nhìn hút những bóng áo xanh xa dần...

Hơn tháng sau, anh Lãm gọi tôi sang nhà, bàn giao cho tôi cái nơm, vật mà anh rất quý vì anh sắp sửa lên đường. Tôi nhìn anh. Trông phong thái anh đĩnh đạc hẳn ra. Dáng người cao lớn, chắc lẳn như cây cột lim. Giọng nói đượm vẻ nghiêm ngắn lắm.

Chị sai tôi đi mua mật mía rồi nấu một mẻ kẹo cu đơ. Chị lại sai tôi gọi anh Lãm sang bắt ăn bằng chán, còn gói cho một đùm dành mang đi. Chị biết anh rất khoái thứ kẹo này. Rồi chị tặng anh một cái khăn tay trắng có thêu hàng chữ và mấy bông hoa xanh đỏ. Tôi tủm tỉm nhìn hai người. Anh Lãm thấy vậy cũng đỏ mặt. Chị thì cúi mặt lí nhí.

- Anh đi mạnh giỏi!

Các anh đi cả, cái xóm tôi ở buồn hoắt buồn hoe. Tôi chán quá cũng chẳng thiết làm gì, soi tôm soi cá cũng mất hứng. Lâu lâu, nhìn cái nơm gác chuồng trâu mốc thếch, tôi lại xách đi một vòng cho đỡ nhớ. Cá tôm ngoài hói ê hề nhưng mang về chẳng ai thiết ăn.

* * *

Năm 18 tuổi, thi trượt đại học, tôi làm đơn xin nhập ngũ. Thế mà trì trật mãi vẫn không xong. Người ta bảo xét hoàn cảnh nhà tôi neo người, tôi phải nuôi bà chị tật nguyền nên miễn. Nhưng chị tôi đâu cần tôi lo cho chị. Chị dành hết yêu thương cho tôi nên chị luôn tôn trọng và khích lệ những ý thích chính đáng của tôi. Chị cũng muốn tôi được đi ra xã hội để sớm khôn lớn trưởng thành chứ không phải quẩn quanh nơi góc làng thâm u quạnh quẽ. Cuối cùng thì mơ ước của tôi cũng được toại nguyện.

Nhưng còn một lý do nữa mà tôi không hề thổ lộ cho ai biết. Đó là chuyện Ngọc và tôi. Tình cảm chân thành của tôi và Ngọc hình như cha dượng của Ngọc biết. Mỗi khi tôi sang chơi nhà Ngọc thì ông ta nhìn tôi với một ánh mắt đầy ngờ vực và bực dọc. Nhưng tôi đã lớn, tôi đâu có sợ. Tôi muốn đi bộ đội để chứng minh cho ông ta thấy bản lĩnh của tôi.

Hôm trước ngày lên đường nhập ngũ, tôi hẹn được Ngọc ra ngoài con đê làng. Đêm dịu dàng. Cỏ dưới chân mát lạnh. Tôi, chàng trai 18 tuổi nay mới dám cúi xuống hôn lên môi một người con gái. Ngọc run rẩy ấm nóng. Nhưng cũng chỉ đến thế. Khi tôi mon men tiến xa hơn thì em đẩy tôi ra một cách quyết liệt rồi lào thào:

- Anh đi, em đợi…Khi nào cưới rồi em sẽ trao hết cho anh. Bây giờ thì em…em sợ lắm?

Sáng hôm sau tôi vác ba lô đi…

Đó là vào những năm đầu tiên đất nước hoàn toàn thống nhất. Sau đợt huấn luyện tân binh, tôi được điều về tỉnh, phân xuống huyện đội, ở trung đội vệ binh.

Làm anh lính địa phương không oách nhưng cũng có nhiều cái tiện. Đôi ba tháng các thủ trưởng lại ưu ái giải quyết cho mấy ngày tranh thủ về thăm nhà. Thế là được thăm chị, động viên đỡ đần chị ít bữa.

Một lần về tranh thủ thì thấy chị bảo:

- Anh Lãm về rồi đó em ạ!

Tôi mừng quýnh lao sang. Đúng là anh Lãm thật. Anh về từ chiến trường miền Nam. Trông anh oách lắm. Da dẻ có nhuốm đen, gầy, nhưng vẻ mặt và dáng dấp đúng là người từng trải. Anh cười khà khà:

- Cậu Ái lên cấp chi rồi?

Tôi đỏ mặt gãi đầu gãi tai:

- Dạ! Mới binh nhất ạ!

Anh Lãm lại cười ha hả:

- Thế là tợn rồi. Cứ lính thời bình như cậu sướng nhất đó!

Anh lục ba lô lấy ra con dao nhỏ bằng inox sáng lóa. Anh bảo:

- Tặng cậu làm kỷ niệm. Thứ này là hàng chiến lợi phẩm Mỹ đấy.

Tôi loáng thoáng thấy cái lược nhôm khắc chữ cầu kỳ rơi ra liền hỏi:

- Thế anh có quà cho chị Nhân không?

Anh gục gặc đầu:

- Cậu cứ yên tâm, phải có chứ!

Ngay ngày hôm đó tôi khi tôi ăn cơm tối xong định sang nhà Ngọc thì chị tôi nhìn tôi thảng thốt:

-Ngọc nó bỏ đi rồi!

Tôi ngớ ra:

- Răng chị? Răng Ngọc lại bỏ đi?

- Nó bỏ đi hai tháng ni rồi. Chuyện dài lắm!

Hóa ra câu chuyện của Ngọc làng xã đồn ầm ĩ lên từ cả tháng nay. Một buổi sáng, mẹ Ngọc đi làm về dở buổi thì bắt gặp chồng mình đang vật lộn với đứa con riêng của vợ trong buồng. Quần áo trên người Ngọc bị lão cha dượng xé ra gần hết. Mẹ Ngọc hét lên căm thù. Bà xăm xăm cây đòn gánh trên tay lao vào quật xối xả vào lão chồng dê xồm đê tiện. Lão cha dượng hoảng quá, vội vàng bỏ chạy ra vườn, trên người tồng ngồng không một mảnh vải. Chuyện cứ thế lan ra…

Tôi trở về đơn vị với bao nỗi muộn phiền và phấp phỏm về Ngọc. Thế là em đã bỏ quê hương đi thật sao? Thân gái dặm trường, em lại còn non nớt, làm sao mà đứng được giữa cuộc đời đầy sóng gió.

        Mấy tháng sau tôi mới có dịp về nhà. Lần này, tôi thấy chị có biểu hiện khang khác. Đang ăn dở bữa cơm trưa, chị bỗng bịt mồm lại, lết vội ra ngoài như muốn ói. Nước da chị xanh rớt. Cặp mắt thâm quầng dưới đôi lông mày dựng ngược. Tôi lo lắng hỏi:

- Chị bị bệnh chi rứa? Để em đi cắt thuốc bắc cho chị.

Chị lắc đầu quầy quậy:

- Không…Không việc chi cả! Không phải thuốc thang chi mô. Mấy bữa là khỏe thôi à.

Tôi lo và càng thương chị. Đợt đó tôi được nghỉ năm ngày. Nhìn cái nơm mốc thếch gác trên chuồng trâu, tôi lôi xuống rồi qua nhà anh Lãm rủ anh đi soi. Cửa nhà đóng im ỉm. Bà cô đi chơi bà con làng bên. Nghe hàng xóm bảo anh đã vào Nam mấy tuần rồi. Phục viên về quê, không có việc làm, ruộng vườn bỏ hoang, anh chán nản quay trở vào tìm con đường lập nghiệp.

Buồn quá, một mình tôi thất thưởng vác nơm ra hói Lùng. Một tay cầm đuốc, một tay xách nơm. Hói Lùng vẫn đầy cá. Mắt tôi giờ đây tinh như mắt mèo. Tôi xách một xâu cá nặng trĩu về cho chị tôi kho mặn ăn dần.

Hơn bốn tháng sau, vào một buổi chiều, thằng Hải bạn đồng ngũ cùng xã lao vào phòng tôi với vẻ mặt đầy bí ẩn. Nó mới được đi tranh thủ lên, chắc có chi mới đây?

- Ái ơi, mi xin thủ trưởng về nhà ít ngày đi. Chị mày đang có chuyện đó?

Mặt tôi biến sắc.

- Sao? Mi nói chi? Chị tao bị chi à?

- Không bị chi cả. Nhưng mà…dân làng người ta đang đồn ầm lên đó! Người ta nhắc đến cả mi.

Tôi hoang mang, bụng như lửa đốt. Không biết chị tàn tật thế mà mắc phải chuyện chi thì biết xoay xở ra sao. Nghe tôi trình bày hoàn cảnh, thủ trưởng giải quyết luôn ba ngày tranh thủ. Mừng quýnh quáng, tôi quên cả cảm ơn thủ trưởng, hấp tấp nhờ thằng bạn chở ra đường quốc lộ bắt xe cho kịp chuyến.

Tôi chạy xồng xộc, hớt hơ hớt hải vào sân rồi vừa gọi vừa đưa mắt tìm chị. Chị tôi đang ngồi góc giếng khơi băm chuối cho lợn. Dáng chị ngồi thật vất vả. Chị ngước lên thấy tôi, ánh mắt lộ vẻ vui mừng. Tôi chăm chú nhìn chị, định hỏi chị ở nhà có việc gì thì ánh mắt tôi chạm phải cái bụng lùm lùm của chị. Trời! Cái bụng như bụng bà chửa! Tôi hoảng quá, tiến lại gần hơn bên chị và ngồi thụp xuống nhìn chị trân trối. Chị kéo vội vạt áo che bụng, mặt thất sắc…Tôi chợt hiểu ra. Hai chị em nhìn nhau lặng đi một lúc. Rồi bỗng dưng tôi gào lên:

- Chị Nhân! Sao lại như rứa hả chị. Trời bắt hay răng mà chị mang khổ vào thân. Chị làm nhục cả thằng em của chị!

Chị nhìn tôi nước mắt ràn rụa:

- Ái ơi! Em tha thứ cho chị. Chị tại chị mong muốn…

Chị không nói hết câu mà chỉ ngồi nức nở…

Đầu tôi như muốn vỡ tung ra. Hàng trăm câu hỏi cứ xoắn xuýt bủa vây mà tôi không thể nào lý giải nổi. Tôi không bao giờ nghĩ có thể chúng tôi lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu như thế được. Tôi còn biết xử trí ra sao?

…Đêm, buồn quá tôi lang thang ra gốc đa đầu làng, hy vọng đầu óc sẽ vơi nhẹ đi phần nào. Khuya, Có mấy gã trong làng loạng choạng đi qua, giọng lè nhè hơi rượu. Lời nói của bọn họ vẳng đến làm cho tôi giật mình không thể không dỏng tai lên. Một gã nói:

- Tao đố chúng bây biết, đứa con trong bụng em Nhân là con ai?

- Mi đố rứa thì có thánh biết. Con ai chỉ có em Nhân mới biết thôi.

Giọng gã thứ ba nhão nhoẹt.

- Chắc gì con thiên hạ. Tật thế thì có ma nó mò đến. Không khéo con của thằng Aí cũng nên bay hè?

Mấy gã say lại rú lên cười hô hố…

Tôi chết điếng cả người. Máu xông lên đỉnh đầu rần rật. Uất ức trào lên tận cổ. Tôi nghiến chặt răng. Lúc đầu tôi định bụng sẽ lao ra và cùng chúng một bữa sống chết mất còn, nhưng may sao tôi cố gìm lại được. Có lẽ hai năm ở lính đã rèn cho tôi đủ bản lĩnh để biết kiềm chế những khi cần thiết. Tôi đau đớn câm lặng…

Rôi sự thúc bách muốn giải tỏa khiến tôi bỗng như điên dại trong đêm. Tôi chạy lang thang trên cánh đồng nhập nhòa dưới bầu trời sao dày chi chít. Tôi chạy qua hói Lùng. Tôi chạy qua nghĩa địa cha mẹ tôi. Tôi chạy mãi…

Khi tôi về đến nhà thì đã quá nửa đêm, ánh đèn dầu vẫn còn leo lét sáng. Chị Nhân ngồi bên bậu cửa đợi tôi, gương mặt chị như dầm trong bóng tối. Tôi ngồi bệt xuống thềm nặng nhọc:

- Ái…Ái ơi! Em cứ như rứa thì chị sống răng được! Chị có tội…Nhưng mà…em ơi!

Giọng chị chợt nghẹn lại đau đớn…

Tôi nói giọng lạc đi:

- Nhưng mà chị có biết thiên hạ họ nói răng không? Chị có biết người ta nhục mạ em răng không?

- Ái ơi…Tại chị muốn làm mẹ. Chị muốn nuôi một đứa con cho khuây khỏa khi em vắng nhà.

- Nhưng nó là con ai?- Tôi vẫn lạnh lùng.

- Con ai…Con ai thì cũng rứa thôi em ạ. Em biết chi cho nó thêm khổ thêm buồn. Mình lại làm khổ người ta.

- Người ta! Người ta là thằng mô? Chị mà không nói, tui sẽ chết cho chị coi!

Ma đưa lối quỷ dẫn đường thế nào mà tôi bỗng lừ đừ tiến đến cái giếng khơi góc sân sâu hun hút…

- Trời ơi! Sao em lại làm rứa hả Ái?

Chị Nhân kêu lên thảng thốt rồi vội kéo lê thân hình tàn tật theo tôi. Chị cứ lăn tròn mang theo cả cái bụng vượt mặt chà lên mặt sân đất đá bằng đôi tay còm cõi…

Tôi bước lên thành giếng. Cái thành giếng xây bằng đá ong thấp trèn trẹt, đen xỉn. Những vì sao đêm sáng lay lắt. Cả tôi, cả chị, phải chăng như những ngôi sao kia? Yếu ớt, cô đơn, đầy trắc ẩn…

Chị Nhân ôm chặt lấy chân tôi. Chị gào lên:

- Nếu phải chết thì người đó là chị Ái ơi? Tại răng em lại phải chết? Còn em muốn chị nói thì chị sẽ nói. Đứa con trong bụng chị là của anh Lãm…Chị xin anh ấy. Chị nài nỉ ước muốn có một đứa con. Lỗi không phải của anh ấy mô. Tại chị mà…

Lãm! Anh Lãm! Thằng Lãm! Tao căm thù mày! Tao phải hỏi tội mày! Nỗi tức giận trong tôi bùng lên dữ dội. Tôi nhảy chồm nhồm vào nhà giật mạnh cánh tủ. Con dao inox sáng loáng. Lãm! Tao trả lại cho mày con dao. Con dao sẽ là nhân chứng cho ân oán hai ta.

Tôi lao qua nhà Lãm. Bóng tối im lìm. Tôi chợt nhớ ra Lãm đã vào Nam từ lâu. Nhà khóa trái. Tôi ngồi bệt xuống đất. Tôi lao ra vườn. Con dao trong tay tôi vung lên đâm phầm phậm vào những thân cây chuối sứ…

Thời gian lặng lẽ muôn màu. Rồi tôi cũng dần nguôi ngoai nỗi đau, nỗi căm hận khi trở về đơn vị. Có lẽ tôi phải biết nhìn sự việc một cách độ lượng và thấu đáo hơn. Ngày được tin chị Nhân sắp sinh con, không phải sinh thường mà phải lên huyện để mổ, lòng tôi chùng hẳn lại. Tôi thấy thương chị hơn bao giờ hết. Tôi là thằng em bất nghĩa. Tôi là kẻ đem nhân nỗi đau tinh thần của chị lên gấp bội. Vậy thì sao tôi còn xứng là tôi nữa? Tôi cũng chỉ là một kẻ quá ư nhỏ nhen, ích kỷ, tầm thường.

Đúng vào ngày bé Thương chào đời, tôi đã kịp có mặt bên chị. Ánh mắt chị lúc đó rạng ngời hạnh phúc. Chị hiểu tôi lại là đứa em nhỏ bé thân thiết của chị ngày nào. Nước mắt chị ứa ra. Bé Thương khóc oe oe trên đôi cánh tay rung bần bật vì xúc cảm và sung sướng của tôi.

* * *

Sau ba năm làm nghĩa vụ quân sự, tôi xuất ngũ. Bây giờ chị tôi đã có bé Thương làm niềm vui sống. Tôi loay hoay với đủ thứ nghề. Nhưng số tôi trì trật. Đi buôn thì mất cả chì lẫn chài. Đi làm thợ xây thì lơ vơ sập giàn giáo suýt toi mạng. Có dạo, tôi bám theo mấy gã ngậm ngải tìm trầm đi xuyên rừng sâu với hy vọng đổi đời nhưng rồi trầm thì mù mịt tăm hơi mà tôi thì mang luôn căn bệnh sốt rét vào thân. Phải nằm liệt mấy tháng trời ở quê. Cũng may cho tôi có chị Nhân và cái Thương chăm sóc. Cái Thương đã lớn. Nó xinh xẻo như bông lý bông lài. Nó thường thích thú ôm cổ cậu mà líu lo đủ chuyện.

Rồi may mắn cũng đến với tôi. Vừa khỏi bệnh thì được ông chú họ làm việc trên tỉnh gọi lên đi học lái xe. Ông bảo:

- Mày đã từng là lính. Tao thấy cũng tu chí, cần cù. Đi học lái xe thì chẳng cần trình độ học vấn cao. Chỉ cần chăm chỉ, cận thận là được!

Tôi sướng quá, tất tả mang ba lô đi luôn.

Lấy bằng lái xe xong, ông chú xin cho tôi một chân phụ xe của ông bạn đang làm chủ một công ty vận tải hàng hóa. Thế là từ đó, tôi có dịp bôn ba vào Nam ra Bắc, thỏa chí tang bồng.

Mấy năm sau, bấy giờ tôi đã là một tay xế chính được tin cậy của ông chủ. Vào một đêm mưa bão sầm sập ở một khúc đường thuộc vùng đất lạ, tôi cho xe chạy vào tránh ở một cái quán nhỏ ven đường. Phía trước mặt là đèo. Khúc đường này thoải dốc, hai bên bạt ngàn rừng keo tai tượng. Leo heo vài ba cái quán mọc cách nhau thưa thớt. Thường thì bên ngoài quán treo biển “cơm phở- giải khát”, nhưng thực tế rất nghèo nàn. Cánh xe tải thường kháo nhau ở đây có lắm em trẻ và xinh, rất “hương đồng cỏ nội”. Giá cả lại bèo. Tôi cũng chỉ loáng thoáng vậy.

Gã đàn ông chủ quán có hàng ria mép rậm rịt và nước da thâm. Hắn nói trống không:

- Vào nhà cho ấm. Mưa bão này ít ra ngày mai mới chạy được!

Tôi hiểu là chẳng có cách nào khác. Thời tiết như vậy, đi đường đèo là quá ư mạo hiểm.

Lúc ra rửa chân tay phía sau quán, tôi chợt nghe có tiếng khóc rấm rứt vọng ra từ một căn phòng nhỏ. Những căn phòng ở đây tối tăm, ẩm ướt, thấp lè tè.

Tôi dúi cho gã chủ quán mấy chục ngàn rồi bảo gã kiếm ít đồ nhậu. Khi đã say là ngà, tôi vỗ vai gã bạo dạn:

-  Có cô em nào giải khuây không ông chủ?

- Có chứ!- Gã nhanh nhẩu đáp- Mới có một em từ miền rừng dạt về, xịn lắm. Cứ nhậu thoải mái. Tôi sẽ dành nó cho ông hẳn đêm nay.

Khi tôi loạng choạng đẩy cánh cửa bằng ván gép sơ sài vào căn phòng nhỏ thì mưa gió ngoài trời đang mỗi lúc một mạnh. Mưa quất ràn rạt trên mái tranh. Gió rít qua rừng cây ào ào quằn lên dữ dội. Chớp xanh lè kèm những tiếng nổ đinh tai…

Ngọn nến nhỏ cháy leo lét phía cuối phòng. Chỉ thấy một nửa khuôn mặt. Cô gái ngồi bó gối trên chiếc chiếu xộc xệch. Bộ quần áo nhàu nhĩ. Mớ tóc rối trên bờ vai gầy gò. Tôi là kẻ sống khá chỉn chu. Tuy vậy, lúc này, khi đã ngấm ra hơi men, đầu óc bâng lâng, tôi cũng muốn thử chút xem sao.

- Chào…cô…em!

Tôi nói giọng rượu, rè rè át tiếng mưa.

Cô gái ngoảnh sang nhìn tôi. Một đôi mắt to, đen, sâu và u tối. Có thể đôi mắt đó có một điều gì vừa lạ vừa quen hút lấy tôi.

Một cơn gió lạnh thổi tung cánh cửa ván tràn vào. Ánh nến chao đi, tắt ngấm. Một khoảng đất trời ngoài cửa chợt lòa sáng. Tiếp theo là tiếng nổ dữ dội như đất trời ụp xuống. Căn phòng xô nghiêng…

Cô gái hét lên sợ hãi. Mưa bão điên cuồng…

Tôi không có liên tưởng gì bởi cơn cuồng nộ của đất trời đêm hôm đó. Nhưng có một thực tế đó là ánh chớp số phận. Ánh chớp đã đưa Ngọc trở lại  với tôi, gắn bó với tôi suốt cuộc đời còn lại. Có người bảo: “lấy đĩ về làm vợ chứ ai lấy vợ về làm đĩ”. Tôi không quan tâm. Tôi chỉ biết là tôi đã tìm ra hạnh phúc. Hạnh phúc như những chuyến xe về bến an bình.

* * *

Bây giờ chị Nhân đã có thêm Ngọc và cu Tài. Chị tôi sắp sửa lên chức bà ngoại. Ngôi nhà nhỏ ở cuối làng Đồng Môn luôn vang tiếng cười. Tôi vẫn lang thang trên những chặng đường nay đây mai đó. Một lần tình cờ, trong chuyến xe chở hàng vào Sài Gòn, tôi gặp Lãm. Hai chúng tôi hẹn nhau ở cái quán cóc ven sông. Lãm có nhờ qua tôi gửi một số tiền cho chị Nhân. Tôi hiểu Lãm muốn giúp đỡ một phần nào để chị giúp đỡ cái Thương. Tôi không nhận. Mà chắc chị tôi cũng không bao giờ nhận. Bóng dáng của Lãm đã ngủ yên trong ký ức chị lâu rồi. Đánh thức nó dậy liệu có ích chi?

Một ngày mùa hè tôi được tin Lãm mất. Một anh bạn lái xe ở phía Nam báo với tôi qua điện thoại. Lãm mất vì một căn bệnh hiểm nghèo. Cuộc sống vợ chồng Lãm không hạnh phúc. Lãm chán nản, lao vào ăn chơi sa đọa, nghiện ngập nhiều thứ. Và cũng chính những thứ đó đã cướp đi mạng sống của Lãm. Anh ta còn kể thêm rằng, ước nguyện trong di chúc của Lãm là đem xác hỏa thiêu rồi gửi nắm tro về chôn ở quê hương.

…Đêm mùa hạ. Trời trong veo. Trên cao chi chít những ngôi sao lấp lánh. Tôi xách cái nơm mốc thếch, cũ kỹ, kỷ vật của Lãm tặng tôi hồi nào đi ra đồng hói Lùng.

Tôi ngồi nghe tiếng đêm thì thầm thổn thức. Vài ba tiếng vạc lưng trời. Tiếng cá quẫy nước sột soạt. Tiếng ếch nhái nỉ non…Khi những giọt sương rơi đầm trên tóc, tôi thong thả châm lửa hóa vàng cái nơm. Tôi hóa nó để nó đến cùng anh Lãm. Và tôi thanh thản nghĩ, ở nơi thẳm sâu âm thế, anh Lãm lại có được những niềm vui nho nhỏ ngày nào…

 

                                                                        

TMH

 

 

 

                   KHÁC MÁU

 

                                                                                        

                                                                                

 

          Mưa. Những cơn mưa cuối mùa dầm dề dai dẳng. Căn phòng trắng tinh lạnh lẽo. Cả những chiếc giường bằng thép trắng. Anh nhìn ra màn mưa với ánh mắt vắng xa buồn bã. Ừ, lạ thật! Cuộc đời sao giống những giọt mưa nối tiếp nhau lặng lẽ, chợt đến, chợt đi. Phải chăng trần gian là quán trọ?

         Ngoài kia ngợp một màu trắng xóa. Mới có vài trận mưa mà phố xá đã ngập mênh mang. Thành phố bợt bạt, ủ rủ. Thật buồn, cuộc sống văn minh, thời đại của internet, kỹ thuật số, vậy mà cứ gặp trận mưa là chẳng có cách gì tiêu được. Chắc do người đông quá!- anh thầm nghĩ. Ngay ở dưới gầm cầu, gầm cống kia cũng cứ chui lên những mái nhà lúc nhúc thì làm sao còn có chỗ cho nước chảy được. Ừ ...mà phải thôi, người ta nói, một mét vuông thành phố giá cả mấy cây vàng cơ đấy!

        Anh bỗng nhớ đến quê mình. Cái làng nhỏ ven sông ngập chìm trong gió bãi. Gió lồng lộng bốn mùa khoáng đãng hả hê. Ba phía là dòng sông gợn sóng. Con nước theo mùa chìm nổi xuống lên. Màu nước cũng theo mùa trong đục. Đồng bãi theo mùa đủ sắc màu mướt mắt xanh...

         Ở nơi đó, có mẹ anh da mồi tóc bạc...

         Mới tuần trước đây, anh vẫn là một con người khác hẳn. Mỗi buổi sáng thức giấc, anh thường lẩm nhẩm một bài hát vui. Mỗi chiều đi làm về, anh cầm lấy cái bình tưới đi thơ thẩn trong khoảng sân với mấy chậu cây cảnh. Ngoài ba mươi tuổi, một cuộc sống bình thường. Một tổ ấm xinh xinh...

        Thế rồi...Chuyện bỗng đột ngột xảy ra...

        Có một đoàn quân y cấp trên về kiểm tra sức khỏe định kỳ cho mọi người trong đơn vị. Họ phát hiện ra anh có một khối u nằm ở quả thận bên trái. Mới đầu chỉ là nghi ngờ. Họ khuyên anh nên đến bệnh viện lớn để chẩn đoán lại cho chính xác. Đầu tiên, lúc mới nghe thông báo, anh cảm thấy hoang mang cực độ. Anh bải hoải rụng rời chân tay. Đêm đêm, anh trằn trọc không sao ngủ được. Ban ngày, anh lơ ngơ như người mất hồn. Thấy vậy, vợ anh gặng hỏi rồi anh cũng nói. Mắt vợ đỏ hoe lo lắng. Bao năm đầu ấp tay kề, cuộc sống tưởng đâu êm đềm yên ả...

         Anh nhớ đến cái ngày đưa ma bạn. Chỉ mới tháng trước thôi. Cũng một ngày mưa tầm mưa tã...Bạn anh chết vì bệnh ung thư. Loại bệnh chưa chịu khuất phục bởi một nền y học nào. Từ đông y, tây y. Từ những phương thuốc gia truyền cho đến các loại tia xạ. Bạc tiền cuốn đi như nước, ấy vậy mà cuối cùng cũng đành bó tay.

        Một cái xác bợt bạt, nhăn nhúm, khô đét lại. Chưa tới bốn mươi tuổi, sự nghiệp còn dang dở, vợ dại, con thơ. Nó đã ám ảnh anh hàng tuần liền. Nó là biểu hiện của một thứ định mệnh khắc nghiệt nhất, đớn đau nhất.

          Ti vi thông báo hàng ngày về số người chết tai nạn giao thông. Nó trở nên nhàm chán trong cái môi trường dày đặc xe cộ. Cũng có nhiều loại người bị chết. Già có, trẻ có, tuốt tuồn tuột...Nhưng có điều an ủi bởi đó là những cái chết bất thình lình. Đi mà chẳng biết mình đi. Đằng này lại khác. Cái chết bệnh tật nó thật khủng khiếp. Nó rề rà, dai dẳng, đớn đau. Nó hành hạ người bệnh đến tận hơi thở cuối cùng. Có nhiều người phải tiêm moóc phin, thứ thuốc giảm đau rất hiệu qủa. Xài lâu đâm nghiện. Bỗng nhiên mang cùng lúc hai thứ bệnh; bệnh tật và bệnh nghiền thuốc. Nó biến họ thành những kẻ giả tạo, xa lạ với chính mình.

         Rồi cuối cùng thì anh và vợ cũng lục tục khăn gói kéo nhau ra tỉnh. Cái tia hi vọng mong manh, chấp chới trong anh tan biến. Cục u nằm đó, nó lặng lẽ hiện ra lù lù như một đòn chí mạng. Cắt! Phải cắt! Lời của vị bác sỹ đáng kính xói thẳng vào màng nhĩ, cuộn xoáy lên tận cùng bộ não. Anh đớn đau gục xuống. Ai biết sẽ ra sao trong những ngày sắp tới? Mất một quả hay mất cả hai? Mà mất cả hai thì coi như là mất đi mạng sống còn gì ?!

          Sự sợ hãi cũng dần dần nguôi ngoai tiếp những ngày sau đó. Anh đã dần  bình tâm lại cùng những tia hy vọng mới. Sau các kết quả xét nghiệm, tổ bác sỹ hội chẩn kết luận đây là một khối u lành, tuy nhiên cần phẫu thuật cắt sớm ngày nào tốt ngày đó. Lý do là nó phát triển khá nhanh và có thể lan sang quả thận còn lại. Trong đáy sâu tâm thức, hy vọng sống lại được nhen lên.

          Bên ngoài khung cửa sổ mưa đã nhỏ hạt. Những bóng người lòe nhòe bước vội trên vỉa hè. Mấy cô gái áo phông, váy ngắn, mắt xanh, tóc vàng bì bõm dắt tay nhau cười như nắc nẻ. Những gã đàn ông bụng phệ tóc tai ướt nhèm nhẹp phóng xe lao vù vù trên đường. Thành phố với anh xa lạ quá. Nó làm anh thêm cô đơn trống trải. Hôm qua mấy anh em đồng đội vượt mưa gió xa xôi đến thăm. Anh cảm động ứa nước mắt. Rồi cả vợ anh nữa. Mới có mấy ngày mà cô ấy trông xác xơ như tàu lá héo. Sáng nay, chưa bảnh mắt đã vội vội vàng vàng tất tả lao đến nhà người quen để giật nóng ít tiền. Phố xá đắt đỏ; “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Lại còn đứa con gái nhỏ phải gửi nhờ ông bà ngoại trông nom.

           Ngày kia đã lên giường mổ. Tuy nỗi sợ hãi không còn ám ảnh nhiều song cứ nghĩ đến lúc những cái dao, cái kéo sáng lạnh xiết vào da thịt khiến anh có cảm giác gai gai buốt sống lưng. Người ta kể rằng nhiều vị bác sỹ mổ xong để quên dao kéo trong lồng bụng. khâu xong rồi lại phải mổ ra. Thật khủng khiếp!

          Mưa bắt đầu nặng hạt. Đường phố thưa thớt bóng người. Tiếng gõ rền rĩ trên mái tôn như khúc tấu bi ai dội vào hồn oán thán...

                                                              *

                                                         *        *

          Hồn ma trôi dật dờ dưới trăng. Thứ ánh sáng lạnh, chảy nhập nhòa trên tán cây vạt cỏ. Có đêm hồn ma nhập vào ngọn gió chạy lang thang mải miết trong rừng rậm. Có đêm hồn ma lại nhập vào đám sương bay lảng bảng trong khe núi thung sâu. Lại có đêm hồn ma ẩn mình trong chiếc lá khô trôi dập dềnh theo con nước...

          Hồn ma thảng thốt hỏi: “Ta về đâu? Về đâu? Về đâu?...” Rừng trả lời trong âm âm vi vút gió: “Hư...ừm... Ngươi đã thành người của rừng, ngươi phải ở lại rừng!”. Hồn ma lại hỏi :“Ta có quê hương. Ta có mẹ có cha. Ta có vợ và con, sao ta ở lại?”. Rừng thở dài não nề: “Hư...ừm...Ngươi hết đường về rồi. Đất đã giữ ngươi ở lại”. Hồn ma buồn bã: “Nhưng ta ở đây buồn quá, lạnh quá! Ta cô đơn mấy chục năm rồi. Sao không ai giúp ta, đưa ta về bên những người ta yêu quý?”. Rừng bỗng nhiên nổi gió. Lá rụng rào rạt, rào rạt: “Hừm...Ngươi hỏi nhiều quá! Nhiều quá! Có giỏi ngươi tự tìm lấy đường mà đi...”.

           Hồn ma ẩn mình trong chiếc lá trôi xuôi. Sau những ngày nổi nênh tìm kiếm, Hồn ma dạt vào một cái bến nhỏ, lau lách um tùm. Sát bờ có một phiến đá lớn màu xám xịt. Hồn ma lặng đi. Phiến đá rêu xanh ẩm ướt. Nó nằm phủ phục nghe tiếng suối reo và thời gian trôi mải miết. Hồn ma nhớ lại ...

          Cái đêm xa lắc xa lơ...Cái đêm đoàn xe dừng lại nơi đây. Một cái trạm thanh niên xung phong. Không gian yên tĩnh. Sau trận mưa rừng trời mát lạnh. Sức sống nứt bung dưới lớp vỏ sần sùi gân guốc. Bốn bề, côn trùng đang tấu lên bản hơp ca nguyên sơ hoang dại. Trăng lờ mờ hiện ra...

         Trên phiến đá có một đôi nam nữ đang tự tình. Họ quen nhau tình cờ. Cô gái có cái bớt đỏ ở thái dương bên trái. Sau mấy lần gặp gỡ, người đàn ông phát hiện cô gái nhìn mình với ánh mắt thật lạ. Nó đau đáu mơ màng, lại cháy bỏng như có lửa bên trong.

          Người đàn ông đã có vợ. Cách đây gần một năm anh nhận được tin vợ đã sinh con trai. Một tuần liền bên vợ, anh được hưởng trọn cảm giác của thằng đàn ông khi đắm chìm trong hoan lạc. Mỗi khi nhớ lại, da thịt anh cứ râm ran tê cứng. Lâu lâu, cái nhức nhối của thằng đàn ông xa vợ cứ cuộn lên âm ỉ.

          Rồi những cung đường hiểm nguy đầy bất trắc lại hiện ra trước mặt. Sự sống và cái chết cứ ám ảnh chập chờn. Những lúc đó lý trí hướng tới sự sống đã át đi tất cả.

          Hơi ấm của cô gái lan nhẹ. Người đàn ông quàng tay qua vai cô. Cô để yên rồi sẽ sàng tựa vào vai anh tin cậy. Họ đã nói gì với nhau? Không ai biết được. Aí tình là thứ ma lực ghê gớm không thể nào giải thích nổi. Đất trời đã xui khiến họ gặp nhau ở chốn này.

          Hồn ma nhớ lại...

          Cô gái có cái tên thật dễ thương: Lặng. Cô lớn lên dọc dải đất miền Trung gió Lào khắc nghiệt. Bố cô gốc gác là dân đi biển. Nhà quá nghèo, lại đông anh em cộng với vẻ ngoài xấu xí nên gần bốn mươi tuổi mới lấy được vợ. Cũng nhờ sự run rủi của số phận. Trong một mùa biển động, chàng trai nghèo vớt được một người đàn bà dạt vào bờ trên một tấm ván. Người đàn bà chỉ còn thoi thóp thở. Anh vội vàng đưa về nhà mình và thuốc thang chữa chạy. Mấy ngày sau thì người đàn bà hồi tỉnh. Sự việc rõ dần... người đàn bà ấy ở một vùng quê khác. trong một lần cùng chồng chở hàng thuê bằng thuyền chạy ven biển, tai họa ập đến, họ gặp một trận gió lốc và thuyền bị đánh chìm. Trong cơn tuyệt vọng, người đàn bà đã vớ được một tấm ván và nương vào đó nhờ sóng đẩy dạt vào bờ...

           Sức khỏe người đàn bà khá dần lên. Người đàn ông chợt cảm thấy lòng mình tràn ngập một mỗi niềm khó tả. Trái tim anh bối rối. Anh đã cảm mến người đàn bà tự bao giờ? Anh không biết nữa. Nhưng lý trí nhắc nhở anh không cho phép. Người đàn bà đã có chồng. Anh cố dìm tình cảm của mình lại...

          Người đàn bà rưng rưng nước mắt, vái sống ân nhân của mình ba lạy rồi xin phép ra đi. Bỗng hơn hai năm sau thì người đàn bà đột ngột quay lại. Thì ra, về quê hương người đàn bà không thấy chồng mình trở về bèn lên đường tìm kiếm suốt dọc theo bờ biển hết ngày này qua tháng khác. Nhưng tất cả đều vô vọng. Không có lấy một chút mảy may tin tức nào về người chồng xấu số. Biển đã dìm vào lòng tất cả những điều bí mật. Đợi thêm một năm, hai năm...Thế rồi người đàn bà quyết định quay trở lại nơi mà mình đã được cứu sống để hy vọng sẽ trả phần nào cái ơn cứu mạng ngày trước...

           Người đàn ông đen đúa xấu xí đã tìm được một nửa còn lại cho đời mình. Đó là những tháng ngày thật ngọt ngào và hạnh phúc. Người đàn ông trẻ lại đến mấy tuổi. Gia đình làng xóm đều mừng lây cho vợ chồng họ. Hơn hai năm sau, một bé gái ra đời. Nó trắng trẻo, dễ thương, xinh xắn. Nó mang ren trội của mẹ. Bố nó đặt cho nó cái tên thật đáng yêu: Lặng. Bố nó mong cho nó sau này sẽ có một cuộc đời như sóng yên bể lặng.

        Thế rồi cũng vào một mùa biển động, làng biển đói xác xơ. Không thể ngồi chờ chết, bố nó dong buồm ra khơi để rồi mất hút cùng những con sóng dữ. Mẹ nó suy sụp rất nhanh. Nỗi mất mát quá lớn đã đè bẹp trái tim người đàn bà vốn lặng lẽ và đa cảm. Chiều chiều, người đàn bà lại ôm con lang thang dọc bờ biển. Đôi mắt bà đờ đẫn nhìn ra xa. Nơi đó chẳng có gì khác ngoài những con sóng bạc đầu dồn đuổi nhau buồn bã...Bà ước muốn mình được chìm lẫn vào những con sóng đó. Nhưng rồi, bà không thể nào thực hiện nổi điều đó. Cái níu kéo, trì buộc bà ở lại với cuộc đời này là đứa con gái nhỏ dại, bé bỏng, ngây thơ...

         Đầu những năm bảy mươi, chiến tranh đang vào giai đoạn gay go và ác liệt. Cả dải đất miền trung đỏ rực vì  bom đạn. Lặng bây giờ đã là một thiếu nữ xinh xắn. Quê Lặng tuy không nằm dưới tầm kiểm soát của địch nhưng lại là cái túi bom mà bọn Mỹ Ngụy điên cuồng thả xuống. Bởi cũng chính vì đây có tuyến đường huyết mạch Trường Sơn. Những đoàn thanh niên xung phong vội vã lên đường. Họ là những cô gái mười tám đôi mươi trẻ trung xinh xắn. Lặng cũng đi. Cô háo hức, hớn hở được góp sức mình trong cuộc kháng chiến vinh quang đó.

         Thế rồi một lần, có đoàn xe chở hàng vào mặt trận. Họ dừng lại bên một trạm thanh niên xung phong. Trời đã nhập nhoạng. Họ vội vã chuẩn bị cho bữa ăn tối. Chàng trai có mớ tóc loăn xoăn xách can nước chạy băng băng xuống con suối nhỏ. Không gian yên tĩnh, chỉ nghe tiếng suối róc rách chảy và lá cây rung khe khẽ trong gió...Một ngày yên tĩnh của chiến tranh. Chợt có tiếng hát lanh lảnh như tiếng chim rừng. Người đàn ông khẽ giật mình. Trong mờ mờ ảo ảo của hơi sương bốc lên, xa xa thấp thoáng một phiến đá lớn bằng phẳng xám xịt. Hình như có một bóng người nhỏ bé đang cúi lom khom. Đích thị đó là một cô gái. Chắc cô ta đang giặt giũ quần áo. Hẳn là một cô gái trẻ và đáng yêu? Nghe tiếng hát thì biết. Tiếng hát lảnh lót, ngân nga vang lên trong một buổi chiều tĩnh lặng của chiến tranh làm người đàn ông sững sờ, ngây ngất. Một nỗi bâng khuâng, xao xuyến khó tả dâng ngập trái tim. Ước gì mình đựơc làm quen với cô ấy. Đã khá lâu rồi mình không được tâm sự cùng người khác giới. Sao mình bỗng thèm được nói chuyện đến vậy ? Anh thầm nghĩ và khoan thai đi xuống phía cô gái...

 

                                                           *                                                     

                                                       *       *

          Hồn ma nương theo cơn gió dạt về một dải đất xa lạ. Dải đất có những ngôi nhà lá nép mình bên biển. Sóng vỗ ào ạt. Những hàng dương xanh đến ngợp hồn...

          Hồn ma nhớ lại...

         Trời nắng chang chang. Con đường cát trắng chạy ngoắt ngéo  dưới những hàng dương vi vút. Một đứa trẻ tóc khét nắng, da đen nhẻm cỡ chín mười tuổi khoác cái sọt đi cào lá. “Cháu ơi, cho chú hỏi nhà cô Lặng con bà An ”. “Bà An xóm Đình phải không chú?”. “Ờ, phải đó!”. “Chú đi thẳng, sau gặp ngã ba, rẽ trái một đoạn. Cái nhà có hai cây dừa trước cổng đó chú.”

          Người đàn ông đẩy cái cổng tre sơ sài bước vào. Tim người đàn ông đập rộn lên. Anh ngập ngừng nửa muốn tiến lên nửa muốn quay lại. Phải bước lên thôi, anh nghĩ. Anh không thể là kẻ vô trách nhiệm. Kẻ sa ngã phải biết nhận lấy lỗi lầm của mình mà dũng cảm đứng lên, mặc dù anh cũng chưa lường hết được những điều có thể xảy ra trong tương lai...

          Đã ba năm kể từ cái đêm gặp gỡ ấy. Có thể là ngay buổi đầu gặp nhau, họ đã say lòng mặt. Cuộc đời đôi lúc thật trớ trêu. Người đàn ông biết mình có thể làm khổ một đời con gái. Nhưng có lẽ cuộc đời là vậy.  Đôi khi lý trí không đủ tỉnh táo để dẫn dắt tình cảm một con người, nhất là trước một cô gái dịu dàng mộc mạc nhưng cũng nồng nàn dữ dội như sóng biển. Biển đã ăn sâu vào máu thịt cô...

        “Mẹ...Mẹ ơi...con là...”. Người đàn bà già nua bước lần lần ra cửa. Gương mặt quắt queo vì tuổi tác và nỗi cực nhọc đè lên tấm lưng còng. “Anh là...là...”. Một đứa trẻ lẫm chẫm tập đi bíu lấy người đàn bà và khóc. Người đàn bà vội vàng ôm chặt lấy nó. Nó nấc lên. Nó nhìn anh với ánh mắt sợ sệt. Anh muốn khụy xuống. Một thứ linh cảm mạnh dội thẳng vào tim anh thảng thốt...Phải! Nó đấy! Chính là nó rồi. Giọt máu lưu lạc của anh, kết quả một mối tình chợt qua nhưng còn âm ỉ cháy. Con ơi! Cha có tội, cha làm khổ một đời con gái. Cha làm khổ mẹ con, khổ con. Cha biết chuộc lỗi sao đây?

        “Con ơi...Lặng nó mất rồi, con biết không?”. “Sao? Sao...ạ? Tại sao lại thế? Khô...ô...ng? Mẹ, có thật như thế không hả mẹ...?”. Người đàn ông rụng rời kêu lên, mắt dại đi, bàn tay run lẩy bẩy: “Hô...ôm...hôm trước...con qua trạm mấy chị em có kể cho con nghe...”.“Trời ơi...! Sao ông trời lại nỡ bắt nó đi vậy ?”. Người mẹ gìa rên lên đau đớn rồi lập cập bước đến bên bàn thờ. Trên ấy giữa chập chờn khói hương luẩn quẩn, hình như có bốn đôi mắt từ hai tấm ảnh đang cúi xuống với ánh nhìn lặng lẽ. Những tia nhìn hình như từ một cõi nào đó thăm thẳm xa xăm...

           Anh bàng hoàng đau đớn...Thế là anh đã không còn có cái cơ hội được cầu xin cô ấy tha thứ...

          “Khoảng tháng tư thì nó về. Lúc đó nó đã có thai gần ba tháng. Nó kể hết về anh. Nó bảo vì nó yêu anh quá. Thế rồi chuyện vỡ lở. Chị em trên đó người ta thương nó lắm. Người ta muốn bảo vệ, chở che cho nó. Chị em sống chết có nhau mà. Có mấy đứa bạn gái cùng lứa đã hy sinh. Nhưng mà...nó bảo tổ chức là tổ chức. Kỷ luật là kỷ luật. Cấp trên người ta không cho phép nó như thế được. Người ta bảo thế là vi phạm và nó buộc phải trở về làng. Con ơi! Cuộc sống đâu có dễ. Hồi đầu, ở làng người ta xì xào dị nghị nhiều lắm. Hai mẹ con chỉ còn nước là ôm lấy nhau mà khóc. Rồi dần dà, khi biết chuyện người ta cũng thương. Người quê là vậy, mẹ và con lặng cũng thấy đỡ tủi phần nào. Đến tháng mười thì nó sinh. Ngày hôm đó mưa bão đầy trời. Biển động dữ dội, sóng gào rú suốt đêm. May mà mẹ tròn con vuông. Mẹ mừng quá. Mẹ đặt tên cho nó là Gió. Mẹ mong sau này nó như ngọn gió thổi mát đời cha mẹ nó. Nó nói, khi mô anh trở lại, hai đứa ra mắt họ hàng rồi đưa con ra bắc. Chuyện đã lỡ rồi chắc cũng không ai nỡ trách lâu mô. Mẹ thương nó quá. Phận đàn bà...Âý thế mà nó vội bỏ đi. Cái...cái buổi sáng hôm đó. Nó đưa thằng Gió cho mẹ giữ. Nó quảy đôi quang gánh và cái cuốc đi dỡ khoai lang sau bãi. Nửa buổi thì nghe tiếng ì ầm của máy bay Mỹ vút qua. Chúng bay từ phía biển vào. Dạo này chúng bỏ bom đánh phá dữ dội trên các trọng điểm giao thông...Một lúc sau thì mẹ nghe một tiếng nổ rầm trời phía sau đồng bãi. Tim mẹ như thắt lại. Mẹ bồng thằng Gió chạy ra chạy vô. Mấy phút sau thì nghe tin dữ...Trời đất ơi! Lặng ơi, sao con khổ rứa? Chính cái quả bom thừa mà bọn ma quỷ đó quăng xuống cho hết đã giết chết mấy người vô tội, mà lại toàn đàn bà, con gái...Lặng ơi, sao đời con lại toàn chuyện buồn chuyện khổ?”. Từ đôi mắt người đàn bà, đôi mắt chất chứa nỗi thống khổ của kiếp người, những giọt nước mắt đùng đục lặng lẽ trào ra...Người đàn ông đầu gục xuống, trái tim quặn thắt. Mình có tội với mẹ con cô ấy. Nếu cô ấy còn sống, mình biết nói ra sao?

           Hôm trở lại cái trạm thanh niên xung phong, mấy chị em chạy ra đón mình với những gương mặt đẫm nước mắt. “Lặng về rồi anh ạ!”. “Sao? Lặng sao?”. “Lặng về rồi. Lỗi là ở tại anh đó, anh biết không? Trời đất ơi...Tại nó thương anh mà. Sao anh về muộn quá...?”

           Người đàn ông lặng lẽ đi xuống con suối nhỏ. Con suối có tảng đá lớn màu xám xịt phẳng lỳ. Nó vẫn lặng im nằm đó. Nó như là nhân chứng của một thời, nhân chứng của một mối tình đầy trắc ẩn. Xa xa, ánh tà dương đang tắt dần. Hoàng hôn đỏ sậm như máu. Trời nín gió. Không gian như đông đặc, không trôi...

           “Mẹ! Con xin mẹ cho đưa cháu về ngoài đó. Ngoài đó yên bình hơn. Ở đó không có tiếng bom, tiếng súng...”  

           Người đàn bà già nua tay run run trao cho anh đứa bé. Trong mắt bà, đôi mắt đục nhờ răn rúm, bỗng cháy lên những tia sáng ấm.

          Hồn ma lại đi, lại chìm trong mây trong gió. Trong những cơn mưa dầm dề dai dẳng. Cứ thế, theo tháng, theo ngày, theo con nước dập dờn trở lại quê hương...

      

                                                              *  

                                                          *       *

           Hồn ma nhớ lại...

           Những con trâu đen trùi trũi lao sầm sập từ bờ bắc xuống sông. Cuộc thi vượt sông bắt đầu. Những con trâu to kềnh càng, vươn đầu lên thở phì phì trên mặt nước. Hai cánh sừng đen bóng nhấp nhô. Những cái lưng bè rộng như cánh phản xõa nước ướt nhẫy. Trên lưng mỗi con trâu là một cậu bé, vận quần đùi, áo quấn lên cổ, hai gót chân quặp chặt và thúc liên hồi vào hai sườn trâu. Đoàn trâu lồng lên, căng rướn. Nước đẩy rào rào...Tiếng hô cổ động của bọn trẻ làm rộn một khúc sông...

           Hồi đó, cuộc thi nào hắn cũng thắng. Bọn trẻ trong xóm phục lăn. Mười sáu tuổi hắn đã cao gần mét bảy. Tóc xoăn, miệng rộng, ngực nở như ngực trâu đực đến thì. Hắn khôi ngô tuấn tú giống chàng hiệp sĩ trong truyện cổ tích. Mấy thằng bạn cùng lớp hỏi: “Mày ước sau này làm gì?”. “Tao muốn được làm lái xe.”. “Nhưng mà chúng ta sắp đi bộ đội”. “Bộ đội cũng cần lái xe chứ sao ? Tao nghe nói lái xe Trường Sơn oách lắm. Này nhé: Xe không kính không phải vì xe không có kính / Đạn giật bom rung kính vỡ mất rồi...”

          Thế mà ước mơ của hắn thành hiện thực. Mười tám tuổi, hắn vào quân ngũ. Sau mấy tháng huấn luyện, hắn được cử đi học tiếp lái xe. Sung sướng quá, hắn nhảy cẫng cả lên. Sau này thì tha hồ mà kể cho mấy thằng bạn cùng xóm nghe chuyện lái xe chiến trường nhé! Bọn nó sẽ há hốc mồm lên nghe là cái chắc? Nhưng không biết có còn gặp được đứa nào mà kể. Bọn con trai cùng lứa đã lên đường nhập ngũ hết. Thằng trinh sát, thằng đặc công, thằng pháo binh, đủ cả. Gặp lại nhau chắc sẽ không thiếu thứ chuyện gì trên đời...

         Hắn lao vào học tập rèn luyện và kết quả chẳng phụ hắn. Kết thúc khóa học, hắn được cấp trên cho nghỉ phép mười ngày. Ôi! những mười ngày cơ đấy. Mười ngày thật là quý giá. Mười ngày ấy hắn đã làm được cả một chuyện lớn. Lấy vợ! Mà chẳng phải ai xa lạ cả, cái cô Huệ xóm dưới, thua hắn một tuổi. Huệ ngực săn, mông nở, bắp chân chắc lẳn như cây chuối hột. Hắn biết Huệ từ nhỏ, từ hồi hắn cùng lũ bạn đua trâu ngoài sông. Thuở ấy, Huệ thường xổ cỏ dưới bến, thấy hắn lúc nào cũng là người thắng trận, Huệ cảm phục lắm. Huống chơi có hai hôm rồi ngỏ lời. Huệ bẽn lẽn gật đầu, mặt đỏ bừng, mắt long lanh sung sướng.

         Hai gia đình bàn bạc và đến ngày thứ tư thì đám cưới được tổ chức. Chóng vánh mà vui, đám cưới thời chiến là vậy. Hắn và Huệ có những sáu ngày trăng mật hạnh phúc bên nhau. Độ ấy là trung tuần tháng sáu. Ve kêu ra rả suốt đêm ngày. Trăng sáng vằng vặc. Hai người có những đêm nồng nàn không ngủ...

                                                                 *

                                                            *         *

          Người đàn bà gom vội những thân ngô xếp lại rồi buộc thành từng bó. Những cây ngô sau khi đã bẻ ngọn và bắp chết dần chết mòn thành những thân xác xơ đuồn đuỗn. Loại này đem về đun thay củi, tuy không đượm lửa song cũng đỡ được phần nào thứ chất đốt hiếm hoi ở cái vùng quê lam lũ nghèo khó này. Dưới kia là sông, con sông trườn một vệt dài bàng bạc, xa hút tầm mắt. Nó cuộn một vòng ôm gọn cái làng bé nhỏ của bà vào lòng rồi chuyển hướng đổ về phía đông. Con sông đã tắm táp, nuôi dưỡng cũng như mang trọn nỗi đau đeo đẳng suốt cuộc đời bà. Biết bao lần bà đã điên cuồng, căm giận nó. Nhưng rồi nó cứ mãi mãi âm thầm vỗ về an ủi xoa dịu, để suốt đời bà sống lặng thầm bên nó, buồn vui và sẻ san cùng nó...

          Người đàn bà bước những bước chấm phẩy, xô lệch trong bóng tà chạng vạng. Không gian quạnh quẽ đến nao lòng. Những ngọn gió hắt lên từ mạn sông qua bãi ngô xác xơ, réo rắt...

          Mùa lũ năm ấy. Cơn lũ khủng khiếp mấy chục năm mới lặp lại. Sau mấy ngày mưa liên miên tầm tã, nước sông bỗng lên cao từng phút một. Lũ đầu nguồn đổ về làm cho con sông sục sôi điên loạn. Nó trườn nhanh vào làng một cách khủng khiếp. Vườn tược đã ngập hết. Trong lúc những người lớn đang tất tả dọn mọi thứ có thể dồn được lên chái nhà thì lũ trẻ con hò hét tung tẩy nghịch nước trước sân. Căn nhà nhỏ góc làng chỉ có ba mẹ con. Người đàn bà ruột nóng như lửa đốt. Nước đã xâm xấp vào đến nền nhà. Mặc dù đã căng người lên suốt buổi nhưng vẫn còn biết bao thứ chưa đưa được lên cao. Lại con lũ lợn rống eng éc góc chuồng và con bò già thúc sừng vào gióng sầm sập. Mắt chị hoa lên...Chẳng ai giúp được lúc này. Hàng xóm láng giềng chắc cũng vậy, họ đang cuống cuồng lo cho việc nhà mình.

         Cái bì thóc nặng quá. Kéo được nó lên sàn, chị bỗng thấy hụt hơi muốn xỉu đi. Bỗng chị giật thót mình khi ghe tiếng kêu thất thanh của thằng con lớn. Không kịp nghĩ gì thêm, chị choài người lao xuống. Sóng dập dềnh, cuồn cuộn. một màu nước đục ngầu mênh mang. Phía mé tây, nơi có cái ao nhà, một túm tóc đang trồi lên ngụp xuống...Loáng thoáng bóng thằng con lớn bơi ra. Chị hét lên một tiếng rồi dồn hết sức bình sinh lao theo. Nước ở sân đã ngập gần ngang bụng. Chợt hai cái đầu trẻ con biến mất. Chị nín thở lặn một hơi thật sâu. May quá! Chị quờ tay túm được cái chân thằng bé liền vội vàng đạp nước ngoi lên, xồng xộc vác thằng bé vào nhà đẩy ào lên phản rồi vội vã nhao trở lại. Cả đất trời nhuốm một màu nước bạc. Nước duềnh lên cuộn xoáy. Chị cố thu hết chút sức lực còn lại của mình bằng tất cả niềm tin và ý chí. Nhưng đã muộn...Chị bỗng cảm thấy mình vô trọng lượng. Đầu óc, chân tay cứng đờ tê buốt.             chị thấy mình lịm dần, lịm dần, xuôi đi...

          Sau hơn hai tháng nằm liệt giường, người đàn bà mới lần lần hồi tỉnh và bắt đầu bước những bước chập chững của đứa trẻ mới tập đi. Một cái chân đã thành tật vĩnh viễn. Đáng ra chị đã không còn tồn tại trên cõi đời này. Những người hàng xóm đã đến kịp thời. Nhưng từ đó, ngôi nhà chỉ còn lại hai mẹ con.

           Ngày ngày, người đàn bà ôm đứa con vào lòng và nhìn thẫn thờ ra bãi sông hoang vắng. Đôi mắt chị tối thẫm chứa đựng một nỗi buồn mà sẽ chẳng có thời gian nào xóa nổi. Chị không còn khóc được. Nước mắt đã chảy ngược vào lòng trong cơn lũ đó. Giọt máu của chị đã ra đi, đi về nơi hư vô lạnh lẽo. Nó nhỏ dại thế mà dám lao ra để cứu em mình trong dòng lũ cuồng điên. Nhỏ dại thế mà lòng can đảm của nó đáng khâm phục biết nhường nào. Nhưng phải chăng phận người là vậy? Nó mong manh và đầy bất trắc, cứ rơi buồn trên những tháng năm...

 

                                                                  *

                                                              *       *

          Người đàn bà nhớ lại...

          Cái ngày ấy, cái ngày mà người đàn bà tưởng như đất đai sụt lở dưới chân mình. Đó là vào một buổi chiều mùa hạ. Hai mẹ con đang làm ngô ngoài bãi thì được tin chồng về. Người đàn bà lòng dạ nôn nao. Đã hơn năm năm kể từ ngày cưới, chồng chị mới trở về. Chiến tranh chưa động đến cái làng ven sông bé nhỏ, nhưng hậu quả của nó thì thật là ghê sợ. Những người đàn ông cứ lần lượt ra đi mà chẳng hề trở lại. Những tờ giấy báo tử như những bước chân của thần chết thỉnh thoảng lại dừng ở một ngôi nhà nào đó. Nó là nỗi ám ảnh khủng khiếp nhất cứ bám riết, cứ quấn chặt những người mẹ, người vợ bất kể đâu, bất kể khoảnh khắc nào.

          Người đàn bà không ở ngoài số đó. Là người vô đạo, chị chỉ biết từng đêm ôm lấy đứa con thơ mà khắc khoải mong chờ. Sự hy vọng vọng rồi tuyệt vọng cứ dài mãi như những cơn gió hú ngoài bãi sông dằng dặc, lê thê...

          Mọi người đang xúm đen xúm đỏ trong nhà. Người đàn bà chạy thốc vào, miệng thở không còn ra hơi nữa. Trước mặt là chồng chị, anh ngồi đó. Hơn năm năm, trông anh có già đi, nước da sạm đen vì nắng gió. Nhưng lạ thay, sao trên tay anh lại có một đứa trẻ!? Nó ở đâu ra? Nó là con ai? Con ai? Sao cái đầu nó lại có mớ tóc loăn xoăn như vậy? Sao nó lại giống hệt thằng bé con chị? Sự thật là sao? Có lẽ nào? Bao nhiêu câu hỏi cứ dập dồn trong đầu chị. Trời ơi! chị muốn hét thật to, hét để phơi ra cái sự thật trụi trần trước mặt. Nhưng chị vội vàng nén chặt lại. Chẳng phải xung quanh chị mọi người đang vây lấy sao? Chẳng phải chị vẫn là người được dân làng khen nết na thùy mị đó sao? Chồng đã trở về, chị phải vui mừng lên đi chứ?

           Hết mười hai ngày phép, chồng chị khoác ba lô trở lại đơn vị, chuẩn bị cho một chuyến hàng mới vào nam. Thế rồi...Đó là chuyến đi định mệnh, chuyến đi cuối cùng của anh. Một chuyến đi không bao giờ trở lại. Anh đã ngã xuống ở một cánh rừng Trường Sơn mù sương nào đó.

         Người đàn bà ôm hai đứa con chờ chồng trong những giấc mơ khắc khoải đêm đêm...

         Chiều nay, một buổi chiều hơn ba mươi năm sau, nỗi lòng người đàn bà lại như có trăm nghìn ngọn lửa râm ran cào xé. Tin xấu về đứa con trai như bóp nghẹt trái tim nhỏ bé của bà.

                                                                  *

                                                              *      *

          Sau những ngày mưa liên miên, đất trời đã bắt đầu sáng lại. Tờ mờ, trên cành phượng ngoài khung cửa sổ, có một gia đình chim chích chòe đang líu lo nhảy nhót. Chúng hòa tấu một giai điệu vui. Trên vỉa hè, lố nhố những người đi bộ. Sau một thời gian loay hoay trong mấy bức tường bê tông, hôm nay họ lại được tự do hít thở thứ khí trời thanh cao, tinh khiết.

          Bên ngoài cổng bệnh viện, có một tốp người đang tất tả đi vào. Họ gồm ba thế hệ. Một phụ nữ còn trẻ, tay bế đứa con thơ. Đi sau là một người đàn bà đã luống tuổi, dáng đi chấm phẩy lệch về một bên. Gương mặt họ đầy vẻ lo lắng.

           Hôm nay, người thân yêu nhất của họ lên bàn mổ!


1
2
3
4
5
6
7
Tin mới