Eliot (nhà thơ Anh gốc Mỹ): Cái xác anh trồng năm ngoái trong vườn/ Đã bắt đầu nẩy mầm chưa? Thanh Quế: Tôi như thấy những tháng năm đời mình còn lại/ Là những tháng năm vay mượn của các anh/ Những người đã khuất (Nói với một người anh - nhớ Lê Anh Xuân)

   

Một chuyện nhà quê
Cập nhật: 16:14:00 26/9/2010

 

Truyện ngắn của PHÙNG GIA THẾ

Có một chuyện mà tôi cứ lấn bấn mấy lần chưa kể ra được. Tôi văn chương chữ nghĩa ít, vốn lại lười nhác. Nhưng cuối cùng rồi cũng cố thử xem. Thực ra thì cũng không có gì đặc biệt vì truyện của tôi thường không có tình yêu nam nữ, không tình dục để hấp dẫn hay gây hấn với ai.

Chỉ là một câu chuyện nhỏ về nhà quê thôi.

Chuyện thế này:

Hồi còn bao cấp, tôi về phục viên rồi chuyển vào làm trong đoàn địa chất 302, có một dạo dài đóng tận tây Trường Sơn. Thời ấy cũng có những cái hay. Phần vì hăng say công việc phần vì cái ào ào của tuổi trẻ nên tôi coi chuyện xa nhà chẳng là gì. Mẹ tôi mất đã lâu. Bố tôi ở với ông anh trai. Bà chị cả lại lấy chồng cùng làng. Vậy coi như tạm yên tâm. Tuổi trẻ có khi vô tâm. Thế là cứ đi biền biệt. Mùa mưa về, việc thăm dò gặp khó khăn. Đơn vị cho anh em cắt phép khá thoáng. Dạo đó việc đi lại còn vất lắm. Hơn ba ngày mới về được nhà. Làng tôi phải qua đò. Một con sông nhỏ thôi nhưng cũng đủ thời giờ để người xa quê vẩn vơ đôi chút. Khói chiều nhạt nhạt. Gò Cum cao cao đằng xa nơi chúng tôi hay chăn trâu ngày trước. Mấy tán cọ mịt mờ tận chân đồi Đèn, thi thoảng lại khẽ loáng lên những vệt nắng chiều…

Nhưng nào đã kịp ngẫm ngợi gì lâu đâu thì đò đã vào bến. Vừa bước chân lên bờ tôi đã thấy tiếng người lao xao, lạ nhất là tiếng pháo nổ râm ran. Ngay từ phía trổ nhà ông Dương, giáp mặt đê. Quái lạ, Tết nhất gì đâu mà nhiều người đốt pháo thế. Đi một đoạn lại thấy tiếng trống kèn đám ma. Lạ quá. Kìa là ông cụ Bích, mặt nẻ chân chim, tay đánh trâu, tay xốc vai bừa trên vai. Gặp tôi ở đầu đê, ông khẽ hất đầu chào trước:

- Bố Thư về đấy hả?

Tôi chỉ kịp nói mấy câu qua loa còn cứ đứng đực mặt ra. Ông Bích quất một roi vào đít trâu, quai hàm và cánh tay giật mạnh, ra chiều hiểu ý, nhìn tôi hơi cười, giải thích:

- Bà Sâm chết, làng nổ pháo đấy!

Tôi chả hiểu ra thế nào.

Đi một đoạn, vào lối rẽ, ông Bích ngoái đầu lại thủng thẳng:

- Tối sang uống nước, nói chuyện.

Thật chả hiểu thế nào. Chỉ thấy một mùi ngai ngái của chiếc thừng buộc trâu ông Bích vừa qua… Vậy mà cứ như tận đẩu đâu. Xa xăm lắm.

*

Nhà bà Sâm ở bên kia con ngòi. Thuở nhỏ đi chơi bọn tôi hay dùng đất đá thi nhau ném qua. Bố tôi bảo ông Sâm chồng bà bị Tây bắn chết hồi chín năm. Anh Tuần là con trai độc của bà đi lính hi sinh mãi đâu trong Quảng Trị, quãng sau Mậu Thân, sau anh Thắng tôi chừng ba bốn tháng. Từ ngày anh Tuần mất, bà Sâm đem đổi tính đổi nết. Ông Sâm chết, bà ở vậy nuôi con, thế là nghiệt ngã rồi. Nhưng người làng chả phải ai cũng hiểu. Anh Tuần không phải đi lính, nhưng lại xung phong đi, rồi chết. Anh Thám bạn anh Tuần đem nhật kí về đưa bà Sâm. Bà Sâm không biết chữ, nhờ chú Quảng đọc giúp. Nhật kí anh ghi nhiều, trong đó có đoạn ghi lại tình ý với cô bạn cùng lớp tên Minh, rồi ước mơ làm kĩ sư xây dựng… Bà Sâm khóc dòng. Làng xóm ai cũng thương.

*

Về quê mấy ngày, bao nhiêu chuyện. Nhưng tôi băn khoăn nhất vẫn là chuyện bà Sâm. Bố tôi không còn minh mẫn, chưa hết chuyện nọ đã xọ chuyện kia. Loanh quanh rồi lại lê thê chuyện ngày xưa mấy cụ đi tàu về Hà Nội chơi. Anh tôi vốn tính hay qua quýt, từ ngày chị dâu tôi bệnh mất, chỉ lo đi làm nuôi con. ở nhà quê suốt ngày, chuyện bà Sâm với anh cũng bình thường thôi. Mình đi xa về, chắc hay lẩn thẩn chuyện thị phi…

Đêm nhà quê tịch mịch. Muỗi rức vo vo. Tiếng cóc nhái kêu ran. Rặng xoan lơ thơ dưới ánh trăng suông. Nói chung nỗi buồn trung du thì chẳng biết diễn tả thế nào. Thường thì cứ tám giờ tối, bố tôi đi nằm. Tôi không quen ngủ sớm. Tầm này ở đơn vị thì cũng chỉ vừa ăn xong, đang ngồi hút thuốc tán gẫu. Nhạt miệng quá mà bố tôi lại mới bỏ thuốc lào. Ông nói các cụ trong hội bảo thọ vận động tuyên truyền ghê quá, bố phải hi sinh cái thú vui duy nhất còn sót lại ở nhà quê. Thật chẳng ra sao cả. Đấy cái ông Tam nhà gần cống Ba Cửa, từ ngày bỏ thuốc hết chỗ tụ bạ luận việc đời đâm sinh cờ bạc tổ tôm tổ tép mới chết chứ…

Chưa hết chuyện ông Tam, bố tôi có vẻ đã ngủ rồi. Mà chả biết ngủ thật chưa. Người già lắm khi cứ như giả vờ. Anh tôi uống chén nước rồi lai hai anh em thằng Tùng thằng Nam sang bên ngoại đóng giỗ. Tôi thủng thẳng qua nhà ông cụ Bích chơi. Thì lần nào cũng vậy. Một công đôi việc. Ông Bích biết nhiều, lại hay tỉ tê trò chuyện. Tôi biết nghe, thi thoảng đế vào đôi câu để ông thêm phấn khởi mà kể tiếp. Thế là ra khối chuyện. Mạ sài. Phân vụn. Sắn bã. Đám ruộng phần trăm. Chỗ đất vỡ trồng đỗ. Ông Hùng kiện ông Tình. Vân vân. Và quan trọng hơn là nhà ông thường có thuốc ngon. Tôi nhớ ngày bé đi thả trâu bọn tôi thích nhất được bắt tóp thuốc ông Bích. Tính ông dễ gần, hơi hài. Có lần ông thèm thuốc quá phải xin lại bọn tôi, thằng Phú nhe răng: - Thuốc đang ngon trẻ con bắt tóp! Ông Bích bảo cái thằng cha mày. Nhớ hồi ấy bọn tôi hay nhặt đầu mẩu thuốc về tích trữ rồi đem đi thả trâu đốt lò nướng sắn hút tập thể. Con rể ông Bích người Tiên Lãng Hải Phòng. Hôm hợp tác chặt ngô bác Tuyên trêu ông Bích kén rể như vua Hùng ấy nhỉ. Thầy Tiệp bảo còn hơn An Dương Vương. Ông Bích đùa bảo cũng bõ mồm gả con cho thằng Tiên Lãng…

Ôi trung du thuở nào xa lắc xa lơ…

Qua ngã ba nhà bà Quyền, chó cắn inh om. Mấy cành xoan thâm thẫm từng vệt lá, lơ thơ thả những đọt buồn dưới ánh trăng suông. Hàng rào găng. Gốc duối. Đám cây xấu hổ. Đây là cái cống ngày xưa mình tập xe bị ngã. Bên vạt đê này mấy đứa nằm cạnh đám cây xấu hổ rình xem trộm bọn dân công ôm hôn nhau rồi cười rinh rích…

Trong kí ức tôi, hình ảnh bà Sâm còn nguyên đó. Nhưng đầu tiên lại là một hình ảnh buồn cười. Bà Sâm đứng chéo chân vén quần bên bờ rào dâm bụt. Bọn chúng tôi lúc đó học cấp hai cứ chạy đằng sau hô to bà Sâm đái bậy rồi giơ tay làm súng bắn bùng chiu… Bà Sâm kéo quần xách gậy xông lại tế cho một trận. Còn suýt trèo qua đầu thằng Tuấn. Có một lần thằng Bắc bị bắt sống. Bà Sâm giềng cho dập đầu gậy. Bắc van lạy như tế sao bảo bọn thằng Bình boong với thằng Khải toác nó xui cháu. Bà Sâm dí tay chúi mặt về phía thằng Bắc bảo sao ngu thế hả con thế chúng nó xui mày ăn cứt mày cũng ăn à?

Hôm về thấy đám ma bà Sâm, dù cố nghiêm trang nhưng đầu óc tôi lại mường tượng ngay đến cảnh này…

Chó cắn. Ông Bích ra.

- Mực, vào ngay. Ông thì cho củ giềng bây giờ!

Ông Bích pha chè, thông điếu, thủng thẳng:

- Bố Thám tận Quảng Trị, tình nghĩa lắm, năm nào cũng lặn lội ra thăm. Bà Sâm cũng có vẻ nguôi ngoai phần nào. Ngặt một nỗi mấy năm nay vợ nó ốm quá, không đi được. Đứa con đầu bị chất độc da cam, không có mắt, lại hay động kinh, bỏ thì thương vương thì tội, nuôi nhau đến khổ. Bà Sâm thành người cô đơn.

Nhìn ông Bích nhả khói, mặt nhăn nheo, tôi nhớ câu thuốc đang ngon trẻ con bắt tóp, vừa buồn cười vừa thương. Ông Bích bảo, sau cái chết của chồng rồi của con, lại qua mấy trận ốm nặng, bà Sâm đổi nết ghê lắm. Trước thì cũng được làng xếp vào hàng nghiệt ngã (thầy Tiệp tu từ bảo đấy là liệt nữ). Về sau thêm cái bệnh ăn vạ. Chả biết giời xui đất khiến thế nào mà hễ có đám cưới, ngày lễ ngày hội nào là bà ấy lại xông vào lăn đùng ngã ngửa ra giữa sân nhà người ta, người làng không ai khuyên bảo được. Bà Sâm trở thành khắc tinh của các ngày vui từ lúc nào không ai để ý.

- Đang vui, bà ấy lăn đùng ra, gào làng gào nước, – chị Hoan đang nhặt rau lang nói với vào. - Nào chồng tôi con tôi chết vì làng vì nước để giờ các người mâm cao cỗ đầy nem công chả phượng thế này à…

Nhả khói điếu thứ hai, ông Bích tiếp lời:

- Nói thực với anh chứ lúc đầu người làng ái ngại lắm. Nghĩ bà ấy bị chấn động tâm thần. Ngẫm cũng tội. Mà có đám nào chúng tôi không mời bà ấy đâu. Mời bà ấy, bà ấy còn nhiếc móc chửi bới cho. Dần dà thì đâm khó chịu. Lòng cảm thông của con người cũng có giới hạn thôi chứ. Ai đời cứ nhè lúc nhà người ta đang vui thì khóc rống lên. Dạo đám cưới nhà Huỳnh bà ấy lại lăn đùng ra. Bà ấy bảo chúng mày quên công của chồng bà con bà rồi. Nhà đám hôm ấy có ông Ngạn bí thư huyện ủy gớm ông ấy phải gọi bố Thuyên chủ tịch xã ra xạc cho một trận bảo chỉ nghĩ đến ăn không quan tâm đến gia đình chính sách, tay Thuyên chả tím cả mặt.

Rồi thì lại đâu đóng đấy.

- Thì lúc người ta khó khăn nhất, chính quyền lại chẳng quan tâm. Người làng mình cũng bạc – Chị Hoan lại với vào.

Điếu thứ ba. Thấy bố hút tì tì, thằng Hán quay sang:

- Bố rít vừa vừa thôi chả đêm lại không ai thở hộ.

Thằng Hán cởi trần, ngồi tẽ ngô, được một chốc lại với tay sang rổ khoai lang lấy một củ ăn. Mỗi khi nuốt, yết hầu nó lại giật lên một cái trông đến tức thở.

Ông Bích phớt lờ thằng Hán, quay sang hỏi tôi thế bố Thư định bao giờ mới cho cho chúng tôi ăn cỗ. Tôi bảo chưa biết ông ạ, còn chờ vào duyên số. Ông hỏi tôi năm nay bao nhiêu rồi tôi bảo ba mươi tư ông bảo duyên số cái gì lấy vợ muộn là hay bị rân rất đấy con Hoan nhà này hơn chú bốn tuổi không thì lấy nó cũng được con bé đảm lắm…

Chị Hoan mau miệng:

- Bố này, cứ đùa chú ý chú ý ngượng. Mà nghĩ cũng tội bà cụ Sâm chú ạ. Một thân một mình đêm hôm chả có ai ngủ cùng. Hôm nọ cảm chết trong nhà bà đồng nát xộc vào phát hiện ra không thì… Mà người ta cứ ghê ghê bà ấy thế nào chứ tôi thấy cũng thường. Dạo nọ tôi liều sang xin mấy dải khoai cho lợn bà ấy còn gọi vào cho thêm hai nải chuối tiêu nữa đấy.

Ông Bích làm điếu thuốc nữa, lẩm nhẩm:

- Nhà quê lắm chuyện lắm. Tôi ngần này tuổi ở cái làng này sắp xuống lỗ rồi mà chả hiểu ra cái gì vào cái gì. Nhiều khi thoát li được như anh lại hay. Anh xem, cái giống rau lang này chính ra là để nuôi lợn mình lại đem ăn. Cái mình ăn có khi lợn nó lại không ăn được. Đến lạ.

Chị Hoan thêm:

- Thế mới biết chỉ cần sống được bình thường ngày hai bữa cơm độn thôi đã là sướng rồi. Thằng nhỏ nhà cái anh Thám ấy yếu lắm chú ạ. Nói bảo phải tội chứ sống như thế chả bằng…

- Mồm miệng. - Ông Bích ngắt lời khiến chị Hoan ngồi im.

Thấy ông Bích ngáp ngủ mấy lần, tôi chào ông rồi về. Ông Bích bảo về mà nghỉ mai rảnh lại sang tôi nói chuyện.

*

Tôi phải nói lại một lần, rằng nỗi buồn trung du thì thật không gì tả nổi, nó cứ xa xôi thăm thẳm thế nào. Xoan phơ phất. ếch nhái kêu ran. Côn trùng vo ve. Trăng suông tịch mịch. Đẩy cành gai tre rấp cổng bước vào đã thấy bố tôi thắp đèn ngồi hút thuốc lào. Bố tôi bảo giờ già rồi tối không ngủ được buồn lắm. Bố bỏ thuốc được hai tháng hai ngày đến hôm nay thì đầu hàng… Anh tôi đùa bảo chắc hồi trẻ ông ngủ nhiều quá nên giờ mới không ngủ được. Bố tôi bảo chỉ bố láo.

Tôi ở quê gần nửa tháng, giúp được ông anh vực bừa cho con trâu be. Chẳng tìm hiểu được cô nào. Băn khoăn nhất vẫn là chuyện bà Sâm.

Người làng nói bà Sâm thuở thiếu thời khỏe mạnh đẹp gái lắm. Mấy đội mấy sếp ngỏ lời nhưng không ưng ai bởi bà đã phải lòng anh bộ đội Việt Minh. Có người bảo bà dại, chỗ sung sướng chả muốn nhưng bà không nghe. Lấy ông được mấy ngày thì ông đi chiến khu. Bà có thai, bụng mang dạ chửa, sinh con, lại ở với bà mẹ chồng trần đời có một. Ông Sâm hi sinh gần ba năm sau bà mới nhận được tin. Bà ở vậy nuôi con một mình. Thầy Tiệp bảo đã thế mãi bà mẹ chồng mới chết. Chả nói thì ai cũng biết khổ rồi. Mà thời đó thì nhiều người ở vậy nuôi con một mình lắm, việc ngoại tình cũng không phổ biến như sau này.

Làng tôi ở bên sông, nằm trên hai dải đất. Một trong đê, xanh xướp những tre. Một ngoài đê, bạc màu bụi đỏ. Dân ngoài đê khấm khá hơn, nhưng vẫn chủ yếu sống bằng đồng áng, thi thoảng ra sông đánh cụp kéo vó bắt thêm con cá con tép. Cái thiệt của dân ngoài đê là gia súc gia cầm hay bị xe kẹp chết. Ông Bích bảo thì thế lại được cái ăn chứ chờ tự nhiên mà mổ thì có mà còn khươm. Nhà bà Sâm nằm ở mé trong đê. Bà có một ông anh trai và hai bà em gái. Một bà lấy chồng rồi bặt tin từ ngày di cư vào Nam năm năm tư. Một bà lấy chồng trên thượng huyện mất năm ngoái. Nghe nói con cháu bà này cũng nghèo lắm. Nhà ông anh trai tên Thinh ngay sát vách. Ông này mất sớm nên hồi trẻ con bọn tôi hầu như cũng chẳng có ý niệm gì. Chỉ biết lão Bằng con ông Thinh lưu manh ngổ ngáo nổi tiếng hay ăn cắp vặt. Bố tôi bảo cái nhà bà Sâm như thế mà chẳng có hậu. Tôi hỏi ông được hay người làng bạc với bà ấy quá. Bố tôi bảo bạc cái gì, đến con đẻ có lúc nó còn mong bố mẹ chết sớm nữa là hàng xóm. Anh tôi bảo phải tội mồ ma bà Sâm chứ bà cũng nghiệt lắm. Cứ đem chuyện nhà mình ra để dằn vặt đay nghiến người ta thì bố thằng nào mà chịu nổi. Mà cứ toàn nhè vào lúc cưới hỏi nhà người ta chứ. Ông Bình ông ấy bảo thế bà tưởng mình con bà đánh nhau chết à? Người như bà ở cái làng này không thiếu nhớ. Bà quá quắt nó vừa vừa thôi bà Sâm ạ. Ai cũng hả dạ tưởng bà ấy bớt di ai dè bà ấy ra bốc ngay đống cát ném vào giữa mâm lão Bình, dính cả vào mặt hai con bé con ngồi cạnh, rồi chửi suốt cả buổi. Thật không ra làm sao cả.

- Thế không ai nói được bà ấy à? Tôi hỏi.

Ông Bích bảo thì cũng chỉ có bố Thám thôi. Nhưng gần đây chả biết tình hình thế nào bố nó ít ra quá. Bà Sâm chẳng nghe ai cả. Gần nửa cái làng này bị bà lăn vào ăn vạ, sáu bảy nhà bị ném đất cát vào mâm cỗ rồi. Nhà Hùng loe, nhà Vận hấp, nhà Bình boong hôm nọ bà ấy chết đem pháo ra đốt đấy.

*

Sang nhà bà Sâm thắp nén nhang về, tôi cứ thấy bồn chồn thế nào. Thì vẫn là cái cảm giác lạnh lạnh khi xưa. Cúc tần chờm gần kín lối. Vườn trước cỏ mọc um tùm. Đất rộng, nhưng nhà bà Sâm chỉ có hai gian lợp gianh. Bố con ông Bằng đã dọn sang trông nom. Nghe nói sắp đào ao nuôi cá với trồng đỗ tương ở vạt trước. Tôi bảo hôm nọ mới về gặp ngay nhà đám nhưng không tiện đưa ra đồng. Lão Bằng hỉ thuốc lào ngay trên nền nhà nứt nẻ lắc đầu bảo bà trẻ tôi tội nợ lắm chú ạ. Con cháu không bảo được cụ. Tôi nhìn quanh nhà thấy hai bằng Tổ quốc ghi công. Một trên gian giữa, một ở thấp hơn, ngay bên trên lưng khách. ảnh bà Sâm còn để trên bàn. Trong đầu tôi cứ lơ mơ lúc thì thấy bà Sâm vén quần đái, lúc thấy bà lưng còng lụi cụi hái đỗ, nhặt khoai… Về đến nhà rồi mà mặt tôi vẫn thừ ra. Chả hiểu ra thế nào. Cũng chả hiểu cái cách phản ứng của bà Sâm với người làng nữa. Anh tôi bảo thôi đi mà nghỉ đi, về cơ quan rồi liệu liệu mà lấy vợ, lo chuyện bà Sâm có mà hết ngày…

*

Hết phép. Tôi trở về đơn vị. Tình cờ run rủi thế nào đội của tôi lại được điều về khai thác khoáng ở ngay xã anh Thám. Hôm mấy anh em khát nước vào dân xin thì thấy trên tấm bảng treo cái bằng khen ố vàng ghi thượng úy Lê Quang Thám. Anh Thám tiếp tôi như một người thân. Anh hỏi chuyện bà Sâm khá nhiều nhưng tôi không kể hết, sợ anh buồn. Anh nói sẽ thu xếp ra sau. Rồi anh kể chuyện anh Tuần, người đồng đội thân thiết đã chết ngay trước mặt anh. Anh hỏi thăm ông Bích, bà bủ Khang làng tôi. Tôi hỏi chuyện thằng con anh thì anh buồn rầu nói cháu đã mất cách đó chừng năm tháng. Đôi mắt tuyệt vọng của anh hướng tôi về cái ảnh nhỏ của thằng bé ngay trên nóc tủ. Vậy là chỉ sau bà Sâm chừng hai chục ngày. Cả nhà đã kiệt sức. Anh rơm rớm nước mắt bảo đứa con gái anh cũng đang có dấu hiệu mờ mắt. Bà nội và mẹ cháu còn đang đi lễ đền cầu xin điều không may không xảy ra nữa. Anh Thám giữ mấy anh em lại ăn cơm nhưng tôi chẳng có bụng dạ nào. Tôi biếu anh Thám mấy bao Sông Cầu bao bạc rồi về đội. Trong lòng đã buồn bã xót xa chuyện nhà anh Thám rồi lại cứ vẩn vơ mãi chuyện bà Sâm, không sao dứt được.

P.G.T


1
2
Tin mới