Chế Lan Viên: Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa (…) Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

   

Khúc âm xưa từ chín dòng sông vọng cổ - thơ Trần Ngọc Hưởng
Cập nhật: 16:27:00 17/2/2011
VanVn.Net - Một nhà thơ có thể có nhiều khuynh hướng như lãng mạn, trữ tình, tượng trưng, trào phúng, hiện thực, siêu thực… nhưng mỗi nhà thơ chỉ có một sở trường, một đặc thù, một tính cách rất riêng. Có nhiều nhà thơ từ buổi đầu sáng tác đã lộ ra một sở trường, tính cách như: thơ tình: Xuân Diệu, thơ điên: Hàn mặc Tử, sầu mộng: Lưu Trọng Lư, triết học: Minh Tuyền, tôn giáo: Lưu Kỳ Linh, tượng trưng: Bích Khê, thơ cách mạng: Tố Hữu…

Thơ Trần Ngọc Hưởng không có sở trường như vậy. Muốn hiểu Trần Ngọc Hưởng phải đọc thật nhiều thơ của anh. Tôi chưa có hân hạnh gặp, biết nhà thơ này nhưng khi đọc thơ anh tôi hình dung được đó là một con người nghiêm buồn, trầm mặc, điềm đạm, khoan hòa. Anh là một người đam mê sử, văn học cổ Việt Nam, ưa tìm tòi cặn kẽ những điều cần phải biết. Ngôn ngữ được sử dụng chính xác, chữ nghĩa phân minh, rành mạch đúng qui phạm, nhưng không phải vì vậy mà cứng ngắc. Thơ anh tinh tế, nhẹ nhàng, gợi cảm đa phần có giọng trầm buồn nhất là: “Từ chín dòng sông vọng cổ”, được tấu lên bằng những khúc âm buồn với những khoảng lặng.

Từ chín dòng sông vọng cổ là tập thơ thứ tám gồm những bài thơ mà anh tâm đắc nhất suốt bốn mươi năm cầm bút làm thơ; đa phần chưa góp mặt trong bảy tập thơ trước đó. Đọc tập này có thể hiểu biết một phần nào cuộc đời anh với những nợ duyên buộc thắt, tâm tư, tình cảm mà anh đã trót cưu mang như một nghiệp dĩ.

 Ngay từ bài thơ đầu tiên anh đã nhớ:

“Tiếng độc huyền xưa vọng ngậm ngùi”

Sinh ra và lớn lên bên dòng Cửu Long trong anh đã thấm lên những âm thanh của tiếng đàn bầu ngân vang lơ lững giữa xóm thôn, dưới bóng mát của tàn xanh, những trưa hè tĩnh mịch, ở sâu trong tiềm thức như một sỡ hữu tự nhiên và cũng từ đó tác động vào tâm trí tạo nên những khúc thương buồn mà âm điệu vốn:

“Vọng từ ký ức khúc buồn phương Nam”

Khúc buồn ấy cũng có thể là một sự kế thừa của tổ tiên từ thuở lưu dân trên đất Gò Công mang lại:

“Nội tổ ta ngày đó

Thời mở đất hoang sơ

Tiếng đàn khuya lãng tử

Mang mang mặt nước đầy

Đọng nỗi sầu xa xứ

Mảnh trăng gầy lắt lay”.

Nỗi sầu xa xứ đã tạo nên khúc âm buồn Nam Bộ: làn điệu bản vọng cổ là những chắt lọc, cô đọng tâm tình hàng mấy trăm năm của những người xưa thời mở cõi giữa mênh mông hiu quạnh của nơi xa lạ mà:

“Đến đây đất nước lạ lùng

Con chim kêu cũng sợ có cá vùng cũng kinh”

(Ca dao)

Vọng cổ là nhớ xưa; vọng cổ là âm thanh ngân dài phát ra từ cổ khi xuống “xề” chấm dứt một câu hát. Hiểu như thế nào tùy người. Những điểm đặc biệt của vọng cổ là âm thanh còn “vọng” lại ngân xa, xa dần, xa dần như tiếng độc huyền, hoài vọng…

Trong câu ca âm “xề” rớt xuống tưởng như chấm dứt; nhưng chính lúc đó mới khởi đầu cho khoảng lặng. Chính khoảng lặng đó cứ ngân vang, ngân vang, sâu lắng làm người nghe cứ mãi ngẩn ngơ.

“So ra lặng lẽ bây giờ càng hay” (TBH)

Chính lúc đó mới nhức nhối, ray rứt.

“Giọt đàn xô lệch hồn ai

Lập lòe từng đóm lửa chày lấp lênh”.

Cũng chính âm hưởng đó khi qua sông Cần Thơ nghe bài dạ cổ, anh miên man, thờ thẫn:

“Giọt đàn vấp phải bóng đêm

Vạch chiêm bao biết có tìm được nhau

Em hoài lang đủ sáu câu

Cho hồn chếnh choáng, cho sầu nặng mang

Lời ca lỗi nhịp song loan

Chợt nghe tuổi rụng lá vàng mà đau”

Tôi buông tập thơ vẫn vơ từng hình ảnh lặng lẽ đang theo tứ thơ diễn ra khi đặt mình đang nghe bài “dạ cổ…” Giọt đàn sau khi rớt xuống lại đi, chếnh choáng đi lên “vấp”, vấp nên “lỗi nhịp”; vì lỗi nhịp nên “đau”; đau vì “chợt nghe tuổi rụng”; tuổi rụng đang dần về chiều… chỉ mấy câu giản đơn mà liên hoàn ý tứ hay vô cùng.

Từ Nam Bộ, khúc thương buồn theo những bước phiêu du dài theo “nước non ngàn dặm” trải ngược ra đất Tổ, sông Hồng. Đến đau âm hưởng của bản vọng cổ từ chín dòng sông cũng chan hòa với thiên nhiên, cổ tích… những dáng xưa cứ lần lượt hiện về trong anh qua từng vùng miền của đất nước:

Khi về Thiện Vịnh nhớ Nguyễn Bính thì:

“Hành phương nam khúc dạt trôi

Duyên thơ mãi thắt buộc người lênh đênh”

Khi qua Huế thì:

“Gió day dứt tiếng chuông chùa

Em về nón mỏng chiều mưa nghiêng buồn”

Khi ra Nam Định viếng mộ Tú Xương:

“Vị Hoàng quãng vắng mom sông

Còn chăng những buổi đò đông eo sèo”!

Khi viếng Tây Hồ:

“Nghiêng cành trúc, mảnh gương soi

Bức tranh dâu bể khóc cười đa đoan”

Khi thăm Yên Tử nhớ oan tình của Điểm Bích:

“Nghìn năm giải mối oan khiên

Suối dào tuôn, nước chảy nghiêng bên trời”

Khi lên Tuyên Quang:

“Đêm loanh quanh phố đứng ngồi

Hoang tàn thành Mạc trăng soi u buồn”…

Nhưng dáng xưa hằn sâu nhất vẫn là dáng mẹ:

“Khế vàng đâu tiếng quạ kêu

Khuất chìm cả bước liêu xiêu mẹ về”

Đọc bài này tôi bỗng nhớ Quách Tấn, tác giả của “Mùa cổ điển”, trong bài: “Đêm xưa nghe quạ kêu” cũng đã:

“Bồn chồn thương kẻ nương song bạc…”

Suốt chiều dài tập thơ có thể trích ra hàng trăm câu ray rứt, hoài vọng. Thơ Trần Ngọc Hưởng ít vui mà nhiều buồn. Không phải buồn nhân thế hay khóc mướn thương vay mà buồn thật lòng. Nếu Huy Cận có cái sầu vạn cổ, cái buồn tê tái thì Trần Ngọc Hưởng có cái buồn lây lất nhẹ nhàng mà âm hưởng của ký ức từ một khúc âm xưa….

Lê Đình Quy

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Tin mới