Chế Lan Viên: Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà/ Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa (…) Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây/ Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?/ Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ/ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

   

Dưới đáy TRẦM TÍCH là CẶN MUỐI
Cập nhật: 16:48:00 4/1/2011

(đọc thơ Hòang Trần Cương)

Trần Nghi Hoàng
(Việt kiều ở Washington DC)

I.NGHẼN

Chí ít, trong “lòai thi sĩ” cũng có hai lọai… khác nhau! Một lọai là thi sĩ làm Thơ. Một lọai là thi sĩ bị… hay được Thơ… Làm. Đa phần, lọai thứ nhất, hầu như xem Thơ là một món gia vị cho mình xài như một thứ trang sức hoặc là phương tiện đi tìm danh vọng. Lọai thứ hai, loại tự nguyện làm tên thừa sai cho thi ca. Mà thi ca, tất yếu là để nói về Con Người và Cuộc Đời. Từ bởi duyên do này, đôi khi chính “lọai” thi sĩ thứ hai, lọai bị Thơ Làm đã Vinh Danh cho Thơ.

Mấy ngàn năm trước, Horace (65 BC - 8 BC) đã tán thán:

“Many brave men lived before Agamemnon; but all are overwhelmed in eternal night, unwept, unknown, because they lack a sacred poet.”

“Nhiều người đàn ông dũng cảm đã sống trước thời Agamemnon (con trai vua Atreus của Mycenae và hòang hậu Aerope; chú thích của người viết); nhưng tất cả đã bị chôn vùi trong bóng tối vĩnh cửu, không được thương tiếc, vô danh, bởi vì họ đã thiếu một nhà thơ thiêng liêng”.

Nhưng, như thế nào là một “nhà thơ thiêng liêng”? Nhà thơ thiêng liêng là nhà thơ để viết ra những điều gì thiêng liêng; là người đã tự hiến tế mình cho Thơ. Mà như đã nói, Thơ là những chuyển dịch trong và quanh ta. Nhà thơ trải nghiệm qua tất cả những thăng trầm của cuộc đời và Thơ hiển lộng làm nên Thi Sĩ.

John Ciardi (1916 - 1986) nói:

You don't have to suffer to be a poet; adolescence is enough suffering for anyone.”

“Bạn không phải gánh chịu khổ đau để là một nhà thơ; tuổi niên thiếu là đủ khổ đau cho bất kì ai.”

Tại sao tuổi niên thiếu là tuổi đủ của khổ đau? Tôi nghĩ, John Ciardi đã có cái nhìn thấu thị cho những điêu linh của thế sự!

Như là trường hợp nhà thơ Hòang Trần Cương! (HTC)

Trước HTC, không ít những người đã làm thơ, viết nhạc nói về miền Trung và con người miền Trung. Nhưng ở HTC, đứa bé – người thiếu niên – rồi là người lính quê Nghệ An; từng con chữ ông viết về miền Trung và con người miền Trung là từng nét khắc chạm khốc liệt một miền Trung sần sùi thô ráp như chính những con chữ ấy.

Trầm Tích của HTC gồm 19 chương. Khởi đầu từ Nguồn Cội, Đất Mật, Cật Tre, Thóc Giống, Những Viên Đá Lẻ, Quặng Lửa, Mưa Ốc Đảo, Hòang Hôn Màu Cỏ, Bóng Đa Làng, Tảo Mộ, Địa Linh, Thành Hòang, Thiên Nhiên, Cấu Trúc Làng, Cá Gỗ, Đá Đỏ, Giao Cảm Phù Sa, Vốn Và Lãi rồi kết thúc là Miền Trung.

Tôi muốn kê ra đủ trình tự 19 chương trong trường ca Trầm Tích của HTC, để thấy từng vết đào xới của nhà thơ trên mảnh đất và trên cả Con Người của quê hương ông: Chỉ cần đọc tên 19 chương của trường ca, cái màu đầu tiên xuất hiện trong tâm cảnh của ta sẽ là màu nâu của Đất, và cả con người cũng lấm lem trong màu nâu ấy:

Mẹ tôi đẻ rơi tôi bên cái cối giã gạo

Tôi lấm láp đáp mình vào đất

Gió Lào mặc cho tôi chiếc áo màu nâu

Cha đi vắng

Những người đàn ông miền Trung thường đi vắng

Vài năm tạt qua nhà một lần

Để lại đứa con

Để lại mùi rạ thơm trên mái nhà vừa dọi

Để lại những nỗi buồn không biết nói

Rồi biệt tăm …

(Trầm Tích, chương I Nguồn Cội, trang 7)

HTC mở Trầm Tích với giọng kể nghe chừng như thản nhiên về phút chào đời của mình. Cái thản nhiên ẩn tàng bao nhiêu là sục sôi dông bão. Đẻ rơi bên cái cối giã gạo. Vừa đẻ ra đã được mặc vào tấm áo của đất nâu… và gió Lào khắc nghiệt. Những người cha, những người đàn ông miền Trung thường không có nhà. Họ đi đâu? HTC không nói. Câu trả lời phải do người đọc tự tìm biết. Họ ít khi có mặt ở nhà. Mỗi bận về để lại một đứa con sau khi đã dọi xong cho vợ một mái nhà mới còn thơm mùi rạ! Và họ lại ra đi. Biền biệt tháng năm. Những người đàn ông miền Trung lại ra đi. Để lại trong bụng vợ một đứa con. Để lại sau lưng mình những người đàn bà. Người vợ, người mẹ.

Buổi mẹ còn lóp ngóp ngòai sông

Đêm đêm

Dưới gốc nhãn già nua theo lời bà kể

…..

Bà già thế

Sao tiếng cười vẫn trong như lọc

Xòa vào tuổi thơ tôi

(Như trên, trang 7, 8)

Để lại những thương yêu giữa một mảnh đất khô cằn.

Cái chảo rang của đất đựng trời

Đông chưa tàn

Hạ đã rạn ban mai

(Như trên, trang 9)

Biểu trưng “cái chảo rang của đất đựng trời”, mãi về sau, tháng 7 năm 2009, lại xuất hiện rõ nét hơn, và cũng thanh thản hơn trong bài Bầu Trời Đất của HTC:

Thật ra mặt đất

Cũng là một bầu trời

Nới rộng vòng tay

Sẽ có ngày với được

Bởi quen ngước lên

Anh thường không thấy

Một thế giới mộng mơ

Ở ngay dưới chân mình

(Bầu Trời Đất, 7-2009)

Bởi “Thăm thẳm tháng năm / Ẩn vào trầm tích / Ẩn vào mai sau…”. Dường như những óan khốc cũng đã lắng lại, mặc dù:

Gió bão thù chi với mảnh đất này

Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen xì ngòai biển

Mưa giờ ngọ chưa qua gió giờ mùi đã đến

Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh

(Trầm Tích, chương I Nguồn Cội, trang 10)

Và:

Những vạt lúa đỏ luội mình đổ rạp

Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát

Tảng cháy cạy đi rồi

Còn hằn vết móng tay

Cày lên

Sưng cả đáy nồi.

(Như trên)

Thơ HTC thường có những con chữ rất “bình thường”, nhưng qua thủ pháp thơ của ông, lại biến thành những từ có thể làm thót lòng người đọc. Cái chỏng chơ của nồi cơm ngày đói khát, đã hiện hình ngay trước mặt với vết móng tay cạy SƯNG cả đáy nồi!

Nhưng mặc cho muôn ngàn khăn khó, mảnh đất quê nghèo đó vẫn luôn là Đất Mật của HTC! Bởi dưới lớp đất nâu vẫn đâm chồi nhô lên xanh tươi cây lộc mưng, và mặc cho gió Lào thốc bũa, tuổi thơ họ Hòang vẫn được sưởi ấm trong tình thương yêu của người Bà tóc bạc:

Biết lấy chi cho lũ cháu nô đùa

Bà xâu mấy đồng xu rỉ xanh rỉ vàng chuột tha vào trong ngạch

Quàng lên buồng chuối sau nhà

Quàng lên buổi chiều buồn thời gian không đấu giá

Hy vọng nhòa vào chùm sao tua rua

Và, bên chùm sao tua rua là:

Mây buông mảnh trăng liềm

Ánh trăng nâng bóng cau non đặt mớm vào mép võng

Bỏm bẻm miếng trầu

Rón rén thức mùi hương

(Trầm Tích, chương II, Đất Mật, trang 14, 15)

Trong vòng tay can cường mà êm ái của người mẹ như tấm mo cau lót lên chõng Cật Tre:

Bữa tôi chào đời trời rạch chớp xanh

Nước sông Lam đã trèo vào cổng

Treo vội con lên chạn

Mẹ xắn quần đi giằng lại cái sanh đồng sứt quai

Rồi một tay chắn gió

Mẹ ngồi nhen lửa dưới mưa

Nuôi tôi giữa nước và trời

. . . . . . . . . . . . . . . .

Tôi lớn lên giữa ngày trong tháng đục

Cùng dòng sông mắc nợ phù sa

(Trầm Tích, chương III Cật Tre, trang 16 & 19)

Con người mắc nợ phù sa bồi lỡ cũng như dòng sông. Dòng sông “nhất khứ nhất lai” theo cuộc đời lầm than của những bà Mẹ. Cho nên, trong một phút giây bất chợt, HTC đã hiểu ra “Cứ trắng như phía trong của lớp mảnh sành nằm đáy vại / Khi tan cả hình hài / Ta mới kịp nhận ra…”

Mới chợt nhận ra rằng, cả cuộc đời của những bà Mẹ đã trải ra để nâng bước cho những đứa con vào đời. Mẹ banh mở thân thể Mẹ đem con tới ánh sáng trần gian. Và cũng với thân thể gầy còm đó, Mẹ suốt đời luôn dang tay ra, để ôm con vào lòng dù cho giữa đất lửa lũ tràn hay trời ngợp bão dông.

Sinh con

Mẹ là hạt thóc đã mọc mạ rồi

Vẫn sưởi ấm mùa đông bằng khỏang trống của hai vỏ trấu

(Trầm Tích, chương IV, Thóc Giống, trang 21)

Bởi Mẹ là hạt Thóc Giống cho tương lai. Cho cuộc trần ai tiếp tiếp. Mẹ vẫn chà chân trên hòn đá nhám, mỗi ngày… để mài mòn đi phần nào nỗi nhọc nhằn chai sạn. Và để “dấu đi gót chân trần nứt nẻ tóe máu tươi” và lại bước tiếp tiếp những bước chân lên sỏi đá gai nhọn mà…

Quảy theo con vào chợ

Gò lưng giữ cho cân đòn gánh

Chỉ sợ con lật người là đổ mất ngày mai

(Như trên, trang 23)

Mặc cho:

Mùi cỏ khét dây trói tay cha

Buổi xóm làng mình lâm nạn

. . . . . . . . . . . .

Sợi dây trói nói thầm

Từ tay cha rụng xuống

Mẹ bảo: May mà trời có mắt

Cha không nói gì

Người lẳng lặng cầm sào đi xốc lại cây rơm

(Như trên, trang 23 & 24)

Cái hình ảnh câm nín của người cha sao mà khốc liệt. Cái khốc liệt của phận người trong buổi lọan ly! Cái thời buổi của:

Thôn dưới làng trên nhà cửa tuột trần

Xua nhau lên núi

Bỏ lại sau lưng vườn cây lưu niên

Cánh đồng lúa đang thì con gái

. . . . . . .

Bỏ lại sau lưng mồ mả cha ông

Và ngôi trường có cây đa nghìn tuổi…

(Trầm Tích, chương V, Những Viên Đá Lẻ, trang 27)

Và thế là “Mẹ dẫn bầy con đi / Ánh mắt phẳng lì như đất nện…”. Cuộc đi này cũng như bao cuộc đi khác trước đó của bao nhiêu thế hệ bà Mẹ đã “dẫn con đi”. Và từ những “ánh mắt phẳng lì như đất nện” của những bà Mẹ, bởi Đất luôn luôn là nơi chốn trở về của những bận phân ly dù gì đi nữa…. Chỉ còn:

Mỗi năm đôi lần về viếng mộ tổ tiên

Đốt nén hương thơm khấn cầu làng cũ

(Như trên, trang 28)

Sự kiên cường của Mẹ đã nuôi dưỡng nên Con. Thơ HTC nói đến Mẹ như một một vĩnh cửu sắt son của một hình tượng “kim cương bất họai thể”, không phút giây nào ngừng đương đầu với thiên nhiên hay oan trái của cuộc đời, để bảo bọc nuôi dưỡng những đứa con của Mẹ:

Củ khoai ri gầy như sợi lạt

Mẹ tha về nhà

Chùm rể trắng mọc vào đêm

Cái rể khoai lang thành khúc ruột mềm

Chưa hề đứt

Nên bầy con không ngửa tay ăn mày ngòai chợ

Nắng ho gà nên chiều tà đến tội

Gió quên lượm giọt mồ hôi để da tóc mẹ mồi

(Như trên, trang 29)

Từng giọt mồ hôi của Mẹ rụng xuống là những giọt sinh tồn tưới vào đời Con của Mẹ. Để gìn giữ cho những đứa con của Mẹ…

Bến bờ của những đứa con trai

Không chệch hướng giữa muôn trùng cửa ải

Dẫu mưa quây khú nắng vàng

Bến bờ của những thân con gái

(Như trên, trang 30)

Cho đến hôm nay, tôi thấy chỉ có ở Thơ HTC những con chữ như “Nắng ho gà…”, “mưa quây khú cả nắng vàng…”… và rất nhiều những mưa nắng hay bão dông và những thứ khác được đặt tên lại theo ngôn ngữ của HTC… Có thể nói, HTC đã mang những phương ngữ của Nghệ An quê hương ông mà quến lại thành một thứ ngôn ngữ thơ đặc thù Hòang Trần Cương.

Những trải nghiệm của HTC là trải nghiệm của chiến chinh lọan lọac và nghèo khó lầm than. Là của những nỗi đời “bụi đỏ vùi chột cả bóng tre”… Kể từ cái ngày:

Bàng hòang biết tuổi thơ không về nữa

Lặng lẽ đi qua những thành phố cháy

(Trầm Tích, chương VI, Quặng Lửa, trang 34)

HTC đã đi, đi khắp cùng chẳng những bao thành phố cháy, mà còn không đếm nhớ được những thôn làng tàn lụi xác xơ! Để lại người Mẹ ngày ngày đứng tựa lưng vào cây cau ngòai ngõ ngóng mong con… Cái thân cau bây giờ nhẵn bóng… Lóang trơn vì đẫm hơi lưng của Mẹ…

Có phải cây cau vừa trổ gai

Níu mẹ khỏi ngã xòai xuống đất

Chiến tranh đi qua bàn tay lật

Hất vào mắt mẹ

(Như trên, trang 40)

II.BƯỚC TỚI

Rồi cuối cùng chinh chiến cũng qua đi. Trả lại cho Con Người những phố thị làng mạc đã dạn dày bom đạn. Và trả lại người lính con đường dẫn về với Mẹ, với ngôi nhà của tuổi thơ đã mất… Với những ước mơ tưởng chừng đã quắt queo theo tháng ngày trận mạc… Và với một tương lai mịt mù trước mặt… Mà hành trang trên đường từng bước “qui hồi cố quận” là một quá khứ nám đen trĩu nặng trên lưng…

Người lính trở về

Ngật ngưỡng con búp bê ngồi trên khung xe đạp

. . . . . . . . . . . . . . .

Có người lính mãn thời trai trẻ

Người yêu

Giờ đã lấy chồng

Con búp bê mở mắt tròn xoe

Suốt ngày khóc trên tay con của người yêu cũ

(Trầm Tích, chương VII, Mưa Ốc Đảo, trang 42 & 43)

Tuy nhiên, cũng có những người lính như một lần trúng số…

Ở mặt trận về

Không thể ngờ em còn đứng đợi

Tóc em xanh như trời

Tôi ngơ ngác đi qua

(Như trên, trang 43)

Không thể ngờ hay là cuộc bất ngờ? Bởi tâm thức của mỗi con người, và nhất là người lính, sau chiến tranh thường chỉ mở ra để chờ đợi những mất mát, tan hoang. Từ trận mạc quay về, sự sống còn của chính họ, đôi khi, không chỉ đơn thuần là niềm vui! Niềm vui này, dường như không kịp tượng hình trong những ước vọng của bao tháng ngày qua, bao tháng ngày của sự sống không kịp biết mình đang còn thở! Do đó, bây giờ lắng xuống, nhìn lại, sự sống sót thành một tiếng thở dài…. Và mỗi một niềm vui, mỗi một tồn tại thân quen ngòai sức nong đợi… đều làm cho người lính phải ngác ngơ… chóang váng:

Ước vọng chưa thành

Như trời xanh cuối ngày lại trôi vào đêm thẳm

(Như trên, trang 44)

Nhưng rồi, sau khi đếm lại được hơi thở của mình, sau khi đã lắng xuống và trực diện với hiện tại. Cái hiện tại là chinh chiến đã đi qua… Nhưng từ đó đã hiện hình ma bóng quỷ… Còn chăng là quê làng…

Khói lửa tạm lắng rồi

Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ.

. . . . . . . . . . . . .

Thế kỷ này vẫn lắm quỷ nhiều ma

Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại

Dân làng không túm tụm nhau ngòai bãi

Hỏang hốt nhìn những lằn chớp chèn ngang lễ cưới

Hỏang hốt nhìn những sân trường sạch bóng bóng trẻ con

(Trầm Tích, chương 8, Hòang Hôn Màu Cỏ, trang 45)

Và:

Con lặng yên nghe

Tiếng giao thông hào thở phào dưới nắng

(Như trên, trang 47)

Chỉ có những người lính mới nghe ra được tiếng thở phào của những giao thông hào… giờ bỏ không, hoang phế dưới nắng chiều. Chỉ có những con người từng sống trong chiến tranh mới nghe được tiếng thở dài của làng mạc, phố phường sau cuộc phong ba, bom đạn….

Và giờ đây, người lính ngày nào rời thôn nhà ra đi vào trận mặc, đã được trở về dưới bóng đa làng, trong vòng tay thương yêu của Mẹ, trong bóng chiều lay bay dòng tóc xõa của người vợ hay người yêu… Những phút giây chạy đua cùng sống chết đã qua, đã là kỷ niệm. Cho dù:

Quá khứ không tòan là kỷ niệm

Quá khứ có lúc còn buốt óc

Quá khứ lộ thiên

Có đá có vàng

(Trầm Tích, chương IX, Bóng Đa Làng, trang 51)

Quả vậy! Có đá có vàng! Là thủy chung. Là có cả những báu vật chỉ để những ai may mắn thì thấy được. Những màu mây lạ. Những bão dông cuồng nộ sấm giật chớp giăng hồng thủy ngập ngập.

Và có cả gương mặt của chính mình sẽ mọc lại ở mùa sau

Nếu có ai quên quá khứ của mình

(Như trên, trang 51)

Quên được chăng quá khứ của chính mình? Cái quá khứ luôn có đôi mắt dõi theo của Mẹ.

Sao mắt mẹ không mưa mà ướt

Sao người lớn miệng cười mắt khóc?

(Như trên, trang 55)

Quá khứ trùng điệp của một con người là lịch sử. Trong lịch sử của một con người có những con người khác. Những người sống và những người chết. Sự sống được triển khai cùng lúc với sự chết từng giây phút. Giữa người chết và người sống là những tương quan song hành bất biến. Người sống lắm khi mắc nợ người chết!

Người đã khuất vẫn cưu mang người đang sống

Ngôi mộ là chứng nhân

Những chứng nhân mọc và rụng không bất ngờ với đất

(Trầm Tích, chương X, Tảo Mộ, trang 58)

Những ngôi mộ làm chứng nhân câm nín. Không cần một lời biện bạch hay kết tội nào dành cho người còn sống. Ngôn ngữ của người chết là lặng im.

Những ngôi mộ vô danh

Xin nhận cho nén hương này nóng hổi

Thanh minh rồi

Bờ ruộng đã liếc nhau

. . . . . . . . . .

Sửa sọan lại dáng hình

Trong điệp khúc của đêm qua ngày tới

(Như trên, trang 59 & 60)

Luân lưu của sinh tồn là mạch nguồn nằm trong đất. Bởi đó, đất có hồn đất. Đất ấp ôm người chết, cùng lúc đất sản sinh ra những con người sống. Với đất, dù thời gian hay không gian hay bất cứ gì cũng đều là vĩnh cửu và vắng mặt, là tồn tại cùng lúc với hủy diệt.

Lắng tiếng thời gian

Lắng ngọn gió xoi lên từ đất

Lắng giọt mưa lật đật ngang chiều

Lắng bóng nắng những hôm trời đau yếu

Gặp trăng thâm quầng đứng khóc cạn đêm

Gặp những dòng sông thoi thóp nước

Gặp những lối mòn cắt mặt thời gian

(Trầm Tích, chương XI, Địa Linh, trang 62)

Quả tình, HTC luôn có những câu thơ nói về thiên nhiên làm nao lòng người: “Lắng bóng nắng những hôm trời đau yếu / Gặp trăng thâm quầng đứng khóc cạn đêm.” Và họ Hòang còn dắt người đọc thơ ông cùng giẫm lên cái cảnh thổ của quê hương khô cằn gai góc của ông. Cái mảnh đất đã cùng chia sẻ với thân phận những con người do Nó sản sinh, sống và chết trên mặt Nó.

Suối đã nhỏ còn trườn ngang vách đá

Đất gan gà rỗ hoa

Vực xóay sông sâu

Nỗi lo xóay trắng đỉnh đầu

(Như trên)

Nỗi lo từ thiên nhiên khắc nghiệt. Nhưng cũng từ cái thiên nhiên khắc nghiệt, qua thơ HTC, đã được gạn lọc bằng một cái nhìn nghiêm cẩn, không bị dây vào bất kì điển phạm phù phiếm huê dạng nào, đã chợt trở thành những hình ảnh dễ chừng thân thương không ngờ:

Mùa lũ theo con kiến càng

Leo cong ngọn cỏ

Mùa lũ theo đàn kiến đỏ

Men ngược bờ tường

. . . . . . . . . . .

Mùa lũ theo đàn kiến gió

Bỏ nhà đi hoang

Mùa lũ đẩy cánh kiến vàng

Sang nhà hàng xóm

Bờ sông lập lòe đom đóm

Mẹ bảo năm nay lại lụt to rồi

(Như trên, trang 66 & 67)

Và do đấy, cuối cùng, là sự cam phận hay chấp nhận của con người để sống còn trên miền đất ấy:

Thôi thì đành tính đường sống chung với lũ

(Như trên, trang 67)

Nhà thơ họ Hòang kêu lên:

Vì sao con không có những dòng thơ nằm ngay ngắn trên cùng mặt phẳng

(Như trên, trang 69)

Bởi vì:

Những trầm tích giữa bốn bề năm tháng

Khuất mình nhưng chưa khuất lặng

. . . . . . . .

Như ngọn sóng dưới sông

Như mưa chưa ngừng rơi

Và gió

Hững hờ hò hẹn với xa khơi

(Như trên)

Miền Trung là miền đất của thiên tai! Để đương cự với thiên tai trùng trùng và dai dẳng dằng dặc từng năm tháng, Con Người miền Trung có những thỏa hiệp lẫn tin cận vào những Huyền Thọai của siêu nhiên! Tin cận vào những cái Chết để tìm ra sự Sống. Nên đứa bé chết trôi hiển linh làm Thành Hòang…

Từ ngôi mộ mối xông

Nhảy chân sáo chạy ra một bóng trắng choai choai hì hục

Bóng trắng lấm lem không rõ mặt mày

Sáng ngày ra dân làng bang hòang ngơ ngác

Trời đã cho mình vị thần hộ đê

(Trầm Tích, chương XII, Thành Hòang, trang 70 & 71)

Và nhờ đó:

Những con lũ thở dài

Hậm hực lảng qua làng

Nước trượt trắng chân đê

. . . . . . . .

Để lũ lụt thôi lập lờ điêu trá

Rủ trẻ con ra sông

Rủ trẻ con đuổi theo ảo mộng

Thành những thành hòang lang bạt theo sông

(Như trên, trang 72)

III.TÌNH YÊU

Hòa trộn vào huyền thọai và thiên nhiên, vào cái sống cùng cái chết tất yếu. Vào “Lúa trổ đòng ngóng mưa có như anh mong em”. Là câu hỏi của riêng tư đôi lứa. Là câu hỏi dắt hai người trai gái đi vào Tình Yêu…

Em thấm vào anh

Đam mê lịm ngọt

Như ngải như bùa

Như bão như giông

Giai điệu của rừng

Giai điệu của sông

Gọi trăng vào đêm

Gọi nắng vào ngày

Em ngang qua chiều

Nắng thơm mùi rượu

Mắt sông

Môi lửa

Gió lên đồng

(Trầm Tích, chương XIII, Thiên Nhiên, trang 74 & 75)

Tình yêu là tặng vật của thiên nhiên. Cũng như:

Đã là lửa thì cháy

Đã là mây thì bay

Em là thế

Và anh là thế

Xanh nghiêng đêm

Và thắm lệch ngày

Giấu làm chi đầu mày cuối mắt

Nén làm chi cho thắt nhịp tim

(Như trên, trang 75)

Của thiên nhiên thì nó sẽ tự trưởng sinh và tồn tại… theo thiên nhiên. Trong dấu vết vảng lai có những điều thầm kín. Vì bởi là bởi của tình yêu. Ngôn ngữ sần sùi của Thơ HTC khi viết về Tình Yêu bỗng dưng mềm ra, mịn màng và có âm sắc nâng niu, nhẹ nhàng đến lạ!

Mạch ngầm có sóng

Cất trong mắt ai

Cho thu trở lại

(Như trên, trang 76)

Để cho mùa có gọi xanh lên lá nước xanh trời… Cho đêm chờ ngày đợi… Cho mưa rơi nắng rực… Là cho thiên nhiên mặc sức giao hòa.

Nắng say đỏ ráng

Em đến với ngày

Mưa đến với đêm

Và anh mang gió

Ôm mưa ngang thềm

Mưa chừng đã lạnh

Nép vào trong anh

(Như trên, trang 79 & 80)

Chương Thiên Nhiên của HTC có nhiều những câu thơ nói về Tình Yêu, say đắm và ngọt ngào đến không ngờ! Những câu thơ Đẹp…. Mưa chừng đã lạnh hay em chừng đã lạnh. Mưa nép vào trong anh hay là chính em nép vào trong anh? Và cơn say…… HTC kết chương XIII Thiên Nhiên bằng điệp khúc:

Em ngang qua chiều

Nắng thơm mùi rượu

Mắt sông

Môi lửa

Gió lên đồng

(Như trên, trang 80)

Hành trình vào Trầm Tích là cuộc Hành Hương của HTC tìm về Đất và Con Người Nghệ An của nhà thơ. Trong cuộc Tìm Về, họ Hòang đã tích nhặt và khắc chạm mọi thứ ông bắt gặp thành Thơ. Nhưng đây không đơn thuần là cuộc hành hương tìm về quá khứ! Động năng tiềm phục là một cái khác! Là sức sống của Đất và Người Nghệ An. Là Tồn Tại Vĩnh Cữu của Quê Nhà…

Ai lọc mà nước trong

Ai quấy mà sông đục

Nén đau sóng đi vòng

Cho bờ thôi xói lở

. . . . . . . . . . . . . .

Nước xiết như bào ruột

Vẫn buông mình đi xa

Những dòng sông gầy rộc

Những lũy tre quanh nhà

Những cánh đồng của mẹ

. . . . . . .

(Trầm Tích, chương XIV, Cấu Trúc Làng, trang 84)

Theo cảm nhận của tôi, chương XV, chương Cá Gỗ trong Trầm Tích của HTC là một chương Thơ Đi Lạc!

Nếu tách chương XV này ra, sẽ là một bài thơ dễ thương…. Dù rằng, nó không có đủ thần khí và chuyên chở được hơi – Thơ – Hòang – Trần – Cương. Nhưng để Cá Gỗ vào Trầm Tích… làm Cá Gỗ thành đi lạc!

Mỗi lần qua trường cũ

Tôi bần thần bờ ao

Soi tìm trong bóng nước

Đôi bím tóc đuôi gà

(Trầm Tích, chương XV, Cá Gỗ, trang 91)

Kỷ niệm của tác giả cùng hai cô bạn học bé thơ hai bím tóc đuôi gà ngày nọ còn váng vất…. Nhưng không đủ cường độ để làm cho mặt nước ao sôi sục và bóng hình hai cô bạn nhỏ hiện về rõ nét! Chỉ còn lại những nhát khắc chạm trên thanh gỗ để tạo thành hình tượng cá. Và cái huyền thọai dân gian:

Bây giờ con cá gỗ

Thong dong giữa đại ngàn

Nghe nói rồi hóa thạch

Lặn vào dòng sông Lam

(Như trên, trang 102)

Con cá gỗ có hóa thạch lặn vào sông Lam, thì sự hiện diện của nó sẽ vẫn còn trong lòng người xứ Nghệ… cùng với những kết tinh khác đã làm nên Đất và Người Nghệ An. Trong đất có máu người. Máu người ngấm qua đất và thấm vào trong đá…

Đá đỏ kết tinh từ máu của người lương thiện

Trầm uất gì bẹp dí dưới vực sâu

(Trầm Tích, chương XVI, Đá Đỏ, trang 105)

Nhưng rốt cùng, rồi cũng sẽ đi qua những trầm uất, để mà:

Thanh thản đất trời

Thanh thản thời gian

Sông ngắm núi êm đềm mây trắng

Biển mong sông bủa sóng xanh bờ

(Trầm Tích, chương XVII, Giao Cảm Phù Sa, trang 109)

Phải tiếp tục sống, do đó, hãy bỏ lại sau lưng những miền tiếc nuối…. Để thấy phù sa đã mịn màng trên những bến bờ chờ đợi…. Để mắt con sẽ mướt xanh vào sớm mai này…

Mẹ ơi

Lẽ ra con cũng đã như bao đồng đội

Khi đất nước mình trận mạc

Những ngày sống bây giờ

Dẫu còn phần lấm láp

Nhưng với con

Kể như là lãi

(Trầm Tích, chương XVIII, Vốn Và Lãi, trang 117)

HTC đóng Trầm Tích lại bằng chương Miền Trung, là miền đất mà quê hương Nghệ An của ông dầm mình trên đó.

Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa

Chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam

(Trầm Tích, chương XIX, Miền Trung, trang 123)

IV. CẶN MUỐI

Trầm Tích in năm 1999. Tuy nhiên, Trầm Tích trong sâu thẳm con người HTC vẫn còn xao động không nguôi! 11 năm sau, năm 2010, ngày 30 tháng 7, HTC hòan tất trường ca Cặn Muối! Hay là Cặn Của Nước Mắt? Cuộc Hành Hương bây giờ không còn là Cuộc Tìm Về vùng đất con người Nghệ An chôn rau cắt rốn của họ Hòang. Mà là cuộc truy lùng tông tích những bạn bè cùng thế hệ thanh xuân của mình đã vun bồi cho đất nước Việt Nam. Cuộc Tìm Lại thống khổ bi tráng của của Con Người.

Lũ chúng mình nếp thơm tẻ đậm

Ngậm đòng đòng trơn lông đỏ da

Sưởi nắng tinh sương

Tẩm hương đồng nội

Lội suối ngược rừng

Ngủ ngồi ăn đứng

Sấp ngửa bão giông

Kiếm tìm vốn liếng

(Cặn Muối)

Cả một thế hệ thanh niên vùi dập cùng mệnh nước! Và mệnh người lảo đảo thấp cao trên từng bước chân có khi chưa kịp qua hết lần trẻ dại.

Chúng mình đi

Ngược chiều tiếng khóc

Lăn lóc cùng đất nước bi hùng

Hốt sạch đời sinh viên

Nhúng tuột vào giông bão

Tuổi thanh niên

Đánh đáo chật chiến hào

Cuối trận tìm nhau

Tuốt trần mắt chắp tên ghép tuổi

(Như trên)

Những người lính chiến giữa hai lần trận mạc còn cuộc chơi đánh đáo của tuổi thơ! Chỉ là để Học và Để Lại? Để lại gì? Chút Cặn Muối thôi sao?

Học thời gian

Cách bàn giao đêm ngày bình thản

Học đàn chim

Cách dàn hàng ngang trở lại đại ngàn

Học đá

Cách lặng im

Học mẹ cha

Cách gói ghém niềm tin

Học cách cắt móng tay không phạm vào da thịt

Và học biển

Sau cuồng điên

Yên ắng

Sót lại xa khơi

Một chấm

Buồn . . . . .

Không sớm

Và không muộn

Trời trong soi đất phẳng

Nắng đổ gọi mưa tuôn

Ngày đi

Đêm đi

Chúng mình đi

Nước mắt

Chắt muối cặn

Nuôi núi sông

Dậy thì…..

(Cặn Muối, Hà nội 30.07.2010)

Vâng! Hòang Trần Cương chỉ muốn để lại chút Cặn Muối! Là Những Giọt Nước Mắt của Một Thế Hệ Việt Nam!

HA ngày 6 tháng 10 năm 2010


1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Tin mới