Phạm Công Trứ: Nhà quê khí chất tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân
   

Trọn vẹn con đường trọn vẹn niềm tin
Cập nhật: 8:37:00 14/4/2011
VanVn.Net - Tháng 4 về. Những kỉ niệm của một thời tuổi trẻ gian lao trước những ngày non sông nối liền một dải. Đã gần 40 năm tính từ ngày tháng đó, đã gần trọn một đời người kể từ cuộc lên đường đó...Vẫn còn nguyên sự trong trẻo, hồn nhiên, phơi phới yêu đời của tuổi đôi mươi khi chạm vào dấu mốc thời gian là những cảm xúc nhà văn Trần Thị Thắng muốn chia sẻ với bạn đọc VanVn.Net

Ngày 21-10-2010 Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư thành ủy Hà Nội, Phạm Quang Nghị cựu học viên lớp viết văn khóa 4 đã mời cả lớp ra Hà Nội gặp mặt. Câu thơ anh viết ngày ấy về lớp chúng tôi được đọc lại: Lửa tình yêu cháy cùng lửa đạn bom ngoài mặt trận..

1.Thế mà đã hơn 40 năm. Ngày 15-9-1970, chúng tôi được lệnh tập trung tại Quảng Bá Hà Nội, nhập học khóa 4 trường Viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam. Danh sách học viên được gửi lên trường rất sớm, mọi người chú ý nhất là bốn nữ khoa Văn trường đại học Tổng hợp và ba cây viết của Lào: Xuvănthon, Chănthi, Bunthăm và hai nhà văn quân đội Triệu Bôn và Nguyễn Trí Huân. Lớp học có 73 người, 61 sinh viên khoa Văn , khoa Sử, còn lại là những cây viết công nhân (Lê Điệp, Nguyễn Khắc Phục), quân đội, mấy nhà báo, mấy anh làm việc bên nhà xuất bản, có người là nhà giáo....

Sau khi tuyển người khoa Sử, khoa Văn năm thứ tư chưa đủ, Ban tổ chức Trung ương lấy xuống năm thứ ba Văn, Sử. Đó là Trần Thị Thắng, Hà Phương, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Hồng, Dương Trọng Dật, Nguyễn Bảo, Hà Công Tài, Khuynh Diệp, Nguyễn Bá Thâm, Đỗ Văn Đông, Trần Lộc, Lê Doãn Xuân, Bùi Hồng Việt. Phạm Quang Nghị, Trần Văn Thành, Phạm Văn Song, Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Quốc Cự, Nguyễn Văn Sơn, Phan Thanh Phương, Bùi Dục, Phùng Đức Thắng, Nguyễn Khắc Thuần. Chiến tranh thúc bách, tất cả những người tôi nêu tên vừa làm xong luận văn năm thứ ba đã tập trung học lớp viết văn khóa 4 để chi viện cho chiến trường miền nam.

2.Học viên lớp viết văn khóa 4 được các nhà văn ngày ngày lên lớp giảng bài. Không một đồng thù lao nhưng khi được phân công giảng dạy ai cũng đạp xe đạp từ nội thành Hà Nội lên Quảng Bá nói chuyện kinh nghiệm sáng. Từ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, tới các nhà văn lão thành Khương Hữu Dụng, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tuân, Vũ Khiêu. Thầy hiệu trưởng, nhà văn Nguyên Hồng hễ nói đến việc chúng tôi sắp vào chiến trường là lại khóc. Có lúc thấy tôi đau yếu mấy ngày, thầy vừa khóc vừa nói : “Vào đó con đừng đau ốm nhé! Ai chăm sóc cho con ”. Những ngày đông tháng giá, mỗi lần tôi vào bếp tập thể lấy nước nóng gội đầu, vợ bác Tiếu vừa múc nước vừa nói: “Còn ở đây bác còn đun nước cho con gội đầu, khi ở chiến trường về, lại đến nhà, bác bác đun nước cho con gội, con tắm”. Hai vợ chồng bác Tiếu , bác Phụng đều là cán bộ của Hội Nhà văn, khi mở lớp viết văn học khóa 4, xin lên làm cấp dưỡng phục vụ chúng tôi. Mỗi sáng thấy Nguyên Hồng đến từng cửa: “Dậy đi các cháu, dậy tập thể dục!”. Chúng tôi mắt nhắm mắt mở chạy ra sân thì đã thấy thầy với mảnh áo bà ba nâu, chiếc quần ống tọa, đang giơ tay giơ chân, trong gió hồ Tây thổi lạnh thấu xương. Một lần tôi vào ngồi phòng thầy Nguyên Hồng, thầy Kim Lân than : “Ông ấy đi Liên Xô mua được hai con len rối, đem đi đâu người ta cũng không nhận đan vì len quá ít”. Tôi xin bác Kim Lân được mang về đan. Tôi lấy thêm ít len xanh của nhà làm nẹp và gấu, thế là năm ngày sau thầy Nguyên Hồng có áo len mới.

3.Hai bạn học, hai nhà văn quân đội Triệu Bôn và Nguyễn Trí Huân đi vào Nam trước chúng tôi hai tháng. Các anh là bộ đội nên không phải lên Xuân Mai đeo gạch đá tập leo núi như bọn sinh viên nên vào chiến trường sớm. Sáng các anh ra ga Hàng Cỏ mà cả lớp tôi không ai được biết. Chiều cùng ngày tôi nhận được mảnh giấy nhỏ Nguyễn Trí Huân gửi lại với mấy lời tạm biệt. Tôi đọc và thầm nghĩ: “Phải giữ tới ngày hòa bình, họp lớp mình sẽ đọc cho mọi người nghe”. Rồi cũng tới lượt chúng tôi, ngày chia tay ở Quảng Bá, các nhà văn Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân, Võ Quảng, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Xuân Quỳnh, Thu Bồn, Phan Tứ...đều có mặt. Chúng tôi khóc đã đành, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Thu Bồn… tất cả cùng khóc khi bánh xe lăn.

4.Năm 2000 họp mặt lớp tại Hà Nội. Chủ tịch Hội Nhà văn VN có mặt và phát biểu: “Lớp viết văn khóa 4 ngày nay các anh các chị đề đã thành danh trên tất cả các lĩnh vực như văn chương, khoa học, lãnh đạo, quản lý. Lĩnh vực nào cũng có những nhân vật xuất sắc. Hội Nhà văn Việt Nam vinh dự có được một lớp học trò như vậy. Điều tự hào nhất ở các anh, các chị là tất cả mọi người đều đã đi trọn vẹn con đường của mình, trọn vẹn niềm tin của chúng ta ngày ấy. Hội Nhà văn xin đỡ đầu những tác phẩm mới các anh chị viết ra trong lúc này.” Lớp chúng tôi có 18 nhà văn hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, trong đó hai phó chủ tịch Hội là Nguyễn Trí Huân, Lê Quang Trang. Sách mà các nhà văn, nhà thơ nhà phê bình của lớp cũng tính đủ cả trăm quyển, phim thì cũng cả mấy chục bộ. 9 học viên của lớp từng làm Tổng biên tập các báo Văn nghệ quân đội, Văn nghệ, Đại đoàn kết, Sài Gòn Giải phóng, Nghề báo, báo Bình Định, báo Đà Nẵng...Lớp có 5 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ; 2 học giả quản lý viện là Trần Đức Cường nguyên Phó Chủ tịch Viện khoa học Xã hội Việt Nam, Viện trưởng Viện sử Việt Nam và Phan Xuân Biên Phó viện trưởng Viện Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, Ủy viên thường vụ thành ủy, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Thành ủy TP Hồ Chí Minh; 2 bí thư tỉnh ủy là Nguyễn Đức Hạt, nguyên bí thư tỉnh ủy Quảng Nam (sau là Phó trưởng ban trường trực Ban Tổ chức Trung ương) và Phạm Quang Nghị, Bí thứ Thành ủy Hà Nội. Lớp có 4 nhà văn nữ, thì Bùi Thị Chiến bị thương trong lúc đột ấp đã được đồng bào chăm nuôi ngay trong lòng địch, Vũ Thị Hồng theo một tiểu đoàn đánh giặc, sau tiểu đoàn đó đổi tên là tiểu đoàn Bắc Hà - bút danh của chị. Tôi và Hà Phương sống ở Củ Chi, từng theo đại đội pháo binh nữ Củ Chi xuống Gò Mả, áp sát Sài Gòn. Và đáng nhớ nhất là lớp chúng tôi có 4 liệt sĩ. Nguyễn Văn Long hy sinh tháng 10/1971 trên đường vào Nam bộ, Nguyễn Văn Kim hy sinh 11/1971 khi đã vào đến Nam bộ, Nguyễn Hồng hy sinh ngày 3/12/1973 trong một cuộc chiến đấu chống địch lấn chiếm ở Điện Xuân, Điện Bàn, Quảng Nam, tác phẩm Đêm cao điểm của anh được Giải thưởng Văn nghệ Quân đội 1974.

Ngày 21/10/2010 họp lớp tại Hà Nội, chúng tôi cùng đọc thơ với nhau: Em nhắc lại cái thời chiến tranh/ Lửa tình yêu cháy cùng lửa đạn bom ngoài mặt trận/ Em nói: chiến tranh cuồng điên như lửa hận/ Mà sao tắt được anh ơi/ Còn ngọn lửa của riêng em/ Cứ cháy suốt cuộc đời?

Trần Thị Thắng
(Thế giới mới)

1
2
3
4
Tin mới