Eliot (nhà thơ Anh gốc Mỹ): Cái xác anh trồng năm ngoái trong vườn/ Đã bắt đầu nẩy mầm chưa? Thanh Quế: Tôi như thấy những tháng năm đời mình còn lại/ Là những tháng năm vay mượn của các anh/ Những người đã khuất (Nói với một người anh - nhớ Lê Anh Xuân)

   

Xã hội dân sự - Cái chân thứ ba
Cập nhật: 9:06:00 13/9/2010
(Xã hội dân sự - Cái chân thứ ba của cái kiềng ba chân trong xã hội hiện đại - đã đến lúc cần làm rõ thêm để an tâm vận dụng)

Vũ Duy Phú

Gần đây rất nhiều cơ quan, bạn đọc muốn tìm hiểu về XHDS, muốn tìm sách “XHDS - Một số vấn đề chọn lọc” để mua, song rất tiếc, số sách chỉ còn để dùng nội bộ. Vì vậy, để kịp thời giải đáp ngay một số nội dung cốt lõi mà nhiều tổ chức, bạn đọc cần tìm hiểu, chúng tôi cho đăng bài viết sau đây (theo đơn đặt hàng của một tạp chí của Đảng, và thoả thuận cùng được sử dụng)

Nói đến “Xã hội dân sự” (XHDS), ta thấy nó có hai vế: Xã hội và Dân sự. Khái niệm Xã hội đối với mọi người rõ ràng là đã rất quen thuộc. Vậy tại sao khi thêm tính ngữ Dân sự vào, nó lại trở nên phức tạp, nghĩa là người thì bảo nó rất cần cho một nước dân chủ, người lại coi là nó rất nguy hiểm, cần phải cảnh giác! Nhất là từ khi tại các nước XHCN cũ ở Đông Âu xẩy ra các cuộc “cách mạng mầu”, rồi sự “lộn xộn” ở Thái Lan gần đây nữa ! Để làm rõ vấn đề này, chúng ta nên trở lại “đầu đuôi”, “ngọn nguồn” của nó một chút.

Những học giả lớn Châu Âu đã nói gì về XHDS

Xã hội nói chung đã có từ lúc loài người biết sinh sống quần tụ với nhau thành làng, thành nước. Song cụm từ xã hội dân sự (Tiếng Anh là civil society , hoặc tiếng Pháp là sosiete civile) mãi đến thế kỉ 17 (gần 400 năm trước đây) mới xuất hiện chính thức trong những văn bản các ngôn ngữ này.Tuy nhiên trước đó hàng ngàn năm, trong “nguyên bản” bằng tiếng Latinh, viết là societas civilis, đã được triết gia Cicéron sử dụng từ thời Cổ La Mã, với một nội dung tương đương với cụm từ Hi Lạp koinōnia politikē. Học giả Thomas Hobbes (1588-1679) – người được coi là đã tạo ra cụm từ xã hội dân sự chính thức đầu tiên, thì coi cụm từ này gần như đồng nghĩa với nhà nước. Tiếp theo, Samuel von Pufendorf (1632-1694) đã phân biệt xã hội dân sự, với xã hội của Giáo hội, Còn với John Locke (1632-1704), xã hội dân sự không chỉ có mục đích là bảo đảm an ninh và an lạc nữa mà đã lưu ý đến việc bảo vệ lợi ích của người dân. Đi xa hơn, Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) bắt đầu tách biệt nhà nước ra khỏi xã hội dân sự, coi nhà nước là quyền lực chính trị, xã hội dân sự là khu cực dành cho những người nằm ngoài nhà nước. Tuy cuối thế kỉ 18, trong khi nhiều học giả (nhóm Bách khoa toàn thư của Diderot và d’Alembert) vẫn còn coi nhà nước gần như đồng nhất với xã hội dân sự, nhưng thu hẹp xã hội dân sự vào một kích thước là khu vực không chính trị, Nhưng cũng chính thời đó, học giả Adam Smith đã quan niệm khác hẳn: Ông coi xã hội “dân sự” tách biệt hẳn với nhà nước, mà “bổn phận” của nhà nước chỉ còn là đảm nhiệm việc cai quản chung, và làm những gì mà nhân dân không đủ sức hoặc không muốn làm. Bước sang thế kỉ 19, xuất hiện hai quan niệm về xã hội dân sự. Một quan niệm « Cởi trói », xác định tính “tự lập” của XHDS đối với nhà nước: đó là quan niệm của bộ Dân luật (1804) của Pháp, cũng như trong tác phẩm của Benjamin Constant (1767-1830). Quan niệm kia là quan niệm của Hegel, rồi của Các Mác sau đó, dựa trên hai đặc trưng của xã hội theo hướng: xã hội kinh tế và xã hội xung đột giai cấp. Các Mác nói rằng : « Không phải XHDS do nhà nước tạo lập và quy định, mà trái lại, chính nhà nước là tổ chức do XHDS tạo lập và quy định ». Hegen cũng nói : « Nhà nước pháp quyền hình thành dựa trên 2 nền tảng là gia đình và XHDS, và nhà nước chỉ có thể được hình thành khi XHDS đã ra đời ». Tóm lại, xã hội (cả « dân sự » lẫn « không dân sự » - nếu như ai đó muốn từ chối dùng chữ dân sự) là vật thể có trước, nhà nước là vật thể sinh ra sau. Nhà nước nào cũng đều là do người dân – ưu tú và chưa ưu tú - dàn dựng mà thành.

Mấy giai đoạn chủ yếu phát triển XHDS

+ XHDS sơ khai : Trong thời cổ đại và trung cổ, cái xã hội được gọi là Dân sự ấy chính là xã hội con người được tổ chức thành Nhà nước, nó hầu như đồng nhất với khái niệm Nhà nước, civilis được hiểu với hai nghĩa: một là nó văn minh ( civilisé), đối nghịch với không có trật tự, trật tự tự nhiên, hoang dại, tức là nó có pháp luật, có « lễ độ » ; hai là công dân, người được tham gia trực tiếp vào sinh hoạt dân chủ của đất nước, ở đó, lúc đó là thành quốc Athènes, cái nôi của nền dân chủ thời bình minh bấy giờ. Vậy là đầu tiên, xuất hiện nhu cầu phân biệt cái xã hội có luật pháp, có « lễ độ » với cái xã hội mang tính tự nhiên sơ khai, hoang dại, kém văn minh thời tiền sử bằng một tính từ Dân sự. Sở dĩ khu vực nhà nước lúc đó cũng còn « ăn nhập » vào đây (với xã hội dân sự) là vì, thời đó nhà nước còn rất sơ khai, nhân dân trực tiếp tạo ra nhà nước (trực tiếp cử con em của mình đứng ra cai quản công việc chung), nhà nước sơ khai bắt đầu từ nhân dân, hiện hữu là một thực thế xã hội ủng hộ luật pháp, cùng nhân dân tạo ra luật pháp, ủng hộ « lễ độ » và nền văn minh còn rất non trẻ đang hình thành. Cả một thời kỳ dài lịch sử, một « đẳng thức » rất đẹp sau đây đã thịnh hành: Tình yêu (Gia đình) + Nhân quyền và đạo đức (XHDS) + Cái lý tính, cái hợp lý công cộng (Nhà nước chính trị) = Đạo lý tổng quát của Một quốc gia bền vững.

+ XHDS đầy đủ : Như vậy là cho đến thế kỉ 17 ở châu Âu, khái niệm “xã hội dân sự” hầu như đồng nhất với khái niệm xã hội được tổ chức về mặt chính trị, nghĩa là Nhà nước. Nhưng bản thân nó đã mang mầm mống của sự phân hoá và mâu thuẫn: bởi vì trong xã hội châu Âu thời Trung Cổ và Phục hưng, quyền lực chính trị được chia sẻ giữa Giáo hội và các Lãnh chúa. Hai lực lượng này được sinh ra, hình thành chính từ trong những bộ phận khác nhau của nhân dân, nổi trội hơn của/từ dân chúng, rồi dần dần chiếm quyền của dân chúng. Một nhà triết học Nga đã viết: « Nhà nước đã phát sinh từ XHDS, và dần dần đã tự đặt mình lên trên xã hội đó, tự biến mình từ người nô bộc, thành người thống trị ». Vấn đề lại càng trở nên phức tạp và gay cấn vì dần dần xuất hiện những nhóm người dân khác có những chính kiến và đòi hỏi mới : Một nhóm phản đối vai trò cồng kềnh, xa hoa của Giáo hội. Họ cho rằng, mỗi cá nhân tín đồ phải là những cá nhân thực thụ, không còn cần nấp bóng các linh mục (người chăn dắt linh hồn) được nữa, mà phải tự mình chăn dắt lấy phần hồn của chính mình.Nhóm người thứ hai là giai cấp tư sản thương nhân mới xuất hiện, luôn luôn đòi hỏi quyền tự trị đối với chính quyền (quân chủ) và thần quyền (của giáo hội). Thế là từ đây trở đi, xã hội tạm gọi là văn minh nguyên thủy này phải tự xác định lại gồm ít nhất là ba bộ phận: thần quyền, chính quyền và quyền của những người dân không nằm trong hai khu vực quyền lực nói trên, trong đó chủ yếu manh nha một quyền lực mới : dân quyền. Nhưng sau đó, Thần quyền dần dần bị suy yếu, trở thành những bộ phận không còn thực quyền trong nhân dân, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau mà ngày nay người ta gộp vào một khái niệm chung là tôn giáo. Như vậy còn lại : Chính quyền và Dân quyền.

Từ cuối thế kỉ 18, Smith đã coi xã hội “dân sự” tách biệt hẳn với Nhà nước mà “bổn phận” của nhà nước chỉ còn là đảm nhiệm ba chức năng chính: Đảm bảo an ninh đối ngoại, giữ gìn trật tự quốc nội, và xây dựng và “bảo trì một số công trình công cộng”, đó là những nơi mà tư nhân không đảm đương được. Từ đó xuất hiện một nhu cầu phân biệt xã hội của riêng của những người dân không nằm trong khu vực quyền lực chính trị. Từ giai đoạn này, xã hội dân sự thể hiện rõ nét ở một tầm mức mới, tầm mức phân biệt nhà nước với người dân, nghĩa là từ đây đã xuất hiện hai khái niệm : Xã hôi chính sựXã hội dân sự. Xã hội chính sự là khái niệm dùng để chỉ những tổ chức, những mối quan hệ,những hoạt động trong xã hội ràng buộc với nhau trên cơ sở quyền lực chính trị và để thực hiện quyền lực chính trị, các quy định luật pháp, những cơ chế của / do nhà nước quy định, nhằm để thực thi quyền lực chính trị của đất nước. Xã hội dân sự là khái niệm dùng để chỉ những tổ chức, những mối quan hệ, những hoạt động trong xã hội ràng buộc với nhau trên cơ sở tự nguyện, đạo đức, bình đẳng, theo cùng sở thích và các ý tưởng phát sinh (tự phát) trong nhân dân nhằm để cùng nhau tự mình thực hiện một hay nhiều mục đích, nguyện vọng nào đó của họ (làm từ thiện, tổ chức hợp tác tương trợ trong sản xuất, nhóm chơi họ, làm vườn, đánh cờ, lập hội nghề nghiệp, tập dưỡng sinh v .v . . ) Xin có một lưu ý : Trong khu vực xã hội của những người không nằm trong phạm trù quyền lực chính trị (chính quyền), người ta chia ra hai khái niệm khác biệt, tuy không nhiều. Đó là khái niệm xã hội dân sựxã hội công dân. Có thể nói ngắn gọn xuất sứ khác nhau chính của hai cụm từ này : Trên lãnh thổ một nước, tất cả mọi người dân (không nằm trong khu vực chính quyền), có quốc tịch hoặc không, có quyền công dân hoặc không, đều có thể thuộc vào phạm trù xã hội dân sự (xem phần chi tiết: cấu trúc XHDS). Nhưng xã hội công dân chỉ dùng để bao hàm những người có quyền và có nghĩa vụ công dân (ví dụ hiện nay là quyền bầu cử, ứng cử, nghĩa vụ đi lính bảo vệ đất nước . . ) trên mảnh đất đó mà thôi. Nhưng chỉ khi rất cần thiết, coi là quan trọng đến mức phải phân biệt, thì người ta mới nhắc nhở, là anh đang dùng khái niêm nào, trong hai cụm từ đó.

+Xã hội dân sự hiện đại. Xã hội ngaỳ càng phát triển, không chỉ tồn tại hai loại quyền lực chính : Chính quyền (Nhà nước) và dân quyền (Xã hội dân sự). Khi chế độ tư bản phát triển, do cơ chế thị trường tự do thúc đẩy, một lực lượng xã hội mới rất có quyền lực chi phối tới nền chính trị quốc gia đã thực sự hình thành và lớn mạnh, đến nay mới thực sự tạo thành kinh tế quyền. Nói nôm na : Kinh tế quyền là khái niệm để chỉ tác động của khu vực sản xuất kinh doanh, mà đại diện tiêu biểu nhất là đồng tiền, tạo nên sức mạnh có thể chi phối các hoạt động chính trị, tác động đến lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân – có thể là những ảnh hưởng tích cực, cũng có thể là các tác đông tiêu cực. Sức mạnh tạo ra kinh tế quyền này, có cái tên hiện nay là lực lượng thị trường, quyền lực này chỉ có thể có được chủ yếu và đáng kể từ các lực lượng làm kinh tế, những công ty, các tập đoàn sản xuất kinh doanh, các ngân hàng . . . Nếu Xã hội chính trị (Nhà nước) hoạt động theo cơ chế hành chính, luật pháp (là chính), Xã hội dân sự hoạt động theo « cơ chế » tự nguyện, đạo đức, từ thiện, không vụ lợi (là chính), thì Lực lượng thị trường lại hoạt động theo cơ chế lợi nhuận, lợi ích kinh tế (là chính). Rõ ràng, đến lúc này một xã hội hiện đại, nếu được phân nhóm căn cứ theo « cơ chế vận hành » và mục đích tồn tại của mỗi nhóm, với sức mạnh đáng nể của chúng tác động vào toàn cục của xã hội thì nó cần được coi là tập hợp bởi ba thành phần chính : Nhà nước, Xã hội dân sự, và Thị trường.

+ Nếu phân tích kỹ một xã hội hiện đại , người ta còn thấy có những lực lượng khác nữa cũng có sức mạnh « đáng nể » và hoạt động không giống một cơ chế nào trong ba cơ chế nói trên. Các bạn hãy tự phân tích xem, đó là những bộ phận nào ? Và nếu không tách chúng riêng ra nhỏ hơn nữa, thì nên gộp chúng vào nhóm nào trong ba nhóm đã có ? Tôi thấy có nhóm lực lượng « truyền thông báo chí », với cơ chế hoạt động là độc lập phản ánh dư luận xã hội, là một lực lượng xã hội có trí tuệ và đáng nể nhất. Tuy nhiên do một số nhược điểm của một vài bộ phận nào đó của nó (ví dụ dễ bị tranh thủ hoặc chi phối vào lúc này hay lúc khác (theo cả nghĩa tích cực lẫn tiêu cực) bởi một trong ba thành phần chủ chốt nói trên, do đó không phải ở nước nào lực lượng báo chí, truyền thông cũng được tách ra để thêm vào như một thành phần chủ chốt của một xã hội hiện đại. Như sẽ thấy ở các mục sau, ở nước ta, và nhiều nước khác, thành phần truyền thông, báo chí vẫn được coi là nằm trong phạm trù Xã hôi dân sự.

Tóm lại, một xã hội hiện đại, bằng cách gộp các nhóm xã hội trên nguyên tắc theo cơ chế hoạt động và mục đích tồn tại, đã được hình thành từ ba khu vực : Nhà nước, Thị trường và Xã hội dân sự. Nói một cách súc tích, thì Nhà nước hoạt động trong thể chế nhà nước, Thị trường hoạt động theo thể chế thị trường, còn Xã hội dân sự hoạt động theo thể chế xã hội dân sự. Hiện nay thế giới phát triển đã thừa nhận rộng rãi công thức : Nhà nước pháp quyền + Thị trường có điều tiết của Nhà nước + XHDS hoàn chỉnh(*), đó là cái kiềng ba chân vững chắc của một xã hội hiện đại, tạo nên động lực, kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau, làm nền tảng cơ bản cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. (*) XHDS hoàn chỉnh = có đầy đủ các thành phần, hoạt động chính thức theo luật, tính tự tổ chức cao và có khả năng tự nâng cao ngang tầm trí tuệ của thời đại.

Những thành phần chủ yếu của Xã hội dân sự

Ba năm trước đây, Tổ chức « Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân » (CIVICUS) kết hợp với Viện Những Vấn đề Phát triển (VIDS) ở Hà Nôi đã nghiên cứu về xã hội dân sự của nuớc ta, thấy rằng, cấu trúc của Xã hội dân sự Việt Nam cũng bao gồm đủ 4 loại tổ chức, đó là : (i) các tổ chức, đoàn thể quần chúng (như Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Công đoàn, Đoàn TN CS HCM, Hội Phụ nữ VN, Hội cựu chiến binh VN, Hội người mù VN, v.v…); (ii) các hiệp hội nghề nghiệp (như Hội Toán học, Hội Luật sư VN, Hội làm vườn, Hội cà phê VN, Hội nhà báo VN v.v…) ; (iii) các tổ chức phi chính phủ- NGO (như Trung tâm phát triển và hội nhập - CDI, Viện tư vấn phát triển kinh tế nông thôn và miền núi – CISDOMA, Tổ chức « Mái ấm Thiên Ân », v.v.. ) ; và (iiii) các cơ sở hoặc tổ chức dựa trên cơ sở cộng đồng (như Tổ hưu xóm X, Hội chùa thôn Y, Nhóm tang lễ thôn Z, Mái ấm tình thương phường . .Thanh Nhà, Hà Nội, Nhóm trẻ em xa quê v.v..). Cũng cần kể vào thành phần Xã hội dân sự VN các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động ở VN (như tổ chức CIVICUS, DED, SIDA . . .). Hiện còn phân vân về một số thể loại tổ chức, cơ sở, hoặc thành phần xã hội khác, có thể lớn, hoặc nhỏ lẻ, rằng nên xếp nó vào đâu trong 4 nhóm XHDS nói trên, hoặc cho thành một nhóm riêng, như các trường tư thục, các tổ chức tôn giáo, các thành phần cá nhân, gia đình , các tổ chức sản xuất nhỏ, lẻ, buôn bán hàng vặt, hàng rong ? Riêng « xã hội đen », bao gồm mọi loại tội phạm có tổ chức hoặc không, nằm ngoài vòng pháp luật, thì không được xếp vào XHDS. (Trong quyển « XHDS - Một số vấn đề chọn lọc », để nhấn mạnh tính « nền tảng » lớn nhất trong một xã hội của XHDS, tôi đã viết : « Một ông vua khi mới sinh ra là đã lọt vào lòng cái XHDS nhỏ bé thân yêu của hoàng gia, một tổng thống khi nghỉ hưu thì lại về chỗ chiếu ngồi cũ trong cái XHDS vốn đã là của ông ta trước khi ông ra làm quan .Vậy đó, có cái mảng Xã hội nào to lớn, vĩ đại hơn, hiện diện khắp hang cùng ngõ hẻm, có mặt để đón ta từ lúc lọt lòng, và trung thuỷ tiễn ta khi về với tổ tiên chu đáo bằng cái XHDS này ? )

Những đặc trưng chủ yếu của Xã hội dân sự

XHDS thường được đánh giá bởi 4 đặc trưng chính, như sau : (i) Cấu trúc, tức độ rộng và sâu sắc của các tổ chức và hoạt động của XHDS. (Ở nước ta, cấu trúc rất rộng : mỗi người dân trung bình thường tham gia từ 1 tới 2,3 tổ chức nhân dân, hơn rất nhiều nước trên thế giới) ; (ii) Môi trường, tức các yếu tố pháp luật và dư luận xã hội có ủng hộ hay không đối với các hoạt động XHDS (Ở Việt Nam về cơ bản môi trường hoạt động của XHDS là thuận lợi, tuy nhiên pháp luật chưa hoàn chỉnh, nên một số lĩnh vực hoạt động còn khó khăn) ; (iii) Giá trị, tức giá trị thực sự của hoạt động XHDS đựoc coi trong như : Tính dân chủ, Minh bạch, Bình đẳng giới, tính khoan dung, tính phi bạo lực, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tạo ra môi trường bền vững (Ở VN, rất nhiều mặt hoạt động có giá trị cao, như xoá đói giảm nghèo, tương thân, tương ái, bình đẳng giới) ; Cuối cùng là (iiii) đặc trưng (chức năng) Tác động, tức ảnh hưởng tới xã hội của các hoạt động XHDS, như có gây được ảnh hưởng tốt tới chính sách công ? Có duy trì được quyền đòi Chính phủ và các Công ty, tập đoàn kinh tế giải trình trước nhân dân? có đảm bảo dân biết, dân bàn, dân quyết định và dân kiểm tra ? v. v. . (Nếu nhìn vào sức mạnh nhân dân tham gia đòng góp vào thành quả cách mạng, thì tác động của XHDS Việt Nam trở thành kỳ tích trên thế giới. Nhưng hiện nay, do một số quan niệm chưa chính xác, nên đã bị hạn chế một phần)

Câu chuyện « đắn đo » lâu nay về XHDS ở nước ta (Nói về các chức năng đối tác, đối trọng, đối quyền, đối lập và đối kháng của XHDS)

Trong điều kiện của bài viết rất ngắn này và vựot ra khỏi nội dung bên « đặt hàng », tôi sẽ chỉ nói gọn một số ý lớn (chủ quan), quan trọng nhất.

1/ Về chức năng đối tác : Đảng ta, dẫn đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngay từ thời đen tối mất nước trước 1945, đã sớm tuyên truyền, vận động lực lượng quần chúng nhân dân, đã chủ động lập ra các đoàn thể quần chúng trong xã hội để làm cách mạng. Lúc này XHDS (chưa có đầy đủ các thành phần được kiểm kê rõ ràng) của ta do Đảng chủ động tập hợp, xây dựng, và lãnh đạo, đã thực sự là đồng minh, nhiều bộ phận quan trọng của nó không chỉ là đối tác, mà còn là lực lượng chủ lực của cách mạng ; Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN, gần một thế kỷ qua, XHDS luôn luôn là đối tác thân cận, sát cánh cùng Đảng và Nhà nước thực hiện mục tiêu chung độc lập dân tộc, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, biểu hiện cụ thể trong khẩu hiệu: Nhà nước và Nhân dân cùng làm, « Mọi của cải, mọi quyền hành, mọi trí tuệ và mọi sức mạnh là ở nơi Dân »

3/ Về chức năng đối trọng, đối quyền : trong quá trình tranh đấu cho độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân, không phải lúc nào chính quyền cũng đưa ra được các chủ trương chính xác, các chính sách đúng đắn (cả đối nội, lẫn đối ngoại). Nhiều khi các chính sách thiên vị về một đối tượng nào đó, thậm chí sai trái, dễ gây sung đột xã hội, lúc đó vai trò của XHDS là phải tác động (phản ảnh, góp ý, phản biện, kiến nghị v.v…) theo hướng cân bằng lại, hiệu chỉnh lại cho đúng nguyện vọng của đa số nhân dân, hành vi đó được nói gọn lại là đối trọng, đối quyền đối với chính quyền và đặc biệt là đối với thị trường nhằm hạn chế mặt tiêu cực của thị trường tự do, của các nhóm lợi ích riêng quá trớn. Đối trọng đối quyền mang tính chất nhắc nhở, cân đối lại những chính sách hay hành động của chính quyền và thị trường không thoả đáng, thiếu công bằng, quá trớn, hoặc không đủ trí tuệ, xâm hại quyền lợi của đất nước, của nhân dân, Đây là biểu hiện cụ thể quyền Làm chủ của Nhân dân, của đường lối « Lấy dân làm gốc »

2/ Về chức năng đối kháng :Lực lượng cách mạng, trong đó có XHDS, luôn luôn đối lập, đối kháng, chống lại chính quyền phản động Pháp, Nhật và phong kiến bán nước trước kia, với mọi lực lượng phản động trong và ngoài nước, với các thế lực xâm lược, và những mặt tiêu cực của xã hội, của những hành vi hà hiếp nhân dân của cá nhân hay một bộ phận chính quyền cụ thể nào đó ngày nay ; Mấy chục năm đấu tranh dành và giữ nước dưới sự lãnh đạo của Đảng là biểu hiện rỗ rệt của chức năng đối kháng này. Đậy cũng là « Mọi lực lượng đều ở nơi Dân »

3/ Về tinh thần « cảnh giác cách mạng » : Không chỉ chính quyền nhiều nước XHCN cảnh giác với XHDS, mà ngay cả chính quyền các nước Tư bản cũng rất cảnh giác với khối này, thậm chí có khi còn rất sợ, rất căm ghét XHDS. Tại sao ? Đó là bởi vì, XHDS là lực lượng nhân dân, chủ yếu là nhân dân lao động (nếu trừ XH chính sự ra và các tập đoàn tư bản, các nhà sản xuất kinh doanh lớn ra, thì phần xã hội chủ yếu còn lại đương nhiên là nhân dân lao động ) Vì vậy nếu những bộ phận chính quyền nào, dù XHCN, hay TBCN mà bản thân, hoặc để thị trường xâm hại quá nhiều tới quyền lợi nhân dân lao động, đương nhiên sẽ bị nhân dân lao động đứng lên đối trọng « tự bảo vệ », hoặc đối trọng đấu tranh thông qua góp ý, phản biện, nếu không được sẽ khiếu kiện, mạnh hơn nữa là đối kháng biểu tình, lãn công, đình công phản đối. Lúc này, các lực lượng đối lập rất dễ lợi dụng, vận động quần chúng nhẹ dạ hùa theo những mục tiêu chính trị của họ, thì sẽ gây rắc rối cho chính quyền đang nhiệm. Mặt khác, các thế lực chính trị khác nhau, các phe phái chính trị trong một nước,có sự dính líu, thâm chí can thiệp của nước ngoài, đấu tranh giành quyền lực với nhau, thì đương nhiên là họ phải khôn khéo vận động, lôi kéo lực lượng XHDS đứng về phía họ, lôi kéo nhân dân lao động theo họ. Trong trường hợp này, rõ ràng ai có lý hơn, ai được nhân dân (XHDS) đồng tình hơn, người đó sẽ chiếm được ưu thế hơn (Đó là trường hợp của Đảng ta, của Hồ Chí Minh vận động đồng bào – XHDS - thắng lợi trước và trong Cách mang tháng 8, và cho đến ngày nay). Còn nếu chính quyền làm nhiều điều sai trái, dân kêu oan, góp ý nhiều, vẫn không khắc phục được, thì nhân dân dễ bị lực lượng đối lập lôi kéo một cách thắng lợi, để đứng về phía họ chống lại chính quyền (Đó là các trường hợp của các cuộc cách mạng mầu Đông Âu, và sự thất bại của Đảng Cộng hoà tại Mỹ vừa qua).Vậy, trừ trường hợp chưa hiểu nhau, chứ đã hiểu rồi mà chính quyền vẫn sợ XHDS (sợ Dân), thì chắc là chính quyền có vấn đề : Hoặc là chính mình sai, hoặc là không đủ bản lĩnh đấu tranh vạch mạch công khai đối với những thế lực tiêu cực hay phản quốc để tranh thủ lòng dân. Nên nhớ năm 1945 như vậy mà Chính phủ Cụ Hồ vẫn bầu cử tự do thật sự, không có « hiêp thương » gì trước cả, không có chuẩn bị của Chi uỷ, cấp uỷ, mà cách mạng vẫn thắng lợi ! Trở lại chuyện phe tiêu cực thắng lợi: Đương nhiên sau khi lực lượng chính trị đối lập tiêu cực dành được chính quyền rồi, họ có được nhân dân ủng hộ như trước hay không, đó lại là một chuyện khác.

5/ Yêu cầu đối với XHDS hiện đại : XHDS có nhược điểm là cũng có nhiều khu vực thiếu tổ chức chặt chẽ, nhận thức chính trị còn mơ hồ, do đó dễ bị lôi kéo, giao động, thậm chí hùa theo, hoặc bị mua chuộc bởi phe tiêu cực (theo quan điểm của nhân dân, của đất nước), chống lại phe tích cực, đáng được nhân dân ủng hộ. Đấy chính là yếu tố tạo « cảnh giác » có lý của các nhà nước XHCN chân chính. Nhà nước XHCN, trong điều kiện luật pháp chưa hoàn thiện, trình độ nhân dân đại trà chưa được nâng cao, đã rất có lý khi có mối quan tâm, thận trọng khi xây dựng XHDS hoàn chỉnh tại nước mình. Nhà nước chỉ thực sự « của dân, do dân, và vì dân » khi có thể chế, luật pháp tiến bộ , dân chỉ có thể « làm chủ » thật sự khi « dân trí » của đa số dân cư được nâng cao, biết tự giác và có đủ tri thức để làm chủ, không bị mua chuộc, huyền hoặc bới các lực lượng, các chiêu bài mị dân các kiểu, và khi mà đa số cán bộ nhà nước đã thực lòng thừa nhận một sự thật: mình không thể là quan cách mạng, mà chỉ là cán bộ do nhân dân tuyển chọn, trả lương để thay mặt họ quản lý xã hội cho nhân dân mà thôi, vì vậy phải tiến nhanh đến thời đoạn coi Dân là chủ thật sự.

6/ Cuối cùng, ngưòi ta thường bị ấn tượng nhiều về cái tên gọi. Nếu chúng ta gọi XHDS là các tổ chức quần chúng nhân dân, các tổ chức ngoài Đảng, thì có lẽ ta đã an tâm, vì lâu nay ta vẫn hiểu và vẫn sử dụng những cái tên gọi dài dài đó (mà vẫn chưa đủ nội dung). Nó tương tự như cái ấn tượng xuất hiện khi chúng ta bắt đầu dùng từ « cảnh sát » ; hoặc thay cụm từ « những người chưa có việc làm », bằng từ « lao động thất nghiệp » vậy ; Cũng như vấn đề cơ chế « thị trường » (nhưng ta không gọi là cơ chế « chợ » để thay cái tên mà tư bản vẫn gọi đi, nhưng sau một thời gian « dằn vặt », băn khoan, rồi theo đà tiến hóa nói chung, chúng ta cũng chấp nhận từ thất nghiệp, thị trường, cảnh sát .. .Đối với từ « XHDS » cũng vậy mà thôi. Nếu nhận thức và dũng cảm hơn, thì quá trình tiến bộ sẽ nhanh hơn

Kết luận

Theo quan điểm của riêng tôi, khi luật pháp ngày càng hoàn chỉnh, trình độ nhân dân ngày càng được nâng cao, thì đối lập, đối kháng giữa các bộ phận khác nhau của XHDS và của Chính quyền chỉ chủ yếu xuất hiện khi mà một trong hai bên đó vi phạm nặng nề pháp luật hoặc xâm hại quá đáng quyền lợi chính đáng của nhân dân. Đối với nước ta, trải qua bao năm trường chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, dưới sự lãnh đạo bằng đường lối tổng quát sáng suốt của Đảng Cộng sản VN, nhân dân ta thực sự đã có giác ngộ cao về chính trị, vì vậy chúng ta không cần quá « cảnh giác » như những năm vừa qua, vì điều đó chỉ có thể làm chậm bước tiến lên CNXH đích thực của Đất nước. Cũng như nên tránh cách hiểu sơ khai lâu nay về CNXH : những thất bại trong một số thử nghiệm xây dựng CNXH hiện thực ở một số nước, kể cả ở nước ta, không thể coi đấy là thất bại của CNXH đích thực. Nên hiểu rằng, CNXH là một định hướng phát triển tiến hoá cao đẹp của cả loài người, của XHDS từ mấy ngàn năm trước đây (còn Mác mới xuất hiện cách đây khoảng gần 200 năm, và chỉ đưa ra một công cụ lý luận và vài phương án (khác nhau theo thời gian) để nhằm đạt tới CNXH) ; nội dung CNXH đích thực được hình thành, bổ sung và được hoàn thiện dần dần qua thắng lợi và cả từ những thất bại của các thử nghiệm cụ thể bởi rất nhiều thế hệ, ở rất nhiều nước. Và hiên nay, với sự xuất hiện ngày càng rõ hình hài của một xã hội thực sự « lấy dân làm gốc », với sự giác ngộ ngaỳ càng cao của XHDS hiện đại trên thế giới, thì Nhân loại ngày càng rõ thêm được con đường đúng hơn để XHCN đích thực sớm xuất hiện đầy đủ trên Trái đất này. Với quan điểm lịch sử và bản chất của sự vật, có thể nói : XHDS ngay từ đầu đã mang trong mình mầm mống của CNXH đích thực, và CNXH đích thực chính là ước mơ mục tiêu từ ngàn đời nay của XHDS. XHDS sẽ sát cánh trợ lực cùng Nhà nước pháp quyền điều khiển có hiệu lực và hiệu quả cao con ngựa « Thị trường » để xây dựng thành công CNXH trên Trái đất này. Để thực sự hiểu và yên tâm mở đường cho XHDS phát triển, chúng ta nên nhận chân được những điều đó ./. Vũ Duy Phú (VIDS)


1
2
Tin mới
Liên kết website